Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 1993-2002, tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh tình hình tội phạm có tổ chức và tội phạm nguy hiểm với quy mô phức tạp. Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn này đã phải thụ lý và tuyên phạt hàng trăm bản án tử hình đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhằm bảo vệ trật tự an ninh xã hội. Trước đòi hỏi cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, Bộ luật Hình sự năm 1999 được ban hành thay thế cho Bộ luật Hình sự năm 1985 đã cắt giảm tỷ lệ các điều luật có quy định hình phạt tử hình từ 20,37% (44/216 điều) xuống còn 11,03% (29/263 điều). Vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, phân tích thực trạng lập pháp và thực tiễn xét xử, từ đó giải quyết các mâu thuẫn lý luận xoay quanh chế định tử hình tại Việt Nam.

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Trần Hữu Nam do Tiến sĩ Trịnh Hồng Dương hướng dẫn khoa học, bảo vệ tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2003, tập trung giải quyết các mục tiêu cụ thể: hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hình phạt tử hình, phân tích lịch sử lập pháp từ thời kỳ phong kiến đến hiện đại, đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng án tử hình tại Tòa án nhân dân các cấp trong phạm vi thời gian 10 năm từ năm 1993 đến năm 2002 và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp các cơ quan tư pháp chuẩn hóa quy trình lượng hình, hỗ trợ giảm thiểu nguy cơ sai sót tư pháp xuống mức 0% và định hình lộ trình lập pháp nhằm từng bước thu hẹp phạm vi áp dụng án tử hình theo xu thế nhân đạo hóa toàn cầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng của 3 lý thuyết hình sự và tư pháp học cơ bản: Thuyết trừng trị và phòng ngừa tội phạm của chủ nghĩa Mác - Lênin; Thuyết nhân đạo hóa tư pháp hình sự và bảo vệ quyền con người; cùng Thuyết phân hóa và cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mô hình nghiên cứu đặt hình phạt tử hình trong mối quan hệ đa chiều giữa tính răn đe nghiêm khắc nhất và yêu cầu tôn trọng quyền sống của con người theo các công ước quốc tế.

Nghiên cứu làm sáng tỏ 4 khái niệm pháp lý trọng tâm:

  1. Hình phạt (quy định tại Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999): Biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội do Tòa án quyết định.
  2. Hình phạt tử hình (quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 1999): Hình phạt đặc biệt tước bỏ quyền sống của người bị kết án, chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
  3. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Hành vi gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội với mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
  4. Cá thể hóa hình phạt: Việc Tòa án cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng đặc điểm nhân thân để quyết định loại và mức hình phạt phù hợp nhất.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ thời kỳ phong kiến (Bộ luật Hồng Đức năm 1483, Hoàng Việt luật lệ năm 1812) đến các Sắc lệnh sau năm 1945, Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999; cùng các số liệu thống kê xét xử, bản án có hiệu lực pháp luật từ năm 1993 đến năm 2002 do Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp.

Về phương pháp phân tích, tác giả vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp phân tích quy phạm, tổng hợp logic, thống kê xã hội học pháp luật và so sánh luật học đối chiếu với pháp luật hình sự của Liên bang Nga, Vương quốc Nhật Bản, Vương quốc Anh, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cỡ mẫu khảo sát thực tiễn bao gồm hơn 350 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm có tuyên phạt án tử hình cùng 10 báo cáo tổng kết ngành Tòa án thường niên trong giai đoạn 1993-2002. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được áp dụng nhằm tập trung phân tích sâu vào các nhóm tội có tần suất tuyên án tử hình cao nhất như tội giết người, tội phạm về ma túy, tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội tham nhũng. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này đảm bảo tính khách quan khoa học, giúp đánh giá chính xác biến động lập pháp giữa hai thời kỳ Bộ luật Hình sự năm 1985 và năm 1999.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu mang lại 4 phát hiện lập pháp và thực tiễn mang tính đột phá:

Thứ nhất, quy mô hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam đã được thu hẹp rõ rệt khi Bộ luật Hình sự năm 1999 cắt giảm 15 điều luật có hình phạt tử hình so với Bộ luật Hình sự năm 1985, đưa tỷ lệ điều luật quy định tử hình giảm từ 20,37% xuống còn 11,03% (giảm 34,1% về mặt quy mô điều luật).

Thứ hai, có sự tái cấu trúc căn bản trong hai nhóm tội danh trọng điểm: Chương Các tội xâm phạm an ninh quốc gia giảm 50% số điều luật có quy định tử hình (từ 14 điều thuộc 2 mục A và B trong luật cũ xuống còn 7 điều trong luật mới); Chương Các tội xâm phạm sở hữu giảm tới 77,8% số điều luật quy định tử hình (từ 9 điều trong Bộ luật Hình sự năm 1985 xuống chỉ còn 2 điều trong Bộ luật Hình sự năm 1999 là tội cướp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản).

Thứ ba, chính sách nhân đạo hình sự được mở rộng về phạm vi đối tượng được bảo vệ: Bộ luật Hình sự năm 1999 bổ sung quy định không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi (tăng thêm 24 tháng so với giới hạn 12 tháng tại Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 1985), đồng thời quy định chuyển hẳn hình phạt tử hình thành tù chung thân thay vì chỉ tạm hoãn thi hành như trước đây.

Thứ tư, quá trình lượng hình đã được định lượng hóa chi tiết: Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thiết lập ngưỡng giá trị tài sản bị chiếm đoạt để xem xét áp dụng tử hình từ 1,5 tỷ đồng đến 4,5 tỷ đồng; đồng thời mở ra cơ chế giảm án từ tử hình xuống tù chung thân hoặc tù có thời hạn nếu người phạm tội đã khắc phục bồi thường được từ 33,3% đến 50% giá trị tài sản chiếm đoạt.

Thảo luận kết quả

Sự chuyển dịch trong chính sách lập pháp xuất phát trực tiếp từ sự đổi mới thể chế kinh tế nhiều thành phần theo Hiến pháp năm 1992, xóa bỏ sự phân biệt bất bình đẳng giữa sở hữu xã hội chủ nghĩa và sở hữu tư nhân. Đồng thời, việc sửa đổi các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (từ 7 điểm lên 16 điểm cụ thể) đã tạo điều kiện tiên quyết cho việc cá thể hóa hình phạt chính xác trong thực tiễn xét xử.

So sánh với bức tranh toàn cầu, tính đến năm 1997 đã có 96 quốc gia và vùng lãnh thổ bãi bỏ hình phạt tử hình trên luật định hoặc trên thực tế (gồm 57 quốc gia bãi bỏ hoàn toàn, 15 quốc gia bãi bỏ đối với tội phạm thông thường và 24 quốc gia bãi bỏ trên thực tế). Các nước như Liên bang Nga chỉ quy định tử hình đối với 3 tội danh, Nhật Bản duy trì 13 điều luật (khoảng 4%), trong khi Trung Quốc duy trì 66 tội danh. Việc Việt Nam duy trì 29 tội danh có hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999 phản ánh tính phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống các loại tội phạm ma túy và tội phạm bạo lực nguy hiểm, nhưng vẫn khẳng định xu hướng thu hẹp dần diện áp dụng hình phạt này.

Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình cột so sánh tỷ lệ phần trăm điều luật có quy định án tử hình qua 4 lần sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 1985 (1989, 1991, 1992, 1997) với Bộ luật Hình sự năm 1999, cùng bảng ma trận đối chiếu cơ cấu tội danh tử hình giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện chế định hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Rà soát và bãi bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm kinh tế và phi bạo lực: Quốc hội phối hợp với Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao tiến hành rà soát để cắt giảm từ 30% đến 40% số tội danh có quy định tử hình trong các chương tội phạm về kinh tế, chức vụ và sở hữu trong lộ trình 3 đến 5 năm, thay thế bằng các chế tài phạt tiền và tịch thu tài sản nghiêm khắc.
  2. Xây dựng và bổ sung chế định hoãn thi hành án tử hình có thời hạn 2 năm: Tòa án nhân dân tối cao chủ trì nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp quốc tế để đưa vào Bộ luật Hình sự quy định cho phép người bị kết án tử hình được hoãn thi hành án trong 2 năm; nếu cải tạo tốt và lập công chuộc tội thì chuyển thành tù chung thân hoặc tù 20 năm, dự kiến tạo cơ hội hoàn lương cho khoảng 15% đến 20% tử tù có khả năng cải tạo trong giai đoạn 2005-2010.
  3. Chuẩn hóa quy trình xét xử và nâng cao năng lực đội ngũ tiến hành tố tụng: Học viện Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức đào tạo chuyên sâu định kỳ hàng năm cho 100% Thẩm phán và Kiểm sát viên tham gia giải quyết các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, nhằm triệt tiêu 100% sai sót nghiệp vụ và áp dụng triệt để các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
  4. Hiện đại hóa phương thức thi hành án tử hình: Bộ Công an phối hợp với Bộ Y tế nghiên cứu chuyển đổi phương thức thi hành án từ xử bắn sang tiêm thuốc độc nhằm đảm bảo tính nhân đạo và giảm bớt áp lực tâm lý cho cán bộ thi hành án, hoàn thành lắp đặt hệ thống cơ sở vật chất đạt chuẩn 100% tại các địa phương trong thời hạn 5 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng nghiệp vụ chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên: Nắm vững các tiêu chuẩn định tội danh, các tình tiết định khung tăng nặng và căn cứ miễn áp dụng án tử hình để đưa ra quyết định truy tố, xét xử chính xác, tránh oan sai và cá thể hóa hình phạt đúng người, đúng tội.
  2. Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý: Sử dụng các luận cứ khoa học về tình tiết giảm nhẹ, điều kiện miễn tử hình đối với phụ nữ nuôi con nhỏ và quy định khắc phục hậu quả từ 33,3% đến 50% theo Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP để xây dựng phương án bào chữa tối ưu cho thân chủ.
  3. Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên ngành Luật: Khai thác kho dữ liệu lịch sử lập pháp từ thế kỷ X đến năm 2003, làm tài liệu tham khảo giảng dạy môn Luật hình sự, Tố tụng hình sự và Tội phạm học.
  4. Cơ quan tham mưu lập pháp và chính sách tư pháp: Tiếp cận cơ sở lý luận và số liệu so sánh quốc tế để xây dựng các báo cáo đánh giá tác động, phục vụ trực tiếp cho các đợt sửa đổi Bộ luật Hình sự trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hình phạt tử hình giữ vị trí như thế nào trong hệ thống hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 1999? Hình phạt tử hình là hình phạt chính nghiêm khắc nhất được xếp ở vị trí cuối cùng trong thang 7 hình phạt chính tại Điều 28 và quy định nội dung cụ thể tại Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 1999, chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và xuất hiện ở 29 điều luật.

  2. Những đối tượng nào tuyệt đối không bị áp dụng và thi hành hình phạt tử hình? Theo Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 1999, không áp dụng tử hình đối với người chưa thành niên dưới 18 tuổi phạm tội, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử; trường hợp này án tử hình chuyển thành tù chung thân.

  3. Điểm khác biệt căn bản về diện áp dụng tử hình giữa Bộ luật Hình sự năm 1985 và năm 1999 là gì? Bộ luật Hình sự năm 1999 đã cắt giảm 15 điều luật quy định tử hình so với năm 1985 (hạ từ 44 điều xuống 29 điều), trong đó giảm 50% số tội danh ở nhóm an ninh quốc gia và giảm 77,8% ở nhóm xâm phạm sở hữu.

  4. Người phạm tội kinh tế, chức vụ có thể thoát án tử hình bằng biện pháp bồi thường không? Theo Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu chủ động bồi thường từ 33,3% đến trên 50% giá trị tài sản chiếm đoạt thì Tòa án có thể xem xét không xử phạt tử hình mà chuyển thành tù chung thân hoặc tù có thời hạn.

  5. Xu hướng lập pháp về hình phạt tử hình trên thế giới tác động như thế nào đến Việt Nam? Tính đến năm 1997, có 96 quốc gia bãi bỏ tử hình trên luật định hoặc thực tế. Việt Nam đã tiếp thu xu thế nhân đạo này bằng việc thu hẹp số lượng điều luật có hình phạt tử hình từ 20,37% xuống 11,03% mà vẫn đảm bảo hiệu quả trừng trị tội phạm nguy hiểm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và tiến trình phát triển của hình phạt tử hình trong lịch sử lập pháp Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 2003.
  • Làm rõ bước chuyển biến lớn của Bộ luật Hình sự năm 1999 khi cắt giảm số điều luật có quy định tử hình từ 44 điều xuống 29 điều (giảm 34,1%).
  • Đánh giá khách quan thực tiễn áp dụng án tử hình của Tòa án nhân dân các cấp trong 10 năm (1993-2002) gắn với yêu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự.
  • Khẳng định giá trị nhân văn vượt bậc trong việc mở rộng đối tượng không áp dụng án tử hình đối với phụ nữ nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.
  • Đề xuất hệ sinh thái 4 giải pháp đồng bộ về bãi bỏ tử hình ở tội phi bạo lực, bổ sung chế định hoãn thi hành án 2 năm và đổi mới phương thức thi hành án.

Công trình của tác giả Trần Hữu Nam là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho tiến trình cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo. Quý độc giả, cán bộ tư pháp và nhà nghiên cứu quan tâm nên khai thác toàn diện luận văn này để phục vụ công tác chuyên môn và học thuật.