Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TIỀN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA HÌNH PHẠT TIỀN 1. Khái niệm hình phạt tiền Trước khi tìm hiểu về hình phạt tiền, việc khái quát thế nào là hình phạt, cũng như đặc điểm và mục đích của nó là rất quan trọng. Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về hình phạt, nhìn chung, các quan điểm đó có thể được phân thành hai loại.
Loại thứ nhất coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội, lấy sự khắc nghiệt của hình phạt làm điều răn cho người phạm tội; còn loại quan điểm thứ hai coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục người phạm tội [11]. Ở Việt Nam, nhìn chung các quan điểm về hình phạt cơ bản là thống nhất, coi hình phạt là công cụ pháp lý để đấu tranh phòng chống tội phạm, cải tạo giáo dục người phạm tội, mặc dù trong mỗi quan điểm đó có những sự khác nhau nhất định, chẳng hạn như: Theo GS. Nguyễn Ngọc Hòa định nghĩa: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong Luật Hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [13]. Võ Khánh Vinh quan niệm: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất do luật quy định được Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án [39].
Uông Chu Lưu và TS. Nguyễn Đức Tuấn thì hình phạt được hiểu là "biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của Luật Hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm" [35]. Lê Cảm thì coi hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự. Theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật hình sự năm 1999, đưa ra khái niệm hình phạt: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định" [19]. Với khái niệm của Bộ luật hình sự thì hình phạt mang một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, bởi vì hình phạt tước bỏ người bị kết án những quyền và lợi ích thiết thân của họ. Đó là quyền chính trị, quyền kinh tế, quyền tự do, thậm chí cả quyền sống của người phạm tội. Mặt khác, hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án một hậu quả pháp lý đó là án tích trong một thời gian nhất định.
Do vậy, hình phạt hoàn toàn khác với những chế tài của ngành luật khác như bồi thường thiệt hại trong luật dân sự, phạt tiền trong luật hành chính,… Thứ hai, hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự ở phần chung và các phần các tội phạm cụ thể. Hình phạt được quy định cụ thể trong luật, các chủ thể không có quyền thỏa thuận các chế tài khác với quy định của luật như một số ngành luật khác, như trong luật dân sự có quy định trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba, hình phạt chỉ do Tòa án nhân danh nhà nước áp dụng trên cơ sở của bản án. Bản án của tòa án có thẩm quyền xét xử xác định hình phạt cụ thể đối với người phạm tội.
Thứ tư, hình phạt chỉ áp dụng đối với người có hành vi phạm tội. Để quyết định hình phạt đối với một người phải thông quá một quá trình tố tụng hình sự nghiêm ngặt, chỉ khi xác định được hành vi phạm tội của người đó thì tòa án có thẩm quyền mới áp dụng hình phạt tương ứng. Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 27 Bộ luật hình sự năm 1999).
Hiện nay, theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 thì hệ thống hình phạt có kết cấu bao gồm có hình phạt chính và hình phạt bổ sung (Điều 28). Trong đó, hình phạt chính gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình. Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung (Điều 28 Bộ luật hình sự).
Qua nghiên cứu hệ thống hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng của các Tòa án cho thấy hệ thống hình phạt đã đáp ứng được yêu cầu và tiêu chí khả thi trên thực tế, việc phân chia các hình phạt thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung đã tạo được khả năng áp dụng độc lập đối với các trường hợp phạm tội cụ thể một cách chính xác, chặt chẽ và việc kết hợp đó đã hỗ trợ, bổ sung cho nhau làm tăng thêm hiệu quả của hình phạt. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ luật hình sự hiện hành chỉ quy định về phạm vi, điều kiện, nguyên tắc áp dụng hình phạt tiền, còn khái niệm về hình phạt tiền thì Bộ luật vẫn còn bỏ ngỏ. Tại Điều 30 Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định về hình phạt tiền như sau: Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định.
Mức phạt tiền được quyết định tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng. Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định trong bản án. Tuy nhiên, trong nhiều tài liệu khoa học pháp lý hình sự, các nhà khoa học cũng đã đưa ra nhiều khái niệm về hình phạt tiền như: TS. Dương Tuyết Miên đã đưa ra khái niệm "Phạt tiền là hình phạt tước ở người phạm tội một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước, tác động đến tình trạng kinh tế, tài sản của người phạm tội qua đó tác động đến ý thức của người phạm tội" ThS.
Đinh Văn Quế lại đưa ra khái niệm: "Phạt tiền là tòa án buộc người phạm tội phải nộp một số tiền nhất định sung công quỹ nhà nước". Còn theo nghiên cứu của những nhà luật học trên thế giới, hình phạt tiền có tên gọi tiếng Pháp là "amende", tiếng Đức là "Geldstrafe", tiếng Anh là "Fine" và tiếng Ả Rập là "Diya" và nó thể hiện trong cái gọi là "Fridensgeld" hoặc "argent de la paix", nghĩa là số tiền nhất định mà người phạm tội phải nộp cho cộng đồng để thiết lập lại hòa bình thông qua quyết định tư pháp [28, tr. Tác giả cho rằng cả hai định nghĩa trên đã bao hàm tương đối đầy đủ xong nó chưa thể hiện được sự phân hóa của tội phạm và các điều kiện áp dụng. Vì vậy tác giả có thể đưa ra định nghĩa hình phạt tiền như sau: Phạt tiền là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung do Bộ luật hình sự quy định nhằm tước đi một khoản tiền của 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người bị kết án để sung quỹ nhà nước có căn cứ vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm đã thực hiện, tình hình tài sản, thu nhập của người bị kết án và sự biến động về giá cả.
Định nghĩa như trên đã phân biệt được hình phạt tiền trong luật hình sự với các luật khác, mặt khác nó khái quát, phân hóa được tính chất của tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng khi áp dụng mức phạt tiền. và thứ 3, nó thể hiện được khả năng áp dụng trên thực tế bằng điều kiện thi hành của người bị kết án. Đặc điểm hình phạt tiền Với cách hiểu hình phạt tiền như quy định của Bộ luật hình sự thì hình phạt tiền có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, hình phạt tiền là một loại hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự: Tòa án quyết định đối với người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội theo một trình tự riêng biệt. Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.
Chỉ có Tòa án mới có quyền nhân danh Nhà nước quyết định một người có phải chịu hình phạt hay không và nếu chịu thì loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng như thế nào. Vì vậy, hình phạt tiền với tư cách là một hình phạt trong hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự thì cũng phải do Tòa án áp dụng và theo một trình tự riêng biệt. Trình tự riêng biệt đó là trong quá trình xét xử và quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.