phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu về ổn định và hiệu quả giảm sóng tràn của khối phủ; Chƣơng 2: Nghiên cứu trên mô hình vật lý về ổn định thủy lực của khối phủ RAKUNA IV khi có sóng tràn; Chƣơng 3: Nghiên cứu sự ổn định và tính năng giảm sóng tràn của khối phủ RAKUNA IV; Chƣơng 4: Ứng dụng kết quả nghiên cứu thiết kế lớp phủ đê chắn sóng cảng Nghi Sơn - Thanh Hóa. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ỔN ĐỊNH VÀ HIỆU QUẢ GIẢM SÓNG TRÀN CỦA KHỐI PHỦ 1.1 Sơ lƣợc lịch sử phát triển và phân loại khối phủ 1.1 Sơ lược lịch sử phát triển khối phủ Trƣớc những năm 1950, khối phủ dùng cho đê chắn sóng đá đổ mái nghiêng là các khối đá hộc hoặc khối bê tông hình hộp. Các công trình bảo vệ cảng lúc đó thƣờng có mái dốc thoải, trọng lƣợng của khối phủ lớn và chúng ổn định đƣợc chủ yếu là nhờ trọng lƣợng bản thân, loại khối này có ƣu điểm là độ bền cao, giá thành rẻ, dễ chế tạo, lƣu trữ và thi công. Tuy nhiên, độ ổn định thủy lực của chúng thấp và thƣờng chỉ ứng dụng cho một loại hình công trình nhất định.
Các khối gần nhƣ đƣợc xếp thành lớp đặc cứng gây ra áp lực dƣ lỗ rỗng và có xu hƣớng bị nhấc ra khỏi vị trí ban đầu. Sau năm 1950, nhiều trung tâm thí nghiệm thủy lực trên thế giới đã nghiên cứu và sáng chế ra những loại khối phủ mới có hệ số ổn định cao cho đê chắn sóng đá đổ mái nghiêng nhằm giảm trọng lƣợng khối phủ và giá thành xây dựng. Sự ra đời của khối phủ Tetrapod (bởi SOGREAH) tại phòng thí nghiệm thủy lực Dauphinois ở Grenoble vào năm 1950 khởi đầu cho sự nghiên cứu và phát triển các dạng cấu kiện tiêu sóng mới ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ: Tribar (1958), Stabit (1961), Tripod (1962), Akmon (1962), Dolosse (1963), Anifer Cube (1973), Accropode (1981, SOGREAH), Core-loc (1994), X-block (2003), RAKUNA IV (2007),. Những dạng khối phủ này có tính năng phù hợp với những điều kiện sóng khác nhau, đáp ứng ngày càng tốt hơn những yêu cầu thực tế khó khăn và đa dạng của công tác xây dựng cảng nƣớc sâu và công trình bảo vệ bờ biển.
Quá trình phát triển các loại khối phủ đƣợc tóm tắt ở Bảng 1.1 Sơ lƣợc quá trình phát triển của các loại khối phủ 6 1.2 Phân loại khối phủ Khối phủ dị hình có thể đƣợc phân loại dựa vào hình dạng khối, cách xếp khối, số lớp và yếu tố ổn định. Phân loại loại khối phủ theo các tiêu chí này đƣợc thống kê ở Bảng 1.2 Phân loại khối phủ theo hình dạng, cách xếp, số lớp và yếu tố ổn định [13] Yếu tố ổn định Kiểu xếp Số lớp Hình dạng Tự trọng Liên kết Ma sát Lập phƣơng; Đơn giản Antifer; Lập phƣơng cải biên 02 Tetrapod; Akmon; Tribar; Tripod Phức tạp Xếp rối Stabit; Dolos A-Jack; Đơn giản Lập phƣơng Accropode; Core - 01 loc Phức tạp Accropode Seabee; Hollow Đơn giản Xếp đều 01 square; Phức tạp Cob; Shed - Theo hình dạng gồm khối thanh mảnh và khối rỗng. Với khối thanh mảnh, độ ổn định thủy lực chủ yếu là nhờ tính cài nối giữa chúng. Đối với loại khối rỗng thì ổn định thủy lực chủ yếu nhờ vào trọng lƣợng bản thân của khối.
- Theo cách xếp: khối phủ có thể đƣợc xếp rối hoặc xếp đều. Xếp rối dùng cho các khối lớn để đảm bảo đƣợc độ rỗng giữa các lớp, dễ thi công do không phải định vị chính xác vị trí từng khối. Xếp đều dùng cho các khối có hình dạng đơn giản. - Theo số lớp: khối phủ có thể đƣợc xếp 01 lớp hoặc 02 lớp.
Van der Meer (1988) [34] dựa trên các kết quả thí nghiệm mô hình tỉ lệ nhỏ đã so sánh đặc tính ổn định của khối phủ 01 lớp và 02 lớp. Với khối phủ 01 lớp có ổn định ban đầu cao nhƣng một khi xuất hiện hƣ hỏng thì hƣ hỏng lại phát triển rất nhanh theo kiểu lan truyền do không có tính tự hàn gắn (phá hoại giòn). Ngƣợc lại, với khối phủ 02 lớp mặc dù ổn định ban đầu thấp nhƣng khoảng cách từ lúc bắt đầu hƣ hỏng đến lúc hƣ hỏng khá xa bởi có tính tự hàn gắn cao. Do vậy, có thể nói khối phủ 02 lớp có đặc tính làm việc đem lại sự an toàn cao hơn cho công trình.
Trong thực tế, khối phủ 01 lớp tiết kiệm bê tông hơn 7 nhƣng lại tốn nhiều đá hơn thậm chí khối lƣợng viên đá cần phải lớn hơn nhiều. Do vậy, khi nguồn cung cấp đá bị hạn chế thì việc sử dụng khối phủ 02 lớp vẫn chiếm ƣu thế. Ngoài ra, đê chắn sóng với khối phủ 01 lớp không cho phép sóng tràn qua. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả chủ yếu đề cập đến đặc tính ổn định của khối phủ 02 lớp.2 Ứng dụng khối phủ dị hình ở Việt Nam Phần lớn các cảng nƣớc sâu và cảng đảo nằm xa đất liền ở nƣớc ta đều có hệ thống đê chắn sóng bảo vệ khu nƣớc bên trong nhƣ cảng Nghi Sơn; Cửa Lò; Vũng Áng; Tiên Sa; Dung Quất.
Một số công trình đê chắn sóng tiêu biểu với những thông số kết cấu chính đƣợc thể hiện trong bảng 1.3 Một số thông số chính về đê chắn sóng của một số cảng biển tiêu biểu Thông số Sóng thiết kế Chiều Cảng Cao trình cao đê Dạng kết cấu Chiều cao Chu kì đỉnh đê (m) trung Hs (m) Tp(s) bình (m) Lạch Huyện 5,8-9,6 13,3 +2.0; +6,5 Mái nghiêng - Tetrapod (4,4 ÷ 13)T 6,0; 6,5 Nghi Sơn 6,5-7,8 10,1 +6,0; +9,0 Mái nghiêng - Tetrapod (11 ÷ 15)T 9,0 Của Lò 7,0-8,0 9,5 +3,0 Mái nghiêng - Tetrapod 7T 6,0 Vũng Áng 5,0-6,0 8 +8,5 Mái nghiêng - Tetrapod (11 ÷ 31)T 20,0 Thuận An 6,9 8,4 +1,0; +2,7 Mái nghiêng - Tetrapod 20T; Haro 6,4T 6÷7 Chân Mây 7,2 9,5-12 +7,0 Mái nghiêng-Accropode (11 ÷ 40)T 20,0 Mái nghiêng - Tetrapod (16 ÷ 25)T Tiên Sa 6,0-7,5 10,1 +5,2; +6,2 16,0 Thùng chìm - (20x18 x10,5)m Dung Quất 9,86 9,32 +8,0; +10,0 Mái nghiêng - Accropode (4,6 ÷ 27,6)T 24,0 Vĩnh Tân 6,0-7,2 10,2 +6,8 Mái nghiêng - Tetrapod (5,0 ÷9,7)T 14,0 Bình Thuận 5,5-7,0 9,8 +7,0 Mái nghiêng - Accropode 36T 20,0 Nguồn: Tổng công ty Tư vấn Thiết kế Giao thông Vận tải TEDI.3 cho thấy phần lớn khối phủ sử dụng ở nƣớc ta là loại khối phủ Tetrapod có trọng lƣợng từ 4 đến 31 tấn hoặc đƣợc sử dụng kết hợp với một số loại khối phủ khác nhƣ Haro (đê chắn sóng Thuận An); thùng chìm (đê chắn sóng Tiên Sa). Đây là loại khối phủ truyền thống, có tính ổn định thấp nhƣng vẫn đƣợc sử dụng rộng rãi trong thiết kế và thi công các công trình đê chắn sóng bởi ƣu điểm cơ bản là dễ chế tạo và không mất phí tác quyền (Hình 1. Chỉ có 03 công trình đã sử dụng cấu kiện Accropode bảo vệ mái cho đê chắn sóng đó là: Cảng Chân Mây – Thừa Thiên Huế, cảng Dung Quất – Quảng Ngãi, cảng Kê Gà – Bình Thuận (Hình 1.1 Đê chắn sóng ở Cô Tô – Quảng Ninh Hình 1.2 Đê chắn sóng Tiên Sa-Đà Nẵng [Nguồn: Internet] [Nguồn: Internet] Hình 1.3 Khối phủ Accropod đƣợc sử dụng tại Đê chắn sóng cảng Dung Quất - Quảng Ngãi [Nguồn: Internet] 1.3 Tổng quan nghiên cứu ổn định thủy lực của khối phủ Iribarren (1938) đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu ổn định thủy lực của khối phủ trên mái dốc từ sự cân bằng đơn giản giữa các lực tác dụng [13].1) Dn 9 Với là góc nội ma sát của lớp phủ, α là góc nghiêng của mái dốc, và K là hệ số phụ thuộc chủ yếu vào hình dạng của khối phủ và mức độ hƣ hỏng, H là chiều cao sóng. Kể từ đó, hàng loạt các nghiên cứu về ổn định của khối phủ trên đê mái nghiêng phát triển và cho ra các công thức khác nhau nhƣ: Tyrel (1949), Mathews (1951), Rodolf (1951), Iribarren và Nogales (1950), Larras (1952), Hedar (1953).
Xuất phát từ nghiên cứu của Iribarren, Hudson (1959) đƣa ra công thức tính toán ổn định cho viên đá dƣới tác động của sóng đều, trong đó ổn định của viên đá đƣợc miêu tả thông qua một hệ số ổn định KD (gọi là hệ số Hudson) [13]: s H 3 W 3 (1.2) K D s 1 cot w SPM (1977) [31] đã mở rộng công thức Hudson thành dạng tổng quát áp dụng cho khối phủ nói chung (đá và khối bê tông dị hình) với sóng ngẫu nhiên, trong đó kích thƣớc của khối phủ đƣợc biểu thị thông qua một đại lƣợng đó là đƣờng kính danh nghĩa Dn.3) Dn Trong đó: Ns - Chỉ số ổn định (-); H1/3 - Chiều cao sóng ý nghĩa (m); D - Khối lƣợng riêng tƣơng đối (-); Dn - Đƣờng kính danh nghĩa của khối phủ (m); α - Góc nghiêng của mái dốc (o); KD - Hệ số ổn định Hudson đã đƣợc thống kê cho nhiều loại khối phủ bê tông dị hình khác nhau (Bảng 1.4 Hệ số ổn định KD (SPM-1977) [31] Thân đê Đầu đê Khối phủ Số lớp KD KD Sóng vỡ không vỡ Sóng vỡ không vỡ Đá góc cạnh 1 ** 2,9 ** 2,3 Đá góc cạnh 2 3,5 4,0 2,5* 2,8* Đá góc cạnh 3 3,9 4,5 3,7* 4,2* Tetrapod 2 7,2 8,3 5,5* 6,1* Dolos 2 22,0 25,0 15,0 16,5* Cube 2 6,8 7,8 - 5,0 ** không nên dùng * giá trị có thay đổi theo độ dốc mái đê 10 Nhằm nâng cao mức độ an toàn cho công trình, SPM (1984) [32] đã đề xuất lấy chiều cao sóng tính toán trong công thức Hudson là H1/10 thay cho H1/3. Hệ số ổn định Hudson KD theo đó mà cũng đƣợc cập nhật lại (Bảng 1.5 Hệ số ổn định KD (SPM-1984) [32] Thân đê Đầu đê Khối phủ Số lớp KD KD Sóng vỡ Không vỡ Sóng vỡ không vỡ Đá góc cạnh 1 ** 2,9 ** 2,2 Đá góc cạnh 2 2,0 4,0 1,6* 2,8* Đá góc cạnh 3 2,2 4,5 2,1* 4,2* Tetrapod 2 7,0 8,0 4,5* 5,5* Dolos 2 15,8 31,8 8,0 16,0* Cube 2 6,5 7,5 - 5,0 Akmon 2 8 9 - - Accropode 1 12 15 - - ** không nên dùng * giá trị có thay đổi theo độ dốc mái đê Ƣu điểm của công thức Hudson là đơn giản, dễ sử dụng nhƣng chƣa đề cập đến độ thấm của lõi đê, chu kì sóng, thời gian bão.Để khắc phục nhƣợc điểm của Hudson, Van der Meer (1988) [33][34][35] [36] đã tiến hành thí nghiệm với sóng ngẫu nhiên và đề xuất công thức thực nghiệm tính ổn định cho đá và một số loại khối phủ dị hình có kể đến chu kì sóng, tính thấm và thời gian bão (Bảng 1.