MỞ ĐẦU Trong môi trường không có tính xâm thực kết cấu bê tông có thể làm việc bền vững trên 100 năm. Trong môi trường xâm thực vùng biển hiện tượng ăn mòn các kết cấu bê tông dẫn đến làm nứt vỡ và phá hủy kết cấu bê tông có thể xuất hiện sau 10, 30 năm sử dụng, đồng thời với tác động cơ học của dòng chảy và sóng bào mòn làm cho công trình có độ bền (tuổi thọ) thực tế thấp hơn nhiều so với các công trình tương tự làm việc trong môi trường là sông. Tỉnh Nam Định có bờ biển dài 72 km đi qua ba huyện: Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Đến nay, toàn tỉnh đã kiên cố hóa được 62,1 km đê và 48,6 km kè ở những nơi xung yếu nhất tại cả 3 huyện.
Việc kiên cố hóa hiện nay đang được triển khai áp dụng là xây dựng hệ thống đê vững chắc mà vật liệu sử dụng chính là các cấu kiện bê tông và bê tông cốt thép được đúc thành khối và lát phía thượng lưu để đảm bảo ổn định cho thân đê. Các cấu kiện bê tông này đều dùng bê tông xi măng thông thường trong xây dựng hiện nay như: XM PC30, Bỉm Sơn, Bút Sơn, Nghi Sơn., mà không dùng loại xi măng bền sunphat (loại xi măng thích ứng tốt với môi trường nước mặn). Hình ảnh chụp tại hiện trường ở dưới cho thấy, những cấu kiện chịu tác động trực tiếp của dòng chảy và sóng đánh đã bị bào mòn bề mặt ở mức độ nghiêm trọng. Những cấu kiện này hiện đang được sản xuất theo kiểu bê tông truyền thống tức là với 4 thành phần xi măng, nước, cát và đá được tính toán tỷ lệ phối hợp sao cho chỉ cần thỏa mãn yêu cầu mác thiết kế đề ra.
Sản phẩm bê tông như vậy thực tế khi được đặt lát ở các mái đê biển phải chịu tác động của nước biển với lượng muối đáng kể cùng với tác động cơ học bào mòn của dòng chảy và sóng bị phá hoại với tốc độ rất nhanh. 2 Hình ảnh các cấu kiện bê tông bị ăn mòn đê biển Hải Hậu Để xử lý các cấu kiện đã bị ăn mòn và mài mòn như vậy sẽ có 2 cách: - Cách thứ nhất: Gỡ bỏ và thay thế bằng các cấu kiện đúc mới để tiếp tục giữ vai trò bảo vệ thân đê. - Cách thứ hai: Nghiên cứu sử dụng vật liệu sửa chữa phủ lên trên bề mặt cấu kiện đã bị ăn mòn và bào mòn để tái tạo lại kết cấu có hình dạng kích thước như ban đầu. Với cách làm thứ nhất có thể nhận thấy hạn chế là chi phí cho việc gỡ bỏ và thay thế các cấu kiện mới sẽ làm cho tổng chi phí cho việc sửa chữa rất cao.
Nếu theo hướng thứ hai thì khối lượng công việc sẽ ít hơn và khối lượng vật liệu cần chuẩn bị cũng ít hơn. Vấn đề kỹ thuật cần được giải quyết ở đây là phải tìm ra một vật liệu mới có khả năng bền với các tác động hóa học, cơ học và có khả năng dính kết tốt với các khối đổ cũ đã bị phá hoại ăn mòn và bào mòn. Ngoài ra sau khi thi công vật liệu liên kết mới để bù phần vật liệu đã bị phá hoại có thể dùng thêm một loại vât liệu phủ bề mặt sao cho có khả năng ngăn cản nước thâm nhập sâu vào bên trong khối đổ thì kết cấu sẽ có khả năng duy trì độ bền và kéo dài tuổi thọ công trình đáng kể. Như vậy trên cơ sơ các nghiên cứu khoa học và khảo sát hiện trường thì việc “Nghiên cứu công nghệ vật liệu mới để sửa chữa các cấu kiện bê tông bảo vệ mái áp dụng cho đê biển tỉnh Nam Định” có tính khả thi và cần thiết.
3 Mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài: a) Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài: Mục tiêu: bảo vệ và sửa chữa các cấu kiện bê tông bảo vệ mái đê biển tỉnh Nam Định. Nhiệm vụ: Lựa chọn các vật liệu và phụ gia sẵn có để thiết kế thành phần cấp phối của vữa sửa chữa để phủ lên các cấu kiện đã bị hư hỏng bằng công nghệ mới sao cho đạt hiệu quả nhất. b) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vật liệu mới để sửa chữa các cấu kiện bị ăn mòn. Phạm vi nghiên cứu: Mái đê biển huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định.
c) Nội dung nghiên cứu: - Nghiên cứu vật liệu đầu vào và các tính chất cơ lý của nó - Nghiên cứu vữa đã lựa chọn có phù hợp không, có đạt các chỉ tiêu trên không. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết Phương pháp nghiên cứu bằng thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. HIỆN TRẠNG CỦA ĐÊ BIỂN NAM ĐỊNH 1. Đặc điểm địa lí và điều kiện tự nhiên tỉnh Nam Định [3]: 1.
Vị trí địa lý: Nam Định nằm ở phía Đông Nam đồng bằng Bắc Bộ trong khoảng 19,90 ÷ 20,50 độ vĩ Bắc 105,90 ÷ 106,50 độ kinh đông, tiếp giáp 3 tỉnh: Hà Nam, Thái Bình và Ninh Bình. Phía Đông Nam tỉnh Nam Định tiếp giáp với biển Đông với dải bờ biển dài 72 km thuộc địa giới hành chính của 3 huyện: Hải Hậu, Giao Thuỷ và Nghĩa Hưng. Diện tích của 3 huyện ven biển hơn 720 km2 chiếm xấp xỉ 44% diện tích tự nhiên của tỉnh.1: Bản đồ tỉnh Nam Định 1. Đặc điểm địa hình.
Tỉnh Nam Định có tổng diện tích đất đai tự nhiên là 1678km2(167800 ha), trong đó có 105950ha là đất nông nghiệp. Địa hình nhìn chung bằng phẳng thoải dần từ Bắc xuống Nam và dần ra biển tuy có xen kẽ một số vùng trũng thấp song có thể phân làm 3 vùng địa hình tự nhiên: - Vùng chiêm trũng (Bắc sông Đào) gồm huyện: Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và các xã, phường phía Bắc thành phố Nam Định. 5 - Vùng đồng bằng và đồng bằng ven biển nằm phía Nam sông Đào gồm các huyện: Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng. - Vùng bãi bồi ven biển tập trung ở cửa sông Hồng (bãi Cồn Ngạn, Cồn Lu) thuộc huyện Giao Thủy cửa sông Ninh Cơ; cửa sông Đáy (Đông Tây Nam Điền Cồn Xanh) thuộc huyện Nghĩa Hưng.
Cao trình đất tự nhiên phổ biến từ (+0.90), những khu vực cao có cao trình từ (+2.50) và những khu vực thấp có cao trình từ (+0. Ở khu vực Hải Hậu thềm lục địa tương đối dốc hơn bãi biển có độ dốc bình quân từ 1 ÷ 2% trong phạm vi 200m từ chân đê sau đó thoải dần các đường đồng mức chạy song song với bờ biển. Bờ biển Nam Định kéo dài từ cửa Ba Lạt sông Hồng đến cửa Đáy sông Đáy là một dải bờ biển phẳng, địa hình thềm lục địa tương đối đơn giản với các dạng tích tụ liền châu thổ thoải dần từ bờ ra khơi. Nhìn chung bãi biển tỉnh Nam Định hẹp và thấp không có vật cản che chắn (trừ 2 bãi bồi Cồn Lu, Cồn Ngạn của huyện Giao Thuỷ; Cồn Xanh, Cồn Mờ của huyện Nghĩa Hưng).
Chiều rộng bãi trung bình từ (100 ÷ 150 mét), có nơi không có bãi biển, biển tiến sát chân đê (Hải Lý, Hải Triều. Cao độ trung bình (0.50) cá biệt có nơi cao trình bãi dưới (-1. Tuyến cây chắn sóng ngoài bãi : Trừ 2 khu vực Cồn Ngạn, Cồn Xanh dọc tuyến đê biển đã được trồng các loại cây chắn sóng, cản gió như: cây Sú, Vẹt và Phi lao. hiện tại, tỉ lệ sống, mật độ cây và độ che phủ ngăn cản gió cát còn rất thấp chưa có tác dụng chống xói lở giữ đất cát dưới chân đê.
Đặc điểm khí tượng - khí hậu. Nhiệt độ: Do điều kiện địa hình sự phân bố nhiệt độ trên toàn vùng hầu như không khác nhau rõ rệt. Nhiệt độ trung bình nhiều năm trong khu vực biến đổi từ 25 6 ÷ 260C, thường thấp hơn so với khu vực đồng bằng sâu trong đất liền do ảnh hưởng của biển.1: Thống kê nhiệt độ trung bình tháng trạm Văn Lý Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Văn Lý 14,6 16,7 19,0 22,8 27,1 28,8 29,4 28,7 27,6 25,0 21,8 18,5 1. Độ ẩm: Độ ẩm tương đối bình quân năm khoảng 85%.
Các tháng có độ ẩm tương đối bình quân lớn nhất là tháng: 2; 3 và 4 (89 - 92%) vào giữa mùa mưa. Các tháng có độ ẩm tương đối bình quân nhỏ nhất là tháng: 10; 11 và 12 (71 - 81%) đầu mùa khô. Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nắng, gió, nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm. Theo tài liệu thống kê cho thấy, lượng bốc hơi bình quân năm trong khu vực biến đổi trong khoảng 900 – 1000mm.2: Thống kê lượng bốc hơi trung bình tháng Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Văn Lý 59,2 38,9 35,8 47,2 93,0 111 125 99,7 92,6 101,9 92,0 76,7 1.
Gió: Nam Định nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Về mùa đông chịu ảnh hưởng của hệ thống gió mùa Đông Bắc với các hướng gió thịnh hành là Bắc Đông Bắc và Đông. Về mùa hè chịu ảnh hưởng của hệ thống gió mùa Tây Nam với các hướng gió thịnh hành là Nam và Đông Nam. Giữa hai mùa chính có 2 mùa chuyển tiếp với hướng gió tranh chấp giữa 2 hướng gió thịnh hành.
Thời kỳ gió mùa Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 12, hướng gió Bắc thịnh hành hơn cả và tần suất dao động từ 198 ÷ 297% từ tháng 1 đến tháng 7 4, hướng gió Đông Bắc thịnh hành hơn cả và tần suất dao động từ 252÷419%. Gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 5 đến tháng 8 với hướng gió Nam thịnh hành hơn cả, với tần suất từ 195 ÷ 359%.3: Thống kê hướng và tốc độ gió lớn nhất trạm Văn Lư Yếu tố I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Hướng NH E NH S SE NW E NW NH NH NH NE Giỏ trị 18 18 18 18 40 25 >40 45 48 40 20 20 Ngày- 12- 29- 14- 18- 13- 12- NN 23-II NN 9-IX 1-X NN tháng IV V VI VII VIII XII Năm 1966 1981 1973 1974 1971 1968 1963 1963 1972 1. Mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình năm biến đổi trong khoảng 1700 đến 1800mm. Phân bố mưa các tháng không đều nhau 85% lượng mưa xảy ra vào mùa mưa.
Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất đạt vào tháng 9 với lượng mưa biến đổi từ 350 – 400mm.