mở đầu các nghiên cứu về chọn giống keo kháng bệnh nước ta. Bước đầu đã tìm hiểu được các loài nấm hại điều tra đánh giá mức độ nhiễm bệnh và ảnh hưởng của loài cũng như xuất xứ cũng như hộ gia đình có nấm bị hại. Các kết quả đầu tư của dự án n 7 được báo cáo tại hội thảo dự án bệnh keo được tổ chức vào tháng 11 năm 2000 tại Thành Phố Hồ Chí Minh (Hà Huy Thịnh, 2006) [6]. Mùa xuân năm 1990 các xuất xứ Keo tai tượng và Keo lá tràm gieo tại vườn ươm Chèm, Từ Liêm, Hà Nội dã bị bệnh phấn trắng với các mức độ khác nhau.
Nhìn bề ngoài lá keo như bị rắc một lớp phấn trắng hay vôi bột. Mức độ bệnh đã được đánh giá qua quan sát bằng mắt thường và được xếp theo thứ tự nặng hay nhẹ. Nhìn chung bệnh chưa gây ra ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng của cây con tại vườn ươm và khi đó cũng không có điều kiện để tìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc bệnh và các vấn đề có liên quan (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1992) [4]. Một vài năm trở lại đây diện tích gây trồng keo đã tăng lên đáng kể (gần 230.000 ha vào cuối năm 1999) thì cũng đã xuất hiện rừng trồng.
Tại Bầu Bàng Bình Dương một số dòng Keo lai đã mắc bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỉ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh khá cao gây thiệt hại cho sản xuất. tại Kom Tum năm 2001 có khoảng 1.000 ha rừng keo lai 2 tuổi bị mắc bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn. Tỷ lệ nặng nhất là ở Ngọc Tú, Ngọc hồi (Kom Tum) lên đến 90% số cây bị chết ngọn. Ngiên cứu về nấm gây bệnh Ceratocystis sp.
Ở nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho nhiều loài nấm phát triển đặc biệt là Ceratocystis sp. đã bắt đầu xuất hiện trên cây keo tại một số nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh. Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, xì nhựa mủ ở vỏ, toàn bộ những cây bị nhiễm bệnh chỉ sau một thời gian ngắn là chết ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rừng trồng keo. n 8 Theo những nghiên cứu gần đây nấm Ceratocystis sp.
gây bệnh chết héo các loài keo (Acacia spp.), phát sinh dịch hại ở hầu khắp các khu vực trồng keo trong cả nước. Tác giả đã phân lập được 26 chủng nấm gây bệnh chết héo tại các rừng trồng keo trên cả nước, bước đầu xác định là nấm Ceratocystis sp. (Phạm Quang Thu et al. Theo kết quả điều tra bệnh hại rừng trồng mới được thực hiện năm 2010 và năm 2011 tại Thừa Thiên Huế cho thấy trên các diện tích rừng trồng Keo tai tượng, Keo lá tràm và Keo lai ở một số địa phương của Tỉnh đã xuất hiện hiện tượng cây keo chết héo với tỷ lệ 5 - 7%.
Bệnh hại keo ở Thừa Thiên Huế được xác định là một loài nấm thuộc chi Ceratocystis sp. Các loài nấm thuộc chi này không phải mới xuất hiện ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu trước đây đã ghi nhận loài. Nấm Ceratocystis fimbriata gây bệnh thối mốc mặt cạo cây Cao su. Nấm Ceratocystis fimbriata cũng được ghi nhận gây hại trên cây Cacao gây nên bệnh héo rũ và được mô tả bệnh thường đi kèm với cây bị mọt đục thân hoặc cành, lúc đầu có một số cành bị héo lá ngả sang màu nâu sau đó toàn bộ cây bị héo và chết.
Một số nghiên cứu khác cũng phát hiện nấm gây bệnh thối đen quả Dứa và gây thối quả Thanh long do nấm Ceratocystis paradoxa (Phạm Quang Thu và cộng sự, 2011) [11]. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia rồi đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới. Từ những năm 1980, các lô hạt giống thu hái ở vùng nguyên sản đã được gửi tới 90 nước trên thế giới.
Trong đó Philippin, Malaysia, Thái lan, Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh, Fiji, Trung Quốc và Việt Nam. Chúng có sức sinh trưởng nhanh, trên điều kiện lập địa ở Sabah - Malaysia sau 10 - 13 năm cây đạt chiều cao 20 - 25 m và đường kính 20 - 30 n 9 cm, tăng trưởng bình quân ở đây là 44 m3/ha/năm và cũng ở Sabah trong một khảo nghiệm ở tuổi 4, xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao 20,17 m và đường kính 14,4 cm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [5]. Keo tai tượng được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm 1960, tới năm 1997 có khoảng 200.000 ha keo được trồng ở phía Nam Trung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam, tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20. Cho đến năm 2008 có 179 xuất xứ và 469 gia đình thuộc 21 loài keo được khảo nghiệm ở miền Nam Trung Quốc với tổng diện tích là 130 ha, Keo tai tượng là một trong ba loài keo đã được đưa vào trồng rừng trên diện rộng nhằm cung cấp gỗ.
Dựa vào sinh trưởng và dạng thân chọn được các xuất xứ có triển vọng là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld), Oriomo (PNG). Trung Quốc đã xây dựng được 40 ha rừng giống, vườn giống tại Quảng Đông và Hải Nam, bao gồm cả vườn giống thế hệ 1 và 1,5. Theo ước tính, các rừng giống và vườn giống này có thể cung cấp khoảng 1.000 kg hạt giống/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [5]. Keo được đưa vào khảo nghiệm và gây trồng ở Philipin từ những năm 1980.
Trong đó Keo tai tượng được đánh giá là rất có triển vọng, năng suất của rừng trồng 10 tuổi đạt tới 32 m3/ha/năm ở Tal ogon. Qua khảo nghiệm đã xác định được 4 xuất xứ tốt nhất là Kini, Bensbach, Wipim (PNG), Claudie River (Qld) (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [5]. Tính đến cuối năm 1990, diện tích rừng trồng Keo tai tượng ở Sabah - Malaysia khoảng 14. Kết quả khảo nghiệm xuất xứ 6 tuổi cho thấy 3 xuất xứ có triển vọng là Western Province (PNG), Claudie River (Qld) với D1.3 = 19,1 cm và Olive River (Qld) với giá trị tương ứng là 18,7 cm.
Còn ở khảo nghiệm xuất xứ 5 tuổi xác định được 3 xuất xứ tốt nhất là Broken Pole Creke (Qld), Abergowrie (Qld), và Olive River (Qld). n 10 Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000ha rừng trồng các loài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15 - 16%. Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5 m/năm trong 2,5 năm đầu. Việc trồng Keo tai tượng trên quy mô công nghiệp đã được triển khai ở Indonesia từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000 ha rừng trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ (Werren và cộng sự, 1991) [23].
Cây Keo tai tượng cũng như các loài cây đang là cây trồng chủ lực của nhiều vùng lãnh thổ và các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, trồng rừng sản xuất bằng các loài keo giúp phát triển kinh tế nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, cải thiện môi trường và đem lại nhiều lợi ích cho phát triển các ngành công nghiệp gỗ. Nghiên cứu về bệnh hại Keo Tình hình nghiên cứu chung: Bệnh cây rừng đã được nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học có nhiều cống hiến cho công tác nghiên cứu, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn. Những năm 50 của thập kỉ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập chung vào xác định loài mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển bệnh. Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, Roger L (1953) [18] đã nguyên cứu các loài bệnh hại cây rừng dưới mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des Pays Chauds) trong đó có một số loại bệnh hại lá của Thông, Keo, Bạch Đàn.
John Boyce (1961) [12] xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest Pathologhy) đã mô tả một số bệnh hại cây rừng. Cuốn sách này được xuất bản nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada. Nghiên cứu về bệnh hại keo theo Roger L (1954) [18] đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây keo. Cây keo bị khô héo làm lá rụng và tàn lụi từ n 11 trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerella cingulata (Giai đoạn vô tính là Collectotrichum gloeosporioides) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài Keo tai tượng (Acacia mangium) trong vườn giống ở Papua New Guinea (Roger L, 1954) [18].
Tại Malaysia theo nghiên cứu của Lee (1993) [14] loài nấm này còn gây hại với các loài keo khác. Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng công bố nhiều loại bệnh hại keo. Trong thời gian 1995 - 1996, các cuộc điều tra các bệnh của bốn loài keo được thực hiên ở miền bắc Australia và một số nước Đông Nam Á được hỗ trợ kinh phí của Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp Quốc Tế Australia (ACIAR) và Trung tâm Lâm nghiệp Quốc Tế (CIFOR). Các cuộc điều tra bởi nhà bệnh lí học rừng được thực hiện trong các khu bản địa, thử nghiệm tại các đồn điền Công nghiệp và Lâm nghiệp xã hội của cây keo nhiệt đới ở Úc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Thái Lan.
Các mục tiêu để đánh giá tiềm năng của nấm gây bệnh như hạn chế các yếu tố tác động tới sự tăng trưởng và tăng năng suất của cây, và để so sánh tầm quan trọng tương đối của các tác nhân gây bệnh nấm. Kết quả này được công bố tai một hội thảo tổ chức tại Subanjeriji ở Sumatra năm 1996, cung cấp một số chuẩn mực của kiến thức hiện tại của các bệnh lý rừng trồng keo ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á (Roge L. Năm 1961 - 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng ngưỡi Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại keo (John Boyce, 1961) [12]. Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn phát triển và nghiên cứu các loài Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964, nhiều đại biểu kể cả các tổ chức quốc tế như CIFOR cũng đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài keo (Acacia) (Roger L,1953) [18].
(Ấn Độ) đã xem xét nghiên cứu vùng trồng Keo lá tràm ở Kalyani Nadia và đã phát hiện nấm bồ hóng Oidium sp. gây hại trên cây non từ 1 - 15 tuổi.J và n 12 đồng nghiệp ở Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerela Ấn Độ đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor gây hại trên vùng trồng A. auricuformis bang Kerela, tỷ cây chết khoảng 10%.