Luận văn nghiên cứu khả năng kháng nấm ceratocystis sp gây bệnh chết héo keo tai tượng tại vườm ươm bằng thuốc hóa học

Chuyên khảo Hiệu quả thuốc hóa học kháng nấm ceratocystis sp gây bệnh chết héo keo phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

52
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.1.1. Mục tiêu chung

1.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.1.3. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.1. Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng

2.2.2. Nghiên cứu về bệnh hại keo

2.2.3. Nghiên cứu về nấm gây bệnh Ceratocystis sp.

2.3. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.3.1. Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vị trí nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Vị trí nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc hóa học trong phòng thí nghiệm

4.2. Khả năng kháng nấm khi gây bệnh trên lá Keo tai tượng sau khi đã áp dụng các loại thuốc hóa học

4.2.1. Xử lý bằng thuốc cùng thời điểm gây bệnh nhân tạo

4.2.2. Xử lý bằng thuốc sau khi gây bệnh nhân tạo

4.3. Đánh giá khả năng kháng nấm gây bệnh trên cây của cây Keo tai tượng 1 năm tuổi tại vườn ươm sau khi đã áp dụng các loại thuốc hóa học

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Tồn tại - Kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của thuốc hóa học kháng nấm đối với Ceratocystis sp gây bệnh chết héo keo tai tượng tại vườn ươm. Ceratocystis sp là một trong những tác nhân gây hại nghiêm trọng cho cây trồng, đặc biệt là cây keo tai tượng, dẫn đến thiệt hại lớn về năng suất và chất lượng rừng trồng. Việc phát hiện sớm và áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả là rất cần thiết để bảo vệ cây trồng. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra các loại thuốc hóa học có khả năng ức chế sự phát triển của nấm, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trừ bệnh hại hiệu quả.

II. Tình hình nghiên cứu về Ceratocystis sp

Nghiên cứu về Ceratocystis sp cho thấy rằng nấm này có khả năng gây bệnh chết héo cho nhiều loài cây, trong đó có keo tai tượng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nấm này phát triển mạnh trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tạo ra những thiệt hại nghiêm trọng cho cây trồng. Việc phân lập và xác định các chủng nấm gây bệnh là rất quan trọng để có thể áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc hóa học kháng nấm có thể giúp giảm thiểu thiệt hại do nấm gây ra, tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu để xác định hiệu quả và độ an toàn của các loại thuốc này.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thu thập mẫu cây keo tai tượng bị bệnh và tiến hành thí nghiệm trong phòng thí nghiệm để đánh giá hiệu lực của các loại thuốc hóa học kháng nấm. Các phương pháp đánh giá bao gồm việc đo lường khả năng ức chế sự phát triển của nấm trên các mẫu cây sau khi áp dụng thuốc. Kết quả từ các thí nghiệm sẽ được phân tích để xác định loại thuốc có hiệu quả nhất trong việc phòng trừ bệnh hại do Ceratocystis sp gây ra. Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sẽ giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một số loại thuốc hóa học có khả năng ức chế sự phát triển của Ceratocystis sp một cách hiệu quả. Các thí nghiệm cho thấy rằng việc áp dụng thuốc vào thời điểm thích hợp có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ cây bị bệnh. Điều này cho thấy rằng việc sử dụng thuốc hóa học kháng nấm là một biện pháp khả thi để phòng trừ bệnh hại trên cây keo tai tượng tại vườn ươm. Kết quả này không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo vệ cây trồng mà còn góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng.

V. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin về khả năng kháng nấm của các loại thuốc hóa học đối với Ceratocystis sp. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong thực tiễn để phát triển các biện pháp phòng trừ bệnh hại hiệu quả cho cây keo tai tượng. Việc áp dụng các loại thuốc này không chỉ giúp bảo vệ cây trồng mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững ngành lâm nghiệp tại Việt Nam. Hơn nữa, nghiên cứu cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về bệnh hại trên cây trồng và các biện pháp phòng trừ hiệu quả.

02/03/2025
Luận văn nghiên cứu khả năng kháng nấm ceratocystis sp gây bệnh chết héo keo tai tượng tại vườm ươm bằng thuốc hóa học

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu các nghiên cứu về chọn giống keo kháng bệnh nước ta. Bước đầu đã tìm hiểu được các loài nấm hại điều tra đánh giá mức độ nhiễm bệnh và ảnh hưởng của loài cũng như xuất xứ cũng như hộ gia đình có nấm bị hại. Các kết quả đầu tư của dự án n 7 được báo cáo tại hội thảo dự án bệnh keo được tổ chức vào tháng 11 năm 2000 tại Thành Phố Hồ Chí Minh (Hà Huy Thịnh, 2006) [6]. Mùa xuân năm 1990 các xuất xứ Keo tai tượng và Keo lá tràm gieo tại vườn ươm Chèm, Từ Liêm, Hà Nội dã bị bệnh phấn trắng với các mức độ khác nhau.

Nhìn bề ngoài lá keo như bị rắc một lớp phấn trắng hay vôi bột. Mức độ bệnh đã được đánh giá qua quan sát bằng mắt thường và được xếp theo thứ tự nặng hay nhẹ. Nhìn chung bệnh chưa gây ra ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng của cây con tại vườn ươm và khi đó cũng không có điều kiện để tìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc bệnh và các vấn đề có liên quan (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1992) [4]. Một vài năm trở lại đây diện tích gây trồng keo đã tăng lên đáng kể (gần 230.000 ha vào cuối năm 1999) thì cũng đã xuất hiện rừng trồng.

Tại Bầu Bàng Bình Dương một số dòng Keo lai đã mắc bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỉ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh khá cao gây thiệt hại cho sản xuất. tại Kom Tum năm 2001 có khoảng 1.000 ha rừng keo lai 2 tuổi bị mắc bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn. Tỷ lệ nặng nhất là ở Ngọc Tú, Ngọc hồi (Kom Tum) lên đến 90% số cây bị chết ngọn. Ngiên cứu về nấm gây bệnh Ceratocystis sp.

Ở nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho nhiều loài nấm phát triển đặc biệt là Ceratocystis sp. đã bắt đầu xuất hiện trên cây keo tại một số nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh. Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, xì nhựa mủ ở vỏ, toàn bộ những cây bị nhiễm bệnh chỉ sau một thời gian ngắn là chết ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rừng trồng keo. n 8 Theo những nghiên cứu gần đây nấm Ceratocystis sp.

gây bệnh chết héo các loài keo (Acacia spp.), phát sinh dịch hại ở hầu khắp các khu vực trồng keo trong cả nước. Tác giả đã phân lập được 26 chủng nấm gây bệnh chết héo tại các rừng trồng keo trên cả nước, bước đầu xác định là nấm Ceratocystis sp. (Phạm Quang Thu et al. Theo kết quả điều tra bệnh hại rừng trồng mới được thực hiện năm 2010 và năm 2011 tại Thừa Thiên Huế cho thấy trên các diện tích rừng trồng Keo tai tượng, Keo lá tràm và Keo lai ở một số địa phương của Tỉnh đã xuất hiện hiện tượng cây keo chết héo với tỷ lệ 5 - 7%.

Bệnh hại keo ở Thừa Thiên Huế được xác định là một loài nấm thuộc chi Ceratocystis sp. Các loài nấm thuộc chi này không phải mới xuất hiện ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu trước đây đã ghi nhận loài. Nấm Ceratocystis fimbriata gây bệnh thối mốc mặt cạo cây Cao su. Nấm Ceratocystis fimbriata cũng được ghi nhận gây hại trên cây Cacao gây nên bệnh héo rũ và được mô tả bệnh thường đi kèm với cây bị mọt đục thân hoặc cành, lúc đầu có một số cành bị héo lá ngả sang màu nâu sau đó toàn bộ cây bị héo và chết.

Một số nghiên cứu khác cũng phát hiện nấm gây bệnh thối đen quả Dứa và gây thối quả Thanh long do nấm Ceratocystis paradoxa (Phạm Quang Thu và cộng sự, 2011) [11]. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia rồi đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới. Từ những năm 1980, các lô hạt giống thu hái ở vùng nguyên sản đã được gửi tới 90 nước trên thế giới.

Trong đó Philippin, Malaysia, Thái lan, Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh, Fiji, Trung Quốc và Việt Nam. Chúng có sức sinh trưởng nhanh, trên điều kiện lập địa ở Sabah - Malaysia sau 10 - 13 năm cây đạt chiều cao 20 - 25 m và đường kính 20 - 30 n 9 cm, tăng trưởng bình quân ở đây là 44 m3/ha/năm và cũng ở Sabah trong một khảo nghiệm ở tuổi 4, xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao 20,17 m và đường kính 14,4 cm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [5]. Keo tai tượng được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm 1960, tới năm 1997 có khoảng 200.000 ha keo được trồng ở phía Nam Trung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam, tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20. Cho đến năm 2008 có 179 xuất xứ và 469 gia đình thuộc 21 loài keo được khảo nghiệm ở miền Nam Trung Quốc với tổng diện tích là 130 ha, Keo tai tượng là một trong ba loài keo đã được đưa vào trồng rừng trên diện rộng nhằm cung cấp gỗ.

Dựa vào sinh trưởng và dạng thân chọn được các xuất xứ có triển vọng là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld), Oriomo (PNG). Trung Quốc đã xây dựng được 40 ha rừng giống, vườn giống tại Quảng Đông và Hải Nam, bao gồm cả vườn giống thế hệ 1 và 1,5. Theo ước tính, các rừng giống và vườn giống này có thể cung cấp khoảng 1.000 kg hạt giống/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [5]. Keo được đưa vào khảo nghiệm và gây trồng ở Philipin từ những năm 1980.

Trong đó Keo tai tượng được đánh giá là rất có triển vọng, năng suất của rừng trồng 10 tuổi đạt tới 32 m3/ha/năm ở Tal ogon. Qua khảo nghiệm đã xác định được 4 xuất xứ tốt nhất là Kini, Bensbach, Wipim (PNG), Claudie River (Qld) (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [5]. Tính đến cuối năm 1990, diện tích rừng trồng Keo tai tượng ở Sabah - Malaysia khoảng 14. Kết quả khảo nghiệm xuất xứ 6 tuổi cho thấy 3 xuất xứ có triển vọng là Western Province (PNG), Claudie River (Qld) với D1.3 = 19,1 cm và Olive River (Qld) với giá trị tương ứng là 18,7 cm.

Còn ở khảo nghiệm xuất xứ 5 tuổi xác định được 3 xuất xứ tốt nhất là Broken Pole Creke (Qld), Abergowrie (Qld), và Olive River (Qld). n 10 Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000ha rừng trồng các loài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15 - 16%. Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5 m/năm trong 2,5 năm đầu. Việc trồng Keo tai tượng trên quy mô công nghiệp đã được triển khai ở Indonesia từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000 ha rừng trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ (Werren và cộng sự, 1991) [23].

Cây Keo tai tượng cũng như các loài cây đang là cây trồng chủ lực của nhiều vùng lãnh thổ và các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, trồng rừng sản xuất bằng các loài keo giúp phát triển kinh tế nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, cải thiện môi trường và đem lại nhiều lợi ích cho phát triển các ngành công nghiệp gỗ. Nghiên cứu về bệnh hại Keo Tình hình nghiên cứu chung: Bệnh cây rừng đã được nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học có nhiều cống hiến cho công tác nghiên cứu, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn. Những năm 50 của thập kỉ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập chung vào xác định loài mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển bệnh. Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, Roger L (1953) [18] đã nguyên cứu các loài bệnh hại cây rừng dưới mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des Pays Chauds) trong đó có một số loại bệnh hại lá của Thông, Keo, Bạch Đàn.

John Boyce (1961) [12] xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest Pathologhy) đã mô tả một số bệnh hại cây rừng. Cuốn sách này được xuất bản nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada. Nghiên cứu về bệnh hại keo theo Roger L (1954) [18] đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây keo. Cây keo bị khô héo làm lá rụng và tàn lụi từ n 11 trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerella cingulata (Giai đoạn vô tính là Collectotrichum gloeosporioides) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài Keo tai tượng (Acacia mangium) trong vườn giống ở Papua New Guinea (Roger L, 1954) [18].

Tại Malaysia theo nghiên cứu của Lee (1993) [14] loài nấm này còn gây hại với các loài keo khác. Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng công bố nhiều loại bệnh hại keo. Trong thời gian 1995 - 1996, các cuộc điều tra các bệnh của bốn loài keo được thực hiên ở miền bắc Australia và một số nước Đông Nam Á được hỗ trợ kinh phí của Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp Quốc Tế Australia (ACIAR) và Trung tâm Lâm nghiệp Quốc Tế (CIFOR). Các cuộc điều tra bởi nhà bệnh lí học rừng được thực hiện trong các khu bản địa, thử nghiệm tại các đồn điền Công nghiệp và Lâm nghiệp xã hội của cây keo nhiệt đới ở Úc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Thái Lan.

Các mục tiêu để đánh giá tiềm năng của nấm gây bệnh như hạn chế các yếu tố tác động tới sự tăng trưởng và tăng năng suất của cây, và để so sánh tầm quan trọng tương đối của các tác nhân gây bệnh nấm. Kết quả này được công bố tai một hội thảo tổ chức tại Subanjeriji ở Sumatra năm 1996, cung cấp một số chuẩn mực của kiến thức hiện tại của các bệnh lý rừng trồng keo ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á (Roge L. Năm 1961 - 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng ngưỡi Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại keo (John Boyce, 1961) [12]. Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn phát triển và nghiên cứu các loài Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964, nhiều đại biểu kể cả các tổ chức quốc tế như CIFOR cũng đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài keo (Acacia) (Roger L,1953) [18].

(Ấn Độ) đã xem xét nghiên cứu vùng trồng Keo lá tràm ở Kalyani Nadia và đã phát hiện nấm bồ hóng Oidium sp. gây hại trên cây non từ 1 - 15 tuổi.J và n 12 đồng nghiệp ở Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerela Ấn Độ đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor gây hại trên vùng trồng A. auricuformis bang Kerela, tỷ cây chết khoảng 10%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu hiệu quả thuốc hóa học kháng nấm Ceratocystis sp gây bệnh chết héo keo tai tượng tại vườn ươm" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng thuốc hóa học để kiểm soát bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp gây ra. Nghiên cứu này không chỉ phân tích hiệu quả của các loại thuốc kháng nấm mà còn đánh giá tác động của chúng đến sự phát triển của cây keo tai tượng trong môi trường vườn ươm. Những kết quả từ nghiên cứu sẽ giúp nông dân và các nhà nghiên cứu có thêm thông tin hữu ích để lựa chọn phương pháp phòng trừ bệnh hiệu quả, từ đó nâng cao năng suất cây trồng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp phòng trừ nấm, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu chế tạo và khảo sát hiệu quả phòng trừ nấm colletotrichum truncatum gây bệnh thán thư trên cây đậu nành glycine max của phức oligochitosan zn2. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp phòng trừ nấm khác, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.