CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu Tìm cách nâng cao HQTC góp phần tối đa hoá lợi nhuận luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với mọi doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu. Vì vậy, có rất nhiều các bài nghiên cứu nói về việc phân tích và đo lường HQTC các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước. Nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Omondi và Willy Muturi (2013) nhằm mục đích tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến HQTC (ROA) của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nairobi ở Kenya.
Nghiên cứu lựa chọn mẫu gồm 29 công ty niêm yết (loại trừ các ngân hàng và công ty bảo hiểm niêm yết) hoạt động trên thị trường chứng khoán Nairobi trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2012. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tương quan Pearson và hồi quy đa biến để phân tích dữ liệu. Tương quan Pearson được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các biến, trong khi hồi quy đa biến được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đối với biến phụ thuộc. Nghiên cứu cung cấp một số bằng chứng sơ bộ cho thấy đòn bẩy tài chính, thanh khoản, kích thước công ty và tuổi của công ty đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu suất tài chính của công ty.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tiêu cực và ý nghĩa đáng kể đối với hiệu suất tài chính. Cũng theo kết quả nghiên cứu, thanh khoản , kích thước công ty, tuổi của công ty có ảnh hưởng tích cực và ý nghĩa đáng kể đối với hiệu suất tài chính. Nghiên cứu đề xuất rằng cần phải xác định một mức độ nợ tối ưu để cân bằng giữa lợi ích và chi phí của nợ và phát triển các kỹ thuật quản lý tài sản ngắn hạn hiệu quả để đảm bảo rằng không có quỹ vốn nào bị đầu tư không đủ hoặc không cần thiết vào tài sản ngắn hạn. 8 Một nghiên cứu của Tita Deitiana và Lionel Grey Habibuw (2015) với mục đích là tìm hiểu các yếu tố quyết định tới hiệu suất tài chính (ROA).
Đối tượng của nghiên cứu này là các công ty bất động sản được niêm yết trên thị trường chứng khoán Indonesia (IDX) trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2012. Dữ liệu cho nghiên cứu này xuất phát từ dữ liệu phụ thuộc được thu thập thông qua việc phân tích báo cáo tài chính của các công ty mẫu. Dữ liệu sau đó được phân tích bằng phương pháp Hồi quy Dữ liệu Bảng với Eviews 7. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến đòn bẩy và tuổi công ty có ảnh hưởng đến hiệu suất tài chính.
Các biến khác như khả năng thanh khoản, kích thước công ty, cấu trúc sở hữu của nhà quản lý và cấu trúc sở hữu của cổ đông lớn không có ảnh hưởng đến hiệu suất tài chính. Theo Muhammad Ahmad và Nadeem Malik (2017) nghiên cứu tập trung vào các yếu tố quyết định hiệu suất tài chính của ngành năng lượng ở Pakistan. Mẫu gồm 29 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Pakistan thuộc bốn lĩnh vực của ngành công nghiệp năng lượng trong giai đoạn từ 2009 đến 2016. Hai chỉ số là ROA và ROE đã được sử dụng để đo lường hiệu suất tài chính.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính và tuổi công ty có tác động ngược chiều và đáng kể đến ROA. Tốc độ tăng trưởng, quy mô, rủi ro, tính thanh khoản và GDP có tác động cùng chiều và đáng kể đến ROA. Thị phần, tỷ lệ lãi suất và tỷ lệ lạm phát được cho là không ảnh hưởng đến ROA. Rủi ro, tính khả định và tỷ lệ lạm phát được cho là có tác động âm và đáng kể đến ROE.
Đòn bẩy tài chính, tăng trưởng, thanh khoản và GDP có tác động dương và đáng kể đến ROE. Quy mô, tuổi công ty, thị phần và lãi suất được cho là không ảnh hưởng đến ROE. Kết luận của nghiên cứu kết luận rằng các yếu tố đặc thù của doanh nghiệp và yếu tố kinh tế vĩ mô có tác động đáng kể đến hiệu suất tài chính của ngành công nghiệp năng lượng. Theo Ali Matar và Bilal Mohammad Eneizan (2018) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất tài chính của các doanh nghiệp sản xuất ở Jordan.
Dữ liệu phụ được thu thập từ báo cáo hàng năm của thị trường chứng khoán Amman trong giai đoạn từ 2005 đến 2015. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của 23 doanh nghiệp 9 sản xuất, bao gồm bảng cân đối kế toán và báo cáo lợi nhuận và lỗ, được công bố trên trang web www. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phần mềm E.views để phân tích hồi quy. Biến phụ thuộc là chỉ số hiệu suất của doanh nghiệp ROA, các biến độc lập bao gồm đòn bẩy tài chính, kích thước doanh nghiệp, khả năng thanh khoản, doanh thu, lợi nhuận.
Kết quả cho thấy các biến về khả năng thanh khoản, lợi nhuận và doanh thu có mối quan hệ tích cực với ROA. Ngược lại, các biến về đòn bẩy tài chính và kích thước doanh nghiệp có mối quan hệ tiêu cực với ROA. Ngoài ra, kết quả hồi quy cho thấy tất cả các biến đều có ảnh hưởng đáng kể đối với hiệu suất tài chính. Các kết quả này rất quan trọng đối với các bên khác nhau như nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư và các bên liên quan.
Theo nghiên cứu của Barakat và các cộng sự (2022) với mục tiêu là điều tra những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất tài chính của các công ty bảo hiểm tại Palestine. Dữ liệu nghiên cứu là 7 công ty bảo hiểm được niêm yết trên thị trường chứng khoán Palestine trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2019. Các nhà nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính đa biến để tạo ra hai mô hình đại diện cho hiệu suất tài chính, mô hình đầu tiên đo lường hiệu suất tài chính thông qua tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA), và mô hình khác đo lường hiệu suất tài chính thông qua tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Kết quả nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê của biên dự trữ an toàn, hệ thống pháp lý của quốc gia, cấu trúc sở hữu của nhà quản lý và kích thước của công ty đối với ROA.
Tuy nhiên, có sự tác động tiêu cực của tỷ lệ tổn thất, sự phụ thuộc vào bốn công ty kiểm toán lớn và cấu trúc sở hữu của các thành viên hội đồng quản trị đối với ROA. Kết quả cũng chỉ ra sự ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê của biên dự trữ an toàn và kích thước công ty đối với ROE. Tuy nhiên, có sự ảnh hưởng tiêu cực của tỷ lệ tổn thất và sự phụ thuộc vào bốn công ty kiểm toán lớn đối với ROE. Nghiên cứu trong nước.
Kế thừa những nghiên cứu đã có ở nước ngoài, một số tác giả Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu tương tự đáng chú ý: 10 Theo Đỗ Dương Thanh Ngọc (2011) trong bài nghiên cứu “ Các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh (ROA) của các doanh nghiệp ngành xây dưng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Nghiên cứu dựa trên số liệu của 40 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2006-2010, sử dụng SPSS 11.5 để xử lý dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong các biến xem xét: tỷ lệ nợ, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng tài sản cố định thì biến tỷ lệ nợ có tác động rất mạnh tới ROA theo chiều âm. Theo nghiên cứu của ThS.
Chu Thị Thu Thuỷ, ThS. Nguyễn Thanh Huyền, ThS. Ngô Thị Quyên (2015) trong bài nghiên cứu “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến HQTC: Nghiên cứu điển hình tại các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh”, dựa trên dữ liệu nghiên cứu của 230 công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn năm 2011-2013 trong 14 ngành. Nghiên cứu kết luận rằng HQTC (ROA) của các công ty bị ảnh hưởng đáng kể bởi tỷ lệ vốn nhà nước, đòn bẩy tài chính, năng lực quản lý, quy mô công ty, khả năng thanh toán nhanh và chu kỳ sản xuất kinh doanh của công ty.
Mặt khác nghiên cứu cũng chỉ ra tác động dương của ROA lên tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Tuy dữ liệu nghiên cứu tương đối lớn nhưng khoảng thời gian khá ngắn (3 năm) và số liệu nghiên cứu này không được mới. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc (2018) trong bài “Phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhóm ngành thông tin và truyền thông ở Việt Nam giai đoạn 2010- 2017”, dựa trên dữ liệu nghiên cứu 22 doanh nghiệp ngành thông tin và truyền thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010-2017. Kết quả chỉ ra rằng các nhân tố thuế, cơ cấu vốn, vòng quay tài sản, tốc độ tăng trưởng có tác động cùng chiều với ROA.
Còn các nhân tố quy mô tài sản và đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều với ROA. Theo nghiên cứu của Hoàng Hồng Hiệp và các cộng sự (2022) trong bài “Những nhân tố ảnh hưởng đến HQTC (ROA) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Nam Trung bộ” đã sử dụng bộ dữ liệu điều tra 46.390 doanh nghiệp nhỏ và vừa từ Điều tra Doanh 11 nghiệp Việt Nam của Tổng cục Thống kê vào năm 2019, bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến HQTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực Nam Trung bộ. Kết quả ước lượng cho thấy, các đặc trưng của doanh nghiệp như vốn, lao động, tuổi doanh nghiệp, năng suất lao động, ngành nghề kinh doanh, hình thức sở hữu là những nhân tố quan trọng có tác động tích cực đến HQTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của vùng. Bên cạnh đó, các đặc điểm của môi trường vĩ mô như quy mô thị trường nội tỉnh, chất lượng thể chế địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại vùng Nam Trung bộ.
Trên cơ sở kết quả ước lượng, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Nam Trung bộ trong thời gian tới.