Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Hiệu quả phân bổ và một số mô hình đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành công nghiệp của Việt Nam" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Huyền Trang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Khắc Minh tại Khoa Toán kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (hoàn thành năm 2022). Luận án thuộc chuyên ngành Toán kinh tế (Kinh tế lượng ứng dụng), tiếp cận theo hướng nghiên cứu định lượng thực nghiệm trên dữ liệu lớn.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ các nghiên cứu nền tảng về đo lường hiệu quả sản xuất từ Farrell (1957). Trong khi số lượng lớn các công trình thực nghiệm tập trung vào hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency - TE), các nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả phân bổ (Allocative Efficiency - AE) còn tương đối hạn chế, đặc biệt là trong ngành sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại (bắt nguồn từ Solow, 1956, 1957 và cách tiếp cận mới về năng suất), chênh lệch đầu ra không chỉ do vốn và lao động mà bắt nguồn từ năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). TFP gộp của ngành và vùng phụ thuộc trực tiếp vào cách thức phân bổ các yếu tố đầu vào giữa các đơn vị sản xuất không thuần nhất. Tại Việt Nam, các nghiên cứu định lượng về hiệu quả phân bổ còn ít, chưa thống nhất về phương pháp đo lường, chưa phân tích đầy đủ ưu - nhược điểm của từng dòng kỹ thuật và chưa có nghiên cứu nào kết hợp đồng thời việc đo lường, phân tích hiệu quả phân bổ ở cả hai cấp độ: cấp doanh nghiệp và cấp ngành - vùng (địa phương).

Mục tiêu nghiên cứu chung của luận án là đo lường hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo và hiệu quả phân bổ ngành chế biến chế tạo của các tỉnh ở Việt Nam; từ đó ước lượng các mô hình kinh tế lượng phù hợp nhằm phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ tương ứng, làm cơ sở đề xuất các khuyến nghị chính sách.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 4 câu hỏi được đánh số như sau:

  1. Hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo được đo lường như thế nào?
  2. Hiệu quả phân bổ ngành chế biến chế tạo của các tỉnh ở Việt Nam được đo lường như thế nào?
  3. Các nhân tố nào tác động đến hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo được đo lường theo phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA)?
  4. Các nhân tố nào tác động đến hiệu quả phân bổ ngành chế biến chế tạo của các tỉnh ở Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo; hiệu quả phân bổ ngành chế biến chế tạo của các tỉnh ở Việt Nam; các mô hình phân tích tác động của các nhân tố đến hai loại hiệu quả phân bổ này.
  • Phạm vi nội dung: Đo lường hiệu quả phân bổ cấp doanh nghiệp theo phương pháp phi tham số DEA và hiệu quả phân bổ cấp ngành - vùng theo phương pháp phân rã hiệp phương sai của Olley và Pakes (1996).
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo trên địa bàn 60 tỉnh, thành phố của Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2018 đối với dữ liệu doanh nghiệp; giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2018 đối với các mô hình kinh tế lượng có sự tham gia của biến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo hai nhánh đo lường chính: cấp doanh nghiệp và cấp ngành - vùng, phân chia theo nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu trong nước.

Về đo lường hiệu quả phân bổ cấp doanh nghiệp trên thế giới:

  • Nền tảng lý thuyết bắt đầu từ công trình của Farrell (1957), dựa trên các khái niệm hiệu quả của Koopmans (1951) và thước đo xuyên tâm của Debreu (1951), chia hiệu quả tổng thể thành hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE). Các công trình mở rộng gồm Aigner và Chu (1968), Aigner và cộng sự (1977), Meeusen và Van den Broeck (1977), Charnes và cộng sự (1978), Greene (1980), Banker và cộng sự (1984), Coelli và cộng sự (2005). Các nghiên cứu nhấn mạnh điều kiện phân bổ tối ưu khi tỷ số sản phẩm cận biên bằng tỷ số giá đầu vào (Ajibefun và Daramola, 2003; Chukwuji và cộng sự, 2006; Omonona và cộng sự, 2010; Kumbhakar và Wang, 2006). Khi thông tin giá thay đổi, các độ đo hiệu quả doanh thu, chi phí và lợi nhuận được phát triển (Ali và Flinn, 1989; Maudos và cộng sự, 2002; Cooper và cộng sự, 2006).
  • Nhóm phương pháp tham số (SFA, TFA, DFA): Aigner và Chu (1968), Chavas và Aliber (1993), Sharma và cộng sự (1999). Các thực nghiệm tiêu biểu gồm Badunenko và cộng sự (2008) với 900 doanh nghiệp hóa chất Đức năm 2003; Ouattara (2012) với dữ liệu mảng 5.000 doanh nghiệp thuộc 15 ngành tại Bờ Biển Ngà (2000-2010) kết hợp mô hình Tobit; Thabethe và cộng sự (2014) khảo sát 231 trang trại mía tại Nam Phi (AE trung bình 61,5%); Hidalgo-Gallego và cộng sự (2017) với 246 quan sát từ 41 sân bay Tây Ban Nha giai đoạn 2009-2014 phân tích tác động của tư nhân hóa.
  • Nhóm phương pháp phi tham số (DEA, FDH): Charnes và cộng sự (1978), Banker và cộng sự (1984), Sarafidis (2002). Ứng dụng thực nghiệm gồm Lubis và cộng sự (2014) với 142 trang trại dứa Indonesia (TE 70,1%, AE 34,1%, EE 24,1%); Islam và cộng sự (2011) với 355 trang trại lúa Bangladesh (TE 72%, AE 66%, EE 47%); Van Der Merwe (2012) với 53 trang trại nho Nam Phi; Rouse và Tripe (2016) trên 6 ngân hàng New Zealand; Uri (2001) trên các hãng viễn thông Bell của Mỹ giai đoạn 1985-1998.

Về đo lường hiệu quả phân bổ cấp ngành - vùng trên thế giới:

  • Tiếp cận hiệp phương sai Olley và Pakes (1996 - OP): Phân rã năng suất ngành thành năng suất trung bình không trọng số và hiệp phương sai giữa thị phần với năng suất (đại diện cho AE xã hội/ngành). Olley và Pakes áp dụng cho ngành thiết bị viễn thông Mỹ (1974-1987), ghi nhận số hạng hiệp phương sai tăng từ 0,01 lên 0,32. Bartelsman và cộng sự (2013) khẳng định tính vững chắc của phương pháp này. Các công trình ứng dụng gồm Federico và Dan (2013) cho các nước OECD; Dondur và cộng sự (2011) cho 567 doanh nghiệp tư nhân Serbia (2005-2007); Bin và cộng sự (2018) phân tích hơn 2 triệu quan sát công nghiệp Trung Quốc (1998-2007); Gnocato và cộng sự (2020) nghiên cứu cải cách thị trường lao động tại Italy bằng phương pháp DID.
  • Phiên bản phân rã động (Dynamic Olley - Pakes - DOP): Nhằm đo lường vai trò của các doanh nghiệp gia nhập (entrants), rút lui (exits) và sống sót (survivors/stayers) dựa trên khung lý thuyết của Melitz (2003), Melitz và Polanec (2015) phân rã biến động TFP ngành chế tạo Slovenia (1995-2000). Các công trình mở rộng gồm Huang và Liu (2016) tại Trung Quốc (2005-2009); Maliranta và Määttänen (2015) trên 107.082 doanh nghiệp Phần Lan (1995-2008); Decker và cộng sự (2017) cho khu vực phi nông nghiệp Mỹ; Cho (2018) cho doanh nghiệp Hàn Quốc (2006-2015); Linarello và cộng sự (2019) nghiên cứu sốc tín dụng ngân hàng tại Italy (2000-2015); Jones và cộng sự (2019) so sánh Bờ Biển Ngà, Ethiopia, Tanzania và Bangladesh; Hashiguchi (2015) mở rộng phân rã OP/DOP nhiều nhóm cho doanh nghiệp Trung Quốc (2004-2007).

Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam:

  • Quang Minh Nhựt (2009) dùng CRS-DEA và VRS-DEA phân tích doanh nghiệp chế biến thủy sản và xay xát lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long năm 2007, ghi nhận AE lần lượt là 0,625 và 0,927.
  • Nguyễn Khắc Minh và Giang Thanh Long (2009) so sánh SFA và DEA cho sản xuất nông nghiệp 60 tỉnh (1990-2005), chỉ ra mô hình CRS cho AE trung bình là 80,52% (SFA) và 90,35% (DEA).
  • Nguyễn Khắc Minh và Nguyễn Thị Phương (2018a) áp dụng phương pháp của Hsieh và Klenow (2009) kết hợp phân rã DOP để tính phân bổ sai và đóng góp động của doanh nghiệp ngành chế tạo Việt Nam (2000-2013).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu xem xét hiệu quả kỹ thuật, rất ít nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả phân bổ. Các nghiên cứu hiện có chưa đánh giá đồng thời hiệu quả phân bổ ở cả hai cấp độ (doanh nghiệp và địa phương/ngành) trên cùng một bộ dữ liệu lớn, chưa giải quyết trọn vẹn bài toán thiếu dữ liệu giá đầu vào khi áp dụng DEA, và chưa xây dựng mô hình dữ liệu mảng động (System GMM) để nhận diện tác động ngắn hạn và dài hạn của các nhân tố thể chế, môi trường kinh doanh cấp tỉnh đến hiệu quả phân bổ ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án thiết lập khung lý thuyết dựa trên hai nhánh tiếp cận toán kinh tế:

Khung lý thuyết về hiệu quả sản xuất cấp doanh nghiệp: Theo lý thuyết của Farrell (1957) và Coelli và cộng sự (2005), hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE) định hướng đầu vào được xác định qua hàm khoảng cách và đường đẳng phí. Với véc-tơ giá đầu vào $w$, véc-tơ đầu vào thực tế $x$ tại điểm quan sát $P$, véc-tơ đầu vào kỹ thuật hiệu quả $\hat{x}$ tại $Q$, và véc-tơ đầu vào tối thiểu hóa chi phí $x^*$ tại $Q'$:

  • Hiệu quả chi phí (Cost Efficiency - CE) hay hiệu quả kinh tế (EE): $CE = w'x^* / w'x = OR/OP$
  • Hiệu quả phân bổ (AE): $AE = w'x^* / w'\hat{x} = OR/OQ$
  • Mối quan hệ tích số: $CE = TE \times AE$
  • Hiệu quả quy mô (Scale Efficiency - SE): $SE_i = \theta_i^{CRS} / \theta_i^{VRS}$ (Färe và cộng sự, 1998), với việc chạy thêm bài toán NIRS để phân định trạng thái lợi nhuận tăng theo quy mô (irs) hay giảm theo quy mô (drs).

Khung lý thuyết về hiệu quả phân bổ cấp ngành - vùng: Luận án áp dụng công thức phân rã của Olley và Pakes (1996): Năng suất tổng hợp của ngành/tỉnh ($P_t$) là trung bình có trọng số của năng suất doanh nghiệp ($p_{it}$) với trọng số thị phần đầu ra ($s_{it}$): $$P_t = \sum_{i} s_{it} p_{it} = \bar{p}t + \sum{i} (s_{it} - \bar{s}t)(p{it} - \bar{p}t) = \bar{p}t + cov(s{it}, p{it})$$ Trong đó $\bar{p}t$ là năng suất trung bình không trọng số, và số hạng hiệp phương sai $cov(s{it}, p_{it})$ chính là thước đo hiệu quả phân bổ (AE) của ngành hoặc địa phương. Hiệp phương sai mang giá trị dương khi các doanh nghiệp có năng suất cao hơn mức trung bình chiếm lĩnh thị phần lớn hơn.

Phương pháp đo lường thực tế và xử lý dữ liệu:

  1. Xử lý thiếu dữ liệu giá đầu vào trong mô hình DEA: Do số liệu điều tra doanh nghiệp không có giá đầu vào, luận án áp dụng định lý Euler cho hàm sản xuất thuần nhất Cobb - Douglas: $Y_i = A K_i^\alpha L_i^{1-\alpha}$. Giá vốn ($w_K$) và giá lao động ($w_L$) được tính toán bằng đạo hàm riêng của giá trị gia tăng theo từng yếu tố đầu vào: $$w_{L,i} = \frac{\partial Y_i}{\partial L_i} = A(1 - \alpha) K_i^\alpha L_i^{-\alpha}$$ $$w_{K,i} = \frac{\partial Y_i}{\partial K_i} = A \alpha K_i^{\alpha-1} L_i^{1-\alpha}$$
  2. Ước lượng TFP cấp doanh nghiệp: Sử dụng phương pháp moment tổng quát một bước của Wooldridge (2009) để khắc phục hiện tượng nội sinh đầu vào và chệch chọn mẫu.
  3. Kỹ thuật kinh tế lượng đánh giá tác động:
  • Cấp doanh nghiệp: Mô hình hồi quy Tobit do giá trị biến phụ thuộc $AE$ bị chặn trong khoảng $(0, 1]$. Luận án ước lượng trên toàn mẫu và chia theo loại hình sở hữu (DNNN, DNTN, DNFDI), quy mô và trình độ công nghệ.
  • Cấp địa phương: Sử dụng các mô hình dữ liệu mảng tĩnh (Pooled OLS, Fixed Effects - FE, Random Effects - RE, Feasible Generalized Least Squares - FGLS) và mô hình dữ liệu mảng động (System GMM - SGMM) để xử lý tính nội sinh của các biến giải thích và biến phụ thuộc trễ ($AE_{t-1}$), bóc tách tác động ngắn hạn và dài hạn của môi trường kinh doanh (PCI).

Nguồn dữ liệu và công cụ tính toán:

  • Dữ liệu điều tra doanh nghiệp thường niên của Tổng cục Thống kê (GSO) giai đoạn 2000-2018 (lọc sạch còn 139.255 doanh nghiệp chế biến chế tạo; giá trị gia tăng tính theo phương pháp thu nhập; các biến giá trị được quy đổi về giá so sánh năm gốc 2010).
  • Dữ liệu Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) gồm điểm tổng hợp và 9 chỉ số thành phần do VCCI và USAID công bố giai đoạn 2006-2018 trên 60 tỉnh.
  • Công cụ phần mềm: DEAP 2.1 (giải bài toán quy hoạch tuyến tính DEA) và STATA 15 (ước lượng hàm sản xuất, TFP, phân rã OP và các mô hình Tobit, FGLS, SGMM).
Hạng mục Cấp doanh nghiệp Cấp ngành - vùng (tỉnh)
Thước đo AE Tỷ số chi phí tối thiểu trên chi phí kỹ thuật ($AE = CE / TE$) Hiệp phương sai giữa thị phần và năng suất: $cov(s_{it}, p_{it})$
Phương pháp đo Lập trình toán học phi tham số DEA (CRS và VRS) Phân rã hiệp phương sai Olley - Pakes (1996)
Xử lý kỹ thuật Tính giá đầu vào qua đạo hàm hàm sản xuất Cobb - Douglas (Euler) Đo lường TFP doanh nghiệp bằng phương pháp Wooldridge (2009) GMM
Mô hình hồi quy Mô hình Tobit (toàn mẫu, phân nhóm sở hữu, công nghệ, quy mô) Mô hình tĩnh (FE, RE, FGLS) và mô hình động SGMM (ngắn hạn, dài hạn)
Dữ liệu & Cỡ mẫu Điều tra doanh nghiệp GSO 2000-2018 (139.255 doanh nghiệp CBCT) Dữ liệu mảng 60 tỉnh giai đoạn 2000-2018 và 2006-2018 (ghép nối PCI)
Công cụ phần mềm DEAP 2.1, STATA 15 STATA 15

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhánh: các thước đo hiệu quả phân bổ và các mô hình phân tích nhân tố ảnh hưởng. Tác giả phân tích chi tiết quá trình phát triển từ các phép đo đơn giản dựa trên năng suất biên, tỷ số giá đầu vào đến các phương pháp biên tham số (SFA, DFA, TFA) và phi tham số (DEA, FDH). Ở cấp độ vĩ mô và ngành, chương 1 phân tích sâu phương pháp hiệp phương sai của Olley và Pakes (1996), các mô hình phân rã động DOP của Melitz và Polanec (2015), Maliranta và Määttänen (2015), cùng các mở rộng đa nhóm của Hashiguchi (2015). Kết luận chương 1 chỉ ra khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam: sự thiếu vắng các công trình đánh giá đồng thời AE ở cả cấp vi mô (doanh nghiệp) và trung mô (ngành, địa phương); các nghiên cứu trong nước trước đây hầu như chỉ tập trung vào hiệu quả kỹ thuật hoặc chưa giải quyết triệt để vấn đề nội sinh trong mô hình đánh giá tác động.

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Tác giả trình bày hệ thống cơ sở lý luận về hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp dựa trên bài toán tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa doanh thu; cơ sở lý luận về hiệu quả phân bổ ngành - vùng dựa trên phân bổ nguồn lực và năng suất tổng hợp. Khung nghiên cứu của luận án được thiết kế gồm hai nhánh logic: nhánh 1 đo lường AE (doanh nghiệp qua DEA, cấp tỉnh qua OP) và nhánh 2 chỉ định các mô hình hồi quy. Tác giả chi tiết hóa thuật toán lập trình tuyến tính DEA dưới hai giả định CRS và VRS, thiết lập bài toán NIRS để kiểm tra quy mô; trình bày phương pháp ước lượng giá lao động và giá vốn dựa trên đạo hàm riêng của hàm sản xuất Cobb - Douglas; diễn giải thuật toán Wooldridge (2009) GMM một bước để tính TFP; cuối cùng là đặc tả toán học của mô hình hồi quy Tobit và mô hình dữ liệu mảng động SGMM với các kiểm định Arellano - Bond (AR(1), AR(2)) và kiểm định Hansen/Sargan về tính hợp lệ của biến công cụ.

Chương 3: Thực trạng hoạt động và phân bổ nguồn lực của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam

Chương 3 sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh và biểu đồ hóa bức tranh thực tế của 139.255 doanh nghiệp chế biến chế tạo giai đoạn 2000-2018:

  • Phân theo quy mô: Tỷ lệ doanh nghiệp sống sót, gia nhập và rút lui có sự phân hóa mạnh giữa các nhóm quy mô; các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ chiếm tỷ trọng áp đảo về số lượng nhưng hạn chế về tích lũy vốn.
  • Phân theo loại hình sở hữu: Tỷ lệ doanh nghiệp có lợi nhuận dương có sự khác biệt giữa ba khu vực: doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp tư nhân (DNTN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DNFDI).
  • Phân theo ngành cấp 2: Trình bày cơ cấu lao động, vốn, doanh thu và lợi nhuận bình quân giữa các phân ngành chế biến chế tạo; sự dịch chuyển việc làm tập trung vào một số ngành chính và một số tỉnh có quy mô công nghiệp lớn.
  • Phân bổ nguồn lực vốn và lao động: Phân tích sự thay đổi phân bổ vốn theo 3 nhóm trình độ công nghệ (công nghệ cao - CNC, công nghệ trung bình - CNTB, công nghệ thấp - CNT) và theo tỉnh giai đoạn 2000-2018.
  • Môi trường kinh doanh cấp tỉnh: Phân tích biểu đồ hình hộp điểm số PCI tổng thể và các chỉ số thành phần của các vùng kinh tế trong giai đoạn 2006-2018.

Chương 4: Kết quả ước lượng hiệu quả phân bổ và các mô hình chỉ định

Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm, báo cáo các kết quả ước lượng kinh tế lượng:

  • Kết quả đo lường AE cấp doanh nghiệp bằng DEA: Đánh giá điểm số AE phân theo loại hình sở hữu, theo trình độ công nghệ (CNC, CNTB, CNT) và mối quan hệ giữa hiệu quả phân bổ với giá trị gia tăng của doanh nghiệp.
  • Kết quả đo lường năng suất và AE cấp tỉnh theo Olley - Pakes: Báo cáo kết quả phân rã TFP gộp của các vùng kinh tế giai đoạn 2000-2018; phân tích bảng thống kê mô tả AE cấp tỉnh theo từng năm; xác định danh sách các tỉnh có hiệu quả phân bổ trung bình cao nhất và thấp nhất cả nước; so sánh với kết quả phân rã DOP động.
  • Kết quả mô hình Tobit cấp doanh nghiệp: Báo cáo hệ số hồi quy trên toàn mẫu và trên các mẫu phụ phân chia theo hình thức sở hữu (DNNN, DNTN, DNFDI), theo quy mô doanh nghiệp và theo trình độ công nghệ. Kết quả chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố quy mô vốn, tỷ lệ đòn bẩy tài chính, tuổi doanh nghiệp và cường độ lao động tới điểm số AE.
  • Kết quả mô hình dữ liệu mảng cấp tỉnh: Trình bày kết quả hồi quy tĩnh (FE, RE, FGLS) cho giai đoạn 2000-2018 và 2006-2018; kết quả hồi quy động hệ thống SGMM (mô hình SGMM1 và SGMM2). Kết quả khẳng định hiệu quả phân bổ cấp tỉnh có tính động (hệ số trễ $AE_{t-1}$ có ý nghĩa thống kê); bóc tách cụ thể tác động ngắn hạn và dài hạn của môi trường kinh doanh cấp tỉnh (PCI tổng thể và các chỉ số thành phần như chi phí gia nhập thị trường, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, đào tạo lao động...) tới hiệu quả phân bổ nguồn lực ngành chế biến chế tạo.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật:

  • Luận án đã hệ thống hóa một cách toàn diện và khoa học các phương pháp đo lường hiệu quả phân bổ, phân định rõ ràng bản chất giữa hiệu quả phân bổ cấp vi mô (hiệu quả phân bổ đầu vào theo giá của doanh nghiệp) và hiệu quả phân bổ cấp trung mô/vĩ mô (hiệu quả phân bổ thị phần theo năng suất giữa các doanh nghiệp trong ngành - vùng).
  • Về mặt phương pháp luận, luận án đã xử lý thành công hạn chế thiếu dữ liệu giá đầu vào trong các cuộc điều tra doanh nghiệp quy mô lớn bằng cách kết hợp hàm sản xuất Cobb - Douglas với định lý Euler, tạo cơ sở dữ liệu giá phục vụ bài toán quy hoạch tuyến tính DEA.
  • Luận án là công trình thực nghiệm áp dụng đồng thời hai cách tiếp cận đo lường và xây dựng hai nhóm mô hình chỉ định tương ứng ở cả hai cấp độ (doanh nghiệp và tỉnh) trên cùng một đối tượng ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam xuyên suốt 19 năm (2000-2018).
  • Trong mô hình đánh giá tác động ở cấp địa phương, luận án đã tính đến tính động của hiệu quả phân bổ thông qua mô hình SGMM, khắc phục hiện tượng nội sinh và cho phép lượng hóa chính xác cả tác động ngắn hạn lẫn tác động dài hạn của các nhân tố thể chế và môi trường kinh doanh.

Những đề xuất, khuyến nghị chính sách:

  • Đối với cấp doanh nghiệp: Cần tối ưu hóa cơ cấu kết hợp giữa vốn và lao động dựa trên tương quan giá yếu tố sản xuất thực tế; nâng cao năng lực quản trị tài chính, kiểm soát chi phí hoạt động và tăng cường ứng dụng đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô hoạt động để dịch chuyển dần từ trạng thái phi hiệu quả quy mô sang điểm hiệu quả tối ưu.
  • Đối với ngành chế biến chế tạo: Thúc đẩy tái cơ cấu nội ngành theo hướng chuyển dịch nguồn lực từ các phân ngành có giá trị gia tăng thấp, công nghệ lạc hậu sang các phân ngành công nghệ trung bình và công nghệ cao; tạo cơ chế liên kết sản xuất hiệu quả giữa khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước với khu vực DNFDI.
  • Đối với Nhà nước và chính quyền các địa phương: Tiếp tục cải thiện thực chất môi trường kinh doanh thông qua việc nâng cao chỉ số PCI; cắt giảm chi phí gia nhập thị trường và chi phí thời gian thực hiện thủ tục hành chính; minh bạch hóa thông tin quy hoạch, tiếp cận đất đai và nguồn vốn tín dụng; giảm thiểu các chi phí không chính thức nhằm tạo lập sân chơi bình đẳng, loại bỏ hiện tượng méo mó thị trường, tạo điều kiện để các doanh nghiệp có năng suất cao mở rộng quy mô và thị phần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về nguồn dữ liệu giá: Do bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp thường niên của Tổng cục Thống kê không có sẵn thông tin về đơn giá vốn và đơn giá lao động thực tế của từng đơn vị, tác giả phải tính toán giá đại diện gián tiếp thông qua việc ước lượng tham số của hàm sản xuất Cobb - Douglas và định lý Euler. Cách tiếp cận này giả định các điều kiện biên của hàm sản xuất đồng nhất trong mẫu phân tích.
  • Về phạm vi đối tượng: Luận án chỉ giới hạn khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo, chưa mở rộng sang các ngành công nghiệp khác (như khai khoáng, sản xuất và phân phối điện, nước) hoặc khu vực dịch vụ.
  • Về chuỗi thời gian của biến thể chế: Dữ liệu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) chỉ được thu thập và công bố đầy đủ từ năm 2006, do đó các mô hình đánh giá tác động của môi trường kinh doanh cấp tỉnh chỉ thực hiện được cho giai đoạn 2006-2018 thay vì toàn bộ chuỗi 2000-2018.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi phân tích sang các khu vực kinh tế khác của nền kinh tế để có bức tranh so sánh toàn diện về hiệu quả phân bổ nguồn lực quốc gia.
  • Áp dụng các dạng hàm sản xuất linh hoạt hơn (như hàm sản xuất Translog) khi xác định giá yếu tố đầu vào, hoặc tiến hành khảo sát vi mô chuyên sâu để thu thập đơn giá đầu vào thực tế của doanh nghiệp.
  • Đi sâu phân tích hiệu quả phân bổ ở cấp độ phân ngành chi tiết hơn (mã ngành VSIC 3 chữ số và 4 chữ số) để nhận diện cụ thể các rào cản dịch chuyển nguồn lực giữa các tiểu ngành hẹp.

Giá trị tham khảo

Giá trị đối với các đối tượng nghiên cứu và quản lý:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Toán kinh tế, Kinh tế lượng và Kinh tế học: Luận án là tài liệu tham khảo về mặt phương pháp luận trong việc xử lý các bài toán kinh tế lượng phức tạp, từ kỹ thuật giải quy hoạch DEA có ước lượng giá đầu vào, quy trình ước lượng TFP một bước bằng SGMM theo Wooldridge (2009), phương pháp phân rã hiệp phương sai Olley - Pakes, cho đến kỹ thuật ước lượng mô hình dữ liệu mảng động SGMM trên phần mềm STATA.
  • Giảng viên và chuyên gia nghiên cứu kinh tế: Công trình cung cấp chuỗi số liệu tính toán thực nghiệm kéo dài 19 năm về hiệu quả phân bổ và năng suất của ngành chế biến chế tạo Việt Nam, hỗ trợ công tác giảng dạy chuyên đề kinh tế học công nghiệp và kinh tế lượng ứng dụng.
  • Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Ban Kinh tế Trung ương, chính quyền cấp tỉnh): Luận án cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về tác động ngắn hạn và dài hạn của môi trường kinh doanh (PCI) đến việc tái phân bổ nguồn lực; giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện rõ mức độ phân bổ sai để thiết kế các chính sách can thiệp trúng đích nhằm nâng cao năng suất tổng hợp của địa phương và nền kinh tế.

Các phần nội dung đáng tham khảo nhất trong công trình:

  • Mục 2.3 và 2.4 (Chương 2): Khung phương pháp ước lượng giá đầu vào từ hàm sản xuất và quy trình triển khai phân rã OP kết hợp ước lượng TFP theo Wooldridge.
  • Mục 4.2 và 4.3 (Chương 4): Hệ thống bảng số liệu ước lượng hiệu quả phân bổ của 60 tỉnh thành và các bảng kết quả hồi quy SGMM đánh giá tác động dài hạn của các chỉ số PCI thành phần.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án đo lường hiệu quả phân bổ ở những cấp độ nào và sử dụng phương pháp cụ thể nào cho từng cấp độ? Luận án đo lường hiệu quả phân bổ ở hai cấp độ độc lập: Ở cấp độ doanh nghiệp, tác giả sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) phi tham số theo định hướng đầu vào (cực tiểu hóa chi phí) dưới hai giả định hiệu suất không đổi theo quy mô (CRS) và hiệu suất thay đổi theo quy mô (VRS). Ở cấp độ ngành - vùng (tỉnh), tác giả sử dụng phương pháp phân rã năng suất theo cách tiếp cận hiệp phương sai của Olley và Pakes (1996), trong đó TFP của từng doanh nghiệp được ước lượng bằng phương pháp GMM một bước của Wooldridge (2009).

  2. Tác giả đã giải quyết bài toán thiếu dữ liệu về giá đầu vào khi chạy mô hình DEA như thế nào? Do bộ số liệu điều tra doanh nghiệp của GSO không ghi nhận đơn giá vốn và đơn giá lao động, tác giả đã ước lượng hàm sản xuất Cobb - Douglas dạng logarit với biến đầu ra là giá trị gia tăng (VA tính theo phương pháp thu nhập) và hai đầu vào là vốn ($K$) và lao động ($L$). Sau đó, tác giả áp dụng định lý Euler cho hàm thuần nhất để tính giá vốn và giá lao động gián tiếp thông qua đạo hàm riêng của giá trị gia tăng đối với từng yếu tố đầu vào tương ứng ($w_L = \partial Y / \partial L$ và $w_K = \partial Y / \partial K$).

  3. Dữ liệu thực nghiệm của luận án bao gồm những nguồn nào và quy mô mẫu nghiên cứu là bao nhiêu? Luận án sử dụng hai nguồn dữ liệu lớn: Nguồn thứ nhất là bộ dữ liệu Điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (GSO) từ năm 2000 đến năm 2018, sau khi làm sạch thu được mẫu mảng gồm 139.255 doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo (mã ngành cấp 2 theo VSIC). Nguồn thứ hai là bộ dữ liệu Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) gồm điểm tổng hợp và 9 chỉ số thành phần do VCCI và USAID khảo sát, thu thập trên địa bàn 60 tỉnh, thành phố của Việt Nam giai đoạn 2006-2018.

  4. Tại sao tác giả sử dụng mô hình Tobit cho cấp doanh nghiệp và mô hình SGMM cho cấp tỉnh? Ở cấp doanh nghiệp, biến phụ thuộc là điểm số hiệu quả phân bổ ($AE$) tính từ DEA bị chặn trong khoảng $(0, 1]$, do đó việc sử dụng hồi quy OLS thông thường sẽ dẫn đến ước lượng bị chệch; mô hình hồi quy kiểm duyệt Tobit là chỉ định kinh tế lượng phù hợp nhất. Ở cấp tỉnh, hiệu quả phân bổ có tính quán tính theo thời gian (tính động), đòi hỏi phải đưa biến phụ thuộc trễ ($AE_{t-1}$) vào mô hình. Mô hình SGMM (System GMM) được lựa chọn nhằm kiểm soát triệt để hiện tượng nội sinh của biến trễ và các biến môi trường kinh doanh, đồng thời cho phép ước lượng tách bạch hệ số tác động trong ngắn hạn và dài hạn.

  5. Việc phân rã TFP theo Olley và Pakes (1996) phản ánh bản chất của hiệu quả phân bổ địa phương như thế nào? Theo phân rã Olley - Pakes, năng suất tổng hợp của ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại một tỉnh được tách thành hai phần: năng suất trung bình không trọng số của các doanh nghiệp và số hạng hiệp phương sai giữa thị phần đầu ra với năng suất. Số hạng hiệp phương sai này chính là đại diện cho hiệu quả phân bổ của địa phương. Khi hiệp phương sai dương và có giá trị lớn, điều đó chứng minh cơ chế thị trường và thể chế tại địa phương đang vận hành tốt, giúp dịch chuyển thị phần và nguồn lực kinh tế tập trung vào các doanh nghiệp có năng suất cao hơn mức trung bình.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Thị Huyền Trang là một công trình khoa học chuyên sâu về kinh tế lượng ứng dụng, giải quyết trọn vẹn bài toán đo lường và đánh giá các nhân tố tác động đến hiệu quả phân bổ nguồn lực của ngành chế biến chế tạo Việt Nam trong giai đoạn 2000-2018. Bằng việc kết hợp phương pháp lập trình phi tham số DEA ở cấp doanh nghiệp và kỹ thuật phân rã hiệp phương sai Olley - Pakes ở cấp địa phương, tác giả đã cung cấp một khung phân tích đa tầng vững chắc. Các mô hình thực nghiệm Tobit và System GMM đã lượng hóa rõ nét vai trò của đặc điểm doanh nghiệp cũng như tác động ngắn hạn và dài hạn của môi trường kinh doanh cấp tỉnh đến hiệu quả phân bổ. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực nghiệm có độ tin cậy cao, phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định chính sách cải cách thể chế kinh tế và nâng cao năng suất công nghiệp quốc gia.