Nghiên Cứu Hiệu Quả Phân Bổ Tài Nguyên Trong Ngành Chế Biến Chế Tạo Tại Việt Nam

Chuyên khảo Hiệu quả phân bổ tài nguyên trong ngành chế biến chế tạo tại việt nam phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

170
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu về các thước đo hiệu quả phân bổ

1.2. Các nghiên cứu nước ngoài

1.3. Các nghiên cứu trong nước

1.4. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ

1.5. Khoảng trống nghiên cứu

1.6. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lý luận về hiệu quả phân bổ

2.2. Khái niệm về hiệu quả phân bổ

2.3. Cơ sở lý luận về hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp

2.4. Cơ sở lý luận về hiệu quả phân bổ ngành - vùng

2.5. Khung nghiên cứu của luận án

2.6. Dữ liệu nghiên cứu

2.7. Phương pháp đo lường hiệu quả phân bổ

2.7.1. Đo lường hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp theo phương pháp phân tích bao dữ liệu

2.7.2. Đo lường hiệu quả phân bổ ngành - vùng theo cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996)

2.8. Các mô hình hồi quy đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ

2.8.1. Mô hình Tobit đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ cấp doanh nghiệp được đo lường theo phương pháp DEA

2.8.2. Mô hình hồi quy đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ ngành - vùng đo lường theo cách tiếp cận Olley and Pakes (1996)

2.9. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN CHẾ TẠO Ở VIỆT NAM

3.1. Hoạt động của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo của Việt Nam

3.2. Thực trạng hoạt động theo quy mô doanh nghiệp

3.3. Thực trạng hoạt động theo loại hình thức sở hữu của doanh nghiệp

3.4. Thực trạng hoạt động theo nhóm ngành kinh tế

3.5. Thực trạng phân bổ vốn và lao động của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam

3.6. Thực trạng phân bổ nguồn lao động của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam

3.7. Thực trạng phân bổ nguồn vốn của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam

3.8. Thực trạng môi trường kinh doanh cấp tỉnh ở Việt Nam

3.9. Kết luận Chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG HIỆU QUẢ PHÂN BỔ VÀ CÁC MÔ HÌNH CHỈ ĐỊNH

4.1. Hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo của Việt Nam

4.2. Hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo đo lường theo phương pháp phân tích bao dữ liệu

4.3. Năng suất và hiệu quả phân bổ ngành - vùng đo lường theo cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996)

4.4. Các mô hình phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo

4.5. Mô hình Tobit phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp đo lường theo phương pháp DEA

4.6. Mô hình dữ liệu mảng phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ ngành - vùng đo lường theo cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996)

4.7. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Hiệu Quả Phân Bổ Nguồn Lực CBCT

Nghiên cứu hiệu quả phân bổ nguồn lực ngành chế biến chế tạo (CBCT) là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Các nhà kinh tế và hoạch định chính sách đều quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sản xuất, bởi nó liên quan trực tiếp đến mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Mục tiêu cuối cùng của nhà sản xuất là tối đa hóa sản lượng, tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối đa hóa tiện ích. Việc đo lường hiệu quả giúp tiết kiệm tài nguyên, tác động đến chính sách và quản lý doanh nghiệp. Theo Farrell (1957), nếu lập kế hoạch kinh tế liên quan đến các ngành cụ thể, cần biết ngành đó có thể tăng sản lượng bao nhiêu bằng cách tăng hiệu quả mà không cần thêm nguồn lực. Các nghiên cứu mở rộng mô hình của Farrell đã được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau. Các thước đo hiệu quả có thể được tách thành ba loại: hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân bổ (AE) và hiệu quả kinh tế (EE).

1.1. Các Nghiên Cứu Tiên Phong Về Hiệu Quả Phân Bổ Tài Nguyên

Nghiên cứu về hiệu quả phân bổ còn tương đối ít, đặc biệt là trong ngành sản xuất. Điều này khá ngạc nhiên vì hiệu quả phân bổ thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế và quản lý doanh nghiệp. Câu hỏi đặt ra là: đâu là sự kết hợp tối ưu của các yếu tố đầu vào để sản xuất ở mức chi phí tối thiểu? Lợi nhuận có thể tăng bao nhiêu nếu phân bổ lại các nguồn lực? Áp lực cạnh tranh gia tăng làm giảm tính không đồng nhất của phân bổ kém hiệu quả trong các ngành ở mức độ nào? Hiệu quả phân bổ còn được gọi là hiệu quả về giá, là thước đo mức độ doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất theo tỷ lệ tốt nhất, dựa trên giá của chúng. Vì vậy, hiệu quả phân bổ thể hiện năng lực của doanh nghiệp.

1.2. Năng Suất Nhân Tố Tổng Hợp TFP và Hiệu Quả Phân Bổ

Để phát triển, các quốc gia và vùng lãnh thổ phải tăng trưởng về sản xuất. Các nghiên cứu kinh tế cổ điển cho thấy hai nguồn chính của tăng trưởng kinh tế và đầu ra là tăng trưởng các yếu tố sản xuất (lao động và vốn đầu tư) và hiệu quả (hoặc năng suất). Năng suất được định nghĩa là “quan hệ tỷ lệ giữa khối lượng đầu ra với khối lượng sử dụng đầu vào”. Theo cách tiếp cận mới, năng suất phản ánh đồng thời tính hiệu quả, hiệu lực, chất lượng của quá trình sản xuất và chất lượng cuộc sống ở mọi cấp độ khác nhau. Các nhà kinh tế học thấy rằng ở những nước và vùng lãnh thổ có trình độ phát triển cao, trong sự tăng trưởng của kết quả sản xuất, ngoài các yếu tố như đầu tư thêm lao động, vốn, tài nguyên, vẫn còn một phần đáng kể được tăng thêm nhờ các yếu tố không phải là vốn và lao động. Những phần tăng năng suất không phải do vốn và lao động này được gọi là Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).

1.3. Tiếp Cận Mới Về TFP và Phân Bổ Nguồn Lực Không Đúng

Solow (1956,1957) cho rằng tích lũy tư bản hiện vật và tiến bộ công nghệ là cơ sở để giải thích vì sao một nước quá giàu còn nước khác quá nghèo. Tuy nhiên, một cách tiếp cận mới cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến chênh lệch trong đầu ra trên đầu người là những chênh lệch trong TFP, chứ không phải lượng vốn vật chất hoặc vốn nhân lực trên một công nhân. TFP gộp không chỉ phụ thuộc TFP của các đơn vị sản xuất riêng lẻ mà còn phụ thuộc vào việc phân bổ các đầu vào như thế nào giữa các đơn vị sản xuất này. TFP gộp có thể thấp bởi vì các đầu vào bị phân bổ không đúng giữa các đơn vị sản xuất không thuần nhất. Đã có nhiều nghiên cứu về phân bổ không đúng và các vấn đề gắn với nó. Luận án này tập trung vào khía cạnh hiệu quả phân bổ ngành - vùng theo cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996), thể hiện mối quan hệ giữa thị phần và năng suất của doanh nghiệp.

II. Thách Thức Đo Lường Hiệu Quả Phân Bổ Ngành CBCT VN

Việc nghiên cứu hiệu quả phân bổ ở cấp doanh nghiệp và cấp ngành – vùng cũng như đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả là một trong những chủ đề kinh điển và thu hút được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu và giới hoạch định chính sách. Tuy nhiên, về phương diện thực nghiệm, các nghiên cứu về tính toán và phân tích hiệu quả phân bổ ở cấp doanh nghiệp và cấp ngành – vùng mặc dù đã có nhiều nghiên cứu nhưng chưa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu và còn nhiều tranh cãi về hạn chế của các phương pháp tính toán, các mô hình đánh giá. Đồng thời các nghiên cứu hiện có chưa hệ thống hóa được các phương pháp sử dụng cũng như chưa chỉ ra được một cách rõ ràng ưu, nhược điểm của từng dòng phương pháp, các kết luận đưa ra cũng chưa thống nhất; chưa có nghiên cứu nào cùng một lúc nghiên cứu về hiệu quả phân bổ ở cả hai cấp độ là cấp doanh nghiệp và cấp ngành - vùng.

2.1. Sự Thiếu Thống Nhất Trong Phương Pháp Đo Lường Hiệu Quả

Các nghiên cứu về tính toán và phân tích hiệu quả phân bổ ở cấp doanh nghiệp và cấp ngành – vùng còn nhiều tranh cãi về hạn chế của các phương pháp tính toán, các mô hình đánh giá. Chưa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu về phương pháp sử dụng, ưu nhược điểm của từng phương pháp, và các kết luận đưa ra.

2.2. Khoảng Trống Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Phân Bổ Đa Cấp Độ

Chưa có nghiên cứu nào cùng một lúc nghiên cứu về hiệu quả phân bổ ở cả hai cấp độ là cấp doanh nghiệp và cấp ngành - vùng. Điều này tạo ra một khoảng trống trong việc hiểu rõ mối liên hệ giữa hiệu quả ở các cấp độ khác nhau và tác động tổng thể đến nền kinh tế.

III. Phương Pháp DEA Đo Lường Hiệu Quả Phân Bổ Doanh Nghiệp CBCT

Luận án này tập trung vào đo lường hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành CBCT và hiệu quả phân bổ ngành CBCT của các tỉnh ở Việt Nam. Từ đó ước lượng các mô hình phù hợp nhằm phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ tương ứng. Cuối cùng luận án đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ cho các doanh nghiệp, cho ngành chế biến chế tạo và cho các địa phương. Để đo lường hiệu quả phân bổ cấp doanh nghiệp, luận án sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA).

3.1. Ứng Dụng DEA Đo Lường Hiệu Quả Phân Bổ Cấp Doanh Nghiệp

Luận án sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) để đo lường hiệu quả phân bổ cấp doanh nghiệp. DEA là một phương pháp phi tham số, sử dụng lập trình tuyến tính để xác định biên sản xuất hiệu quả và đánh giá hiệu quả của các đơn vị ra quyết định (DMU) so với biên này.

3.2. Phương Pháp Olley and Pakes 1996 Đo Lường Hiệu Quả Ngành

Để đo lường hiệu quả phân bổ ngành CBCT ở cấp tỉnh, luận án sử dụng phương pháp phân rã năng suất theo cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996). Phương pháp này cho phép phân tách năng suất tổng hợp thành các thành phần khác nhau, bao gồm cả hiệu quả phân bổ.

3.3. Mô Hình Tobit Phân Tích Tác Động Các Nhân Tố Đến AE Doanh Nghiệp

Với AE cấp doanh nghiệp, luận án ước lượng mô hình Tobit trên mẫu toàn thể và trên các mẫu nhỏ, chia DN theo loại hình sở hữu, trình độ công nghệ và quy mô của doanh nghiệp. Mô hình Tobit được sử dụng vì AE đo lường bằng DEA có giới hạn trên và dưới.

IV. Mô Hình Đánh Giá Tác Động Đến Hiệu Quả Phân Bổ CBCT VN

Luận án sử dụng các mô hình hồi quy để phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành CBCT và hiệu quả phân bổ ngành CBCT của các tỉnh ở Việt Nam. Các mô hình này bao gồm mô hình Tobit cho hiệu quả phân bổ cấp doanh nghiệp và mô hình dữ liệu mảng cho hiệu quả phân bổ cấp tỉnh. Các nhân tố được xem xét bao gồm các biến cấp độ doanh nghiệp, cấp độ ngành và cấp độ địa phương.

4.1. Mô Hình Dữ Liệu Mảng Đánh Giá Tác Động Đến AE Ngành Vùng

Với AE cấp địa phương, luận án ước lượng các mô hình dữ liệu mảng, bao gồm các mô hình dữ liệu mảng tĩnh và mô hình dữ liệu mảng động. Từ những lập luận và phân tích đặc điểm kinh tế lượng của các mô hình, luận án sẽ lựa chọn mô hình phù hợp với bối cảnh Việt Nam để có các phân tích kết quả về mặt kinh tế.

4.2. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Phân Bổ Cấp Doanh Nghiệp

Luận án đánh giá tác động của các nhân tố cấp độ doanh nghiệp, cấp độ ngành và cấp độ địa phương đến hiệu quả phân bổ. Các nhân tố này có thể bao gồm quy mô doanh nghiệp, loại hình sở hữu, trình độ công nghệ, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, và các yếu tố khác.

V. Kết Quả Nghiên Cứu và Khuyến Nghị Nâng Cao Hiệu Quả CBCT

Luận án này đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về hiệu quả phân bổ trong ngành CBCT của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp để đưa ra các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ và năng lực cạnh tranh. Các khuyến nghị được đưa ra dựa trên kết quả phân tích và có tính thực tiễn cao.

5.1. Đóng Góp Mới Về Phương Pháp Đo Lường và Phân Tích AE

Luận án đã tổng hợp, phân tích một cách tương đối đầy đủ và hệ thống về các phương pháp đo lường hiệu quả phân bổ và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ. Luận án đã đo lường được AE của các doanh nghiệp ngành CBCT với hai ý nghĩa khác nhau là hiệu quả phân bổ cấp doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ ngành - vùng bằng hai phương pháp có cơ sở lý thuyết vững chắc và phân tích, đánh giá về các giá trị hiệu quả ước lượng được trong mối quan hệ với đầu ra của doanh nghiệp.

5.2. Nghiên Cứu Đa Cấp Độ Về Hiệu Quả Phân Bổ Ngành CBCT

Sự khác biệt về phương pháp của nghiên cứu này so với các nghiên cứu khác về hiệu quả phân bổ là tác giả cùng lúc nghiên cứu và đo lường AE cũng như ước lượng các mô hình phân tích tác động của các nhân tố đến AE ở hai cấp độ khác nhau là cấp doanh nghiệp và cấp ngành - vùng. Trong đó mô hình ứng với AE cấp ngành - vùng, luận án sử dụng các mô hình kinh tế lượng khác nhau, đặc biệt là có tính đến tính động của hiệu quả phân bổ. Từ đó đánh giá được cả các tác động ngắn hạn và dài hạn của các nhân tố đến AE của địa phương.

5.3. Đánh Giá Tác Động Các Nhân Tố Đến AE Ngành CBCT Việt Nam

Luận án đã đánh giá được tác động của các nhân tố cấp độ doanh nghiệp, cấp độ ngành và cấp độ địa phương đến hiệu quả phân bổ. Các kết quả này cung cấp cơ sở để đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành CBCT.

VI. Chính Sách Hỗ Trợ Tối Ưu Phân Bổ Tài Nguyên Ngành CBCT

Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyênnâng cao hiệu quả sản xuất trong ngành CBCT, cần có các chính sách hỗ trợ từ nhà nước. Các chính sách này nên tập trung vào việc cải thiện môi trường kinh doanh, khuyến khích đổi mới công nghệ, và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tiếp cận nguồn vốn và công nghệ mới.

6.1. Cải Thiện Môi Trường Kinh Doanh và Năng Lực Cạnh Tranh

Cần cải thiện môi trường kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động và cạnh tranh. Điều này bao gồm việc giảm thiểu các thủ tục hành chính, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

6.2. Khuyến Khích Đổi Mới Công Nghệ và Chuyển Đổi Số

Nhà nước nên khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) và ứng dụng công nghệ mới. Điều này có thể được thực hiện thông qua các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính, và hợp tác quốc tế.

6.3. Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ SME Tiếp Cận Nguồn Lực

Các SME thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, công nghệ, và thông tin thị trường. Nhà nước nên có các chính sách hỗ trợ đặc biệt cho các SME, chẳng hạn như các chương trình cho vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật, và đào tạo nguồn nhân lực.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

06/06/2025
Hiệu quả phân bổ và một số mô hình đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành công nghiệp của việt na

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, luận án trình bày tổng quan nghiên cứu về hiệu quả phân bổ. Trong đó tập trung vào hai nội dung chính là tổng quan nghiên cứu về các thước đo hiệu quả phân bổ và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ. Từ đó luận án rút ra được khoảng trống nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu về các thước đo hiệu quả phân bổ Trong các nghiên cứu về hiệu quả phân bổ, thường chỉ tập trung vào xem xét hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp nếu muốn xem xét việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hoặc tập trung vào hiệu quả phân bổ theo ngành - vùng nếu muốn có khuyến nghị chính sách về giảm phân bổ sai.

Như vậy cùng là hiệu quả phân bổ nhưng quan niệm về mỗi loại hiệu quả phân bổ rất khác nhau, vì vậy cách tiếp cận để ước lượng cũng khác nhau. Luận án sẽ trình bày tổng quan các nghiên cứu nước ngoài và tổng quan các nghiên cứu trong nước. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Phương pháp đo lường hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp “Phép đo hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp được xuất phát từ một bài báo của Farrell (1957), trong đó sử dụng khái niệm hiệu quả được công nhận bởi Koopmans (1951) và thước đo hiệu quả xuyên tâm được xem xét bởi Debreu (1951) để giới thiệu nền tảng cho phân tích hiệu quả có tính đến nhiều yếu tố đầu vào.

Ông phân biệt giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Nếu một doanh nghiệp đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì nó sẽ đạt hiệu quả chi phí (CE) hay hiệu quả tổng thể, một số tài liệu gọi là hiệu quả kinh tế - EE (Coelli và cộng sự, 2005). Khi mà quá trình sản xuất ở các doanh nghiệp trở nên đạt hiệu quả kỹ thuật, vấn đề về hiệu quả phân bổ sẽ phát sinh (Chukwuji và cộng sự, 2006). Cũng có rất nhiều thước đo khác nhau về hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp.

Luận án sẽ xem xét các thước đo hiệu quả phân bổ từ đơn giản đến phức tạp. Đo lường hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp theo các cách tiếp cận đơn giản “Hiệu quả phân bổ có thể được diễn tả như một độ đo khả năng doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất trong sự kết hợp tốt nhất được cho là yếu tố giá cả, mà có thể gọi là hiệu quả giá của sản xuất (Farrell and PEARsoN, 1957). Hiệu quả phân bổ có thể được định nghĩa như tỷ số của tổng chi phí sản xuất một đơn vị của một đầu ra với tổng 8 chi phí của việc sản xuất đơn vị đầu ra giống như thế, trong khi sử dụng tối ưu các cách kết hợp các nhân tố đạt hiệu quả kỹ thuật (Chukwuji và cộng sự, 2006).”Một doanh nghiệp được cho là phân bổ hiệu quả nếu tỷ lệ của sản phẩm cận biên (𝑀𝑃𝑋 ) giữa tất cả 𝑀𝑃𝑋𝑖 𝑃𝑖 các đầu vào bằng tỷ lệ giá đầu vào, hay = và do đó khả năng doanh nghiệp sản 𝑀𝑃𝑋𝑙 𝑃𝑙 xuất với tỷ lệ thay thế cận biên của kỹ thuật giữa hai đầu vào bất kỳ trong số các đầu vào của nó là bằng tỷ lệ giá đầu vào tương ứng (Ajibefun and Daramola, 2003). Theo Omonona và cộng sự (2010), phân bổ hiệu quả là một điều kiện để tối đa hóa lợi nhuận.

Bằng cách xem xét chi phí đầu vào trong mối quan hệ với doanh thu dự kiến được tạo nên từ các đầu vào, phương pháp cho chi phí thấp nhất sẽ là hiệu quả nhất (Chukwuji và cộng sự, 2006). Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận ở một thị trường cạnh tranh hoàn hảo là một doanh nghiệp phải có khả năng cân bằng sản phẩm giá trị cận biên (MVP) của mỗi tài nguyên được sử dụng với chi phí đơn vị của nó, yêu cầu doanh thu thêm được từ việc sử dụng một đơn vị tài nguyên bổ sung phải bằng với chi phí đơn vị của nó (Chukwuji và cộng sự, 2006). Các doanh nghiệp được phân bổ hiệu quả một cách hoàn hảo đang hoạt động tại thời điểm mà đường đẳng lượng và đẳng phí trong đường biên sản xuất là tiếp xúc nhau. Các nhà sản xuất tối đa hóa lợi nhuận có thể coi là phân bổ kém hiệu quả nếu họ không phân bổ đầu vào tối ưu với giá đầu vào và đầu ra đã cho (Kumbhakar and Wang, 2006).

Sự thiếu hiệu quả kinh nghiệm của nông dân là một dấu hiệu cho thấy sản lượng nông nghiệp có thể được cải thiện như thế nào thông qua phân bổ lại nguồn lực, cách tạo ra độ đo hiệu quả phân bổ là rất quan trọng. Hiệu quả phân bổ có thể được đo nếu thông tin giá đầu vào là có sẵn. Tuy nhiên Inoni (2007) tìm thấy rằng để ước lượng hiệu quả sử dụng tài nguyên, việc xác định các tham số như sản phẩm cận biên vật lý (MPP), chi phí nhân tố cận biên (MFC) và sản phẩm giá trị cận biên (MVP) là bắt buộc. Theo Cooper và cộng sự (2006), có hai kịch bản khác nhau để đo hiệu quả phân bổ.

Một là, giá và chi phí là như nhau cho các doanh nghiệp được đo hiệu quả phân bổ. Hai là, giá và chi phí cho các doanh nghiệp được đo hiệu quả phân bổ là khác nhau. Trong thực tế kinh doanh, giá và chi phí chung cho tất cả các doanh nghiệp không phải luôn luôn có giá trị, do đó nhiều thước đo của hiệu quả phân bổ được phát triển. Nó bao gồm hiệu quả lợi nhuận (PE), hiệu quả doanh thu (RE) và hiệu quả chi phí (CE).

Theo Ali and Flinn (1989), hiệu quả lợi nhuận có thể được định nghĩa như khả năng một doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao nhất có thể, giá và mức độ của các nhân tố cố định của doanh nghiệp là đã cho. Trong bối cảnh này, kém hiệu quả lợi nhuận được định nghĩa là sự mất lợi nhuận từ việc không hoạt động trên biên. Hiệu quả doanh thu được định nghĩa 9 là tỷ số giữa thu nhập lớn nhất có thể với một giá cho trước và thu nhập thực tế để sản xuất ở mức giá đó (Cooper và cộng sự, 2006). Maudos và cộng sự (2002) biểu diễn hiệu quả chi phí là tỷ số giữa chi phí nhỏ nhất để đạt được một khối lượng sản xuất cho trước và chi phí thực tế để sản xuất ra lượng sản phẩm đó.

Hiệu quả chi phí có thể được cải thiện nếu đầu ra được duy trì với một sự tăng đầu vào tương ứng ít hơn với thông tin về giá cho trước (Badar và cộng sự, 2008). Theo Cooper và cộng sự (2006) giá và chi phí có thể giống hoặc khác nhau từ nhà sản xuất này đến nhà sản xuất khác và khi lựa chọn một thước đo hiệu quả phân bổ, quyết định nên được chỉ dẫn bởi thông tin giá cả có sẵn. Hiệu quả lợi nhuận có thể được sử dụng như một thước đo hiệu quả phân bổ khi giá đầu vào và giá sản phẩm cho các nhà sản xuất khác nhau. Đối với các nhà sản xuất nhận được các mức giá khác nhau, trong khi phải đối mặt với cùng một giá đầu vào, hiệu quả doanh thu sẽ được sử dụng như độ đo cho hiệu quả phân bổ.

Hiệu quả chi phí cũng có thể được sử dụng để xác định hiệu quả phân bổ khi giá các nhà sản xuất trả cho đầu vào khác nhau, trong khi giá sản xuất là như nhau dọc theo mẫu. Đo lường hiệu quả phân bổ theo cách tiếp cận tham số và phi tham số “Cùng với sự phát triển của các kỹ thuật tính toán và ứng dụng của toán học trong kinh tế, đã có thêm các phương pháp để ước lượng các loại hiệu quả sản xuất nói chung và hiệu quả phân bổ nói riêng một cách chính xác hơn. Đó là cách tiếp cận tham số và cách tiếp cận phi tham số. Sự khác nhau chính của hai cách tiếp cận này là cách tiếp cận tham số chỉ định một dạng hàm đặc biệt cho hàm sản xuất hoặc hàm chi phí trong khi cách tiếp cận phi tham số thì không.” Cách tiếp cận tham số “Cách tiếp cận tham số sử dụng các kỹ thuật ước lượng khả năng tối đa để tính hàm biên trong một mẫu đã cho (Sarafidis, 2002).

Với cách tiếp cận biên, cần giả định rằng các ngành đều sử dụng một loại công nghệ và cùng đường biên sản xuất. Có ba kỹ thuật đường biên tham số chính là tiếp cận đường biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Approach - SFA), tiếp cận đường biên dày (Thick Frontier Approach - TFA) và tiếp cận phân phối tự do (Distribution Free Approach - DFA). Trong đó cách tiếp cận đường biên ngẫu nhiên được sử dụng phổ biến nhất. Aigner and Chu (1968) là một trong những nghiên cứu đầu tiên đưa ra cách tiếp cận đường biên.

Với giả định một hàm sản xuất dạng Cobb – Douglas, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận tham số để xác định sự đóng góp của từng nhân tố đầu vào đến quá trình sản xuất. Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên đề cập đến nhiễu ngẫu nhiên và cho phép kiểm định thống kê các giả thuyết liên quan đến cấu trúc sản xuất và mức 10 độ phi hiệu quả (Sharma và cộng sự, 1999). Tuy nhiên điểm yếu chính của cách tiếp cận này là nó yêu cầu áp đặt một dạng tham số rõ ràng cho công nghệ cơ bản và giả định phân phối rõ ràng cho số hạng không hiệu quả (Chavas and Aliber, 1993). Luận án sẽ điểm qua một số bài báo sử dụng phương pháp này.” Badunenko và cộng sự (2008) đã sử dụng số liệu của 900 doanh nghiệp ngành hóa chất của Đức năm 2003 để đo lường các loại hiệu quả theo phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên, không cần giá đầu vào.

Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng có một mức độ tương đối thấp của hiệu quả chi phí. Hiệu quả kỹ thuật kém là nguyên nhân chính của các điều quan sát được sau đây. Các doanh nghiệp nhỏ hơn lại hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp hóa chất của Đức về trung bình là kém về hiệu quả phân bổ, tức là không lựa chọn một sự kết hợp tối ưu các đầu vào. Với dữ liệu bảng không cân bằng của 5000 doanh nghiệp trong 15 ngành hoạt động của Bờ Biển Ngà từ năm 2000 đến năm 2010, Ouattara (2012) cũng sử dụng phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên để đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế của 15 ngành kinh tế của quốc gia này và sử dụng mô hình Tobit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến từng loại hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ