ĐẶT VẤN ĐỀ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật nói chung và ngành công nghiệp hoá chất nói riêng đã tác động đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời với xu thế ngày càng tăng. Tích lũy chất độc là một trong các yếu tố chính quyết định sự hình thành các bệnh mạn tính và làm suy giảm sức khỏe con ngƣời. Nghiên cứu các biện pháp ngăn ngừa và đào thải sự tích lũy hóa chất và hóa chất nội sinh là một vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết nhằm giảm bớt gánh nặng ảnh hƣởng của các hóa chất độc hại tác động liên tục đến sức khỏe con ngƣời. Trong những năm gần đây, tình hình ô nhiễm hoá chất trong các ngành công nghiệp ở Việt Nam chiếm tỷ lệ cao.
Phần lớn nhà máy sản xuất vật liệu nổ đều có ô nhiễm Trinitrotoluen (TNT), số mẫu đo nồng độ TNT trong môi trƣờng lao động (MTLĐ) không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ) chiếm tỷ lệ cao (76,6%), nồng độ TNT trong MTLĐ vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP) nhiều lần [1]. Chất nổ TNT đƣợc sử dụng rộng rãi không chỉ trong công nghiệp quốc phòng mà còn phục vụ cho các ngành kinh tế khác, tuy chƣa có thống kê đầy đủ nhƣng số lƣợng ngƣời tiếp xúc với TNT là không nhỏ [2]. Làm việc trong điều kiện MTLĐ bị ô nhiễm TNT thì ngƣời lao động sẽ có nguy cơ nhiễm độc TNT mạn tính. Hiện nay số ngƣời đƣợc chẩn đoán và giám định nhiễm độc TNT nghề nghiệp chỉ là phẩn nổi của tảng băng chìm và sự tích lũy TNT trong cơ thể ngƣời lao động chính là yếu tố nguy cơ nhiễm độc nghề nghiệp sau nhiều năm làm việc tiếp xúc trực tiếp.
TNT là chất độc có ái tính với tổ chức lipid, TNT và các sản phẩm chuyển hóa của nó có trong cơ thể có khả năng gây tổn thƣơng đa dạng cho các cơ quan nhƣ gan, máu, cơ quan tạo máu, thần kinh, mắt, da, đƣờng tiêu hoá cùng nhiều rối loạn chuyển hoá khác [3], [4]. Kết quả của những nghiên cứu trong và ngoài nƣớc cho rằng TNT và các sản phẩm chuyển hóa của nó là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những chất oxy hoá vì chứa các nhóm NO2, do đó có khả năng sinh gốc tự do khi xâm nhập vào cơ thể ngƣời và động vật máu nóng. Đây đƣợc coi là cơ chế làm sáng tỏ những tổn thƣơng cơ thể của TNT đƣợc nhiều nhà khoa học đề cập tới [5]. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu chứng minh ảnh hƣởng của TNT tới sức khoẻ con ngƣời nhƣng những nghiên cứu về các biện pháp làm thế nào để giải độc TNT, ngăn ngừa nhiễm độc TNT nghề nghiệp thì còn rất hạn chế.
Giải độc không đặc hiệu ứng dụng liệu pháp Hubbard đƣợc chứng minh là có hiệu quả với nhiều loại hóa chất có khả năng hòa tan trong lipid nhƣ: các hợp chất hydrocacbon mạch vòng chứa clo, hóa chất bảo vệ thực vật, các kim loại nặng nhƣ chì, thủy ngân. Các nghiên cứu ứng dụng liệu pháp Hubbard trong giải độc không đặc hiệu với hoá chất đã cho thấy liệu pháp này có tác dụng tích cực với khả năng chống lại stress oxi hoá của cơ thể, có tác dụng bảo vệ cơ thể trƣớc sự tấn công của gốc tự do [6], [7]. Điều này gợi ý rằng, có thể ứng dụng liệu pháp Hubbard để giải độc không đặc hiệu cho ngƣời tiếp xúc với TNT (bởi TNT là hoá chất có ái tính với tổ chức lipid và TNT sinh gốc tự do khi tồn tại trong cơ thể), đây là vấn đề mới cần đƣợc nghiên cứu và đánh giá hiệu quả. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài đánh giá hiệu quả giải độc không đặc hiệu của liệu pháp Hubbard ở ngƣời tiếp xúc nghề nghiệp với TNT với hai mục tiêu sau đây: 1.
Đánh giá sự biến đổi một số chỉ số lâm sàng trên người tiếp xúc nghề nghiệp với TNT sau 3 tuần điều trị giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp Hubbard. Xác định sự biến đổi một số chỉ số hóa sinh, huyết học, miễn dịch (một số chỉ số chống oxy hóa và một số Cytokine tạo máu, miễn dịch) ở người tiếp xúc nghề nghiệp với TNT sau 3 tuần điều trị giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp Hubbard. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Động học TNT 1.
Cấu trúc và tính chất hoá lý của TNT TNT là hợp chất hydrocarbon có nhân thơm, đƣợc sản xuất bằng phản ứng Nitro hóa nhóm hydro của 2,4 (hoặc 2,6) dinitrotoluen, TNT có công thức phân tử là C6H2CH3(NO2)3. Cấu trúc của TNT *Nguồn: theo Qasim. Độc tính của TNT TNT có thể gây nhiễm độc cấp, bán cấp và mạn tính trên ngƣời. Ngƣời ta thấy rằng độc tính của TNT phụ thuộc vào đƣờng xâm nhập của cơ thể.
Liều chết trung bình (LD50) trên chuột đực và chuột cái qua đƣờng tiêu hóa lần lƣợt là 607 và 767 mg/kg [10], đối với ngƣời từ 0,3 - 2g/kg thể trọng (trích theo tác giả Nguyễn Minh Hiếu) [3]. Hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ TNT Những nghiên cứu trên động vật nhƣ chuột, chó, thỏ cho thấy khi vào cơ thể qua đƣờng tiêu hoá, có tới hơn 60% tổng lƣợng TNT đƣợc hấp thu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lƣợng TNT hấp thu qua da thấp hơn (16-68%) so với hấp thu qua đƣờng tiêu hoá. Trên động vật, nồng độ TNT cao nhất có mặt tại gan, cơ xƣơng, máu và tổ chức giàu lipid.
TNT đƣợc chuyển hoá thành một vài dạng chất trung gian hoá học và có thể phát hiện đƣợc trong nƣớc tiểu của ngƣời tiếp xúc. Những nghiên cứu trên động vật cho thấy, đƣờng hấp thu rõ ràng có ảnh hƣởng tới quá trình chuyển hoá TNT trong cơ thể. Có rất ít thông tin nghiên cứu trên ngƣời về quá trình hấp thu, phân phối, chuyển hoá và thải trừ TNT. Những nghiên cứu trên động vật cho biết TNT và các sản phẩm chuyển hoá của chúng chủ yếu đƣợc thải trừ qua nƣớc tiểu.
Hấp thu Đường hô hấp Hassman P. và CS (1976) cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa nồng độ TNT trong không khí với hàm lƣợng chất chuyển hoá của nó là ADNT (4- amino-2,6-dinitrotoluene) trong nƣớc tiểu của ngƣời tiếp xúc. Hàm lƣợng ADNT niệu tăng nhanh trong ngày làm việc sau đó giảm dần trong vòng 24 giờ và tiệm cận tới gần giá trị ADNT đo đƣợc tại đầu giờ làm việc của buổi sáng hôm trƣớc. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng quá trình hấp thu TNT qua đƣờng hô hấp và thải trừ xảy ra khá nhanh, quá trình thải trừ xảy ra ngay trong khi TNT vẫn tiếp tục hấp thu qua đƣờng hô hấp [11].
Nghiên cứu của El-hawari A. và CS (1981) trên chuột gây nhiễm độc “TNT đánh dấu phóng xạ”. Nghiên cứu tiến hành trên hai nhóm chuột gây nhiễm độc TNT nhƣng đƣờng vào khác nhau, một nhóm đƣợc tiêm “TNT đánh dấu phóng xạ” vào khí quản với liều 50mg/kg trên chuột đƣợc gây mê và một nhóm uống “TNT có đánh dấu phóng xạ” với liều tƣơng tự (50mg/kg). Sau 4 giờ, các mô và mẫu nƣớc tiểu đƣợc thu thập từ cả hai nhóm để phân tích hoạt độ phóng xạ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, lƣợng TNT trung bình trong nƣớc tiểu của nhóm chuột hấp thu TNT qua đƣờng hô hấp và nhóm chuột hấp thu TNT LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua tiêu hoá lần lƣợt là 19,3% và 14,6% lƣợng TNT đƣa vào ban đầu [12]. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về tỷ lệ hấp thu TNT và quá trình hấp thu phụ thuộc vào đƣờng xâm nhập của TNT vào cơ thể [12]. Đường tiêu hóa Sự biến màu của nƣớc tiểu là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho biết quá trình chuyển hoá TNT đã xảy ra trong cơ thể sau khi TNT đƣợc hấp thu. Màu sắc nƣớc tiểu quan sát thấy ở ngƣời tiếp xúc biến đổi từ màu hổ phách cho tới màu đỏ xậm.
Những dấu hiệu tƣơng tự cũng quan sát thấy trên động vật thực nghiệm. Sau khi hấp thu 10.000mg/kg qua đƣờng tiêu hoá, chỉ sau 60 phút nƣớc tiểu của chuột cống và chuột nhắt trở thành màu đỏ. Sự biến màu của nƣớc tiểu đƣợc ghi nhận ở cả chuột cống và chuột nhắt khi hấp thu TNT qua đƣờng tiêu hoá với liều lần lƣợt là 34,7mg/kg và 35,7mg/kg trong 13 tuần. Gây nhiễm độc TNT đƣờng tiêu hoá với liều 20mg/kg/ngày trong 13 tuần, nƣớc tiểu của chó chuyển thành màu vàng cam.
Trong khi đó với liều từ 8- 32 mg/kg trong 26 tuần, nƣớc tiểu của chó có màu nâu nhạt tới màu nâu đậm [13]. Sự biến mầu của nƣớc tiểu là dấu hiệu gián tiếp cho thấy TNT đã đƣợc hấp thu [14]. Sự biến màu của nƣớc tiểu thành màu đỏ không quan sát thấy ở thỏ và chó, sự khác nhau về màu sắc nƣớc tiểu ở những loài động vật khác nhau khi hấp thu TNT qua đƣờng tiêu hoá gợi ý sự có mặt của các chất chuyển hoá khác nhau của TNT trong nƣớc tiểu mà các chất chuyển hoá này chƣa xác định đƣợc. Để đánh giá mức độ hấp thu TNT qua đƣờng tiêu hoá, ngƣời ta tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên chuột nhắt, chuột cống, chó và thỏ bằng TNT đánh dấu phóng xạ.
Hoạt độ phóng xạ đƣợc thu thập sau 24 giờ, kết quả là hoạt độ phóng xạ trong nƣớc tiểu lần lƣợt là 59,5%, 59%, 61% và 74,3% ở chuột cống, chuột nhắt, chó và thỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy TNT hấp thu tƣơng đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhanh qua đƣờng tiêu hoá và phần lớn lƣợng TNT hấp thu đƣợc đào thải ra qua nƣớc tiểu trong vòng 24 giờ. Hấp thu qua da Còn ít dữ liệu trên ngƣời về hấp thu TNT qua da, nhƣng một số nghiên cứu cho thấy tốc độ hấp thu qua da khá nhanh. và CS (1986), nghiên cứu độ thanh thải ADNT của 25 công nhân tiếp xúc với TNT.
Trong một phân nhóm gồm 09 công nhân đã tách rời khỏi MTLĐ 17 ngày, tác giả nhận thấy có 8/9 công nhân phát hiện đƣợc ADNT trong nƣớc tiểu. Kết quả này cho thấy, một phần TNT hấp thu vào và sản phẩm chuyển hoá của nó thải trừ tƣơng đối chậm. Theo dõi và giám sát chặt chẽ 05 công nhân trong số 25 công nhân trong suốt thời gian của 02 ca làm việc, kết quả nghiên cứu cho biết TNT đƣợc hấp thu nhanh trong suốt thời gian tiếp xúc. Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là một phần TNT vẫn hấp thu vào cơ thể qua đƣờng hô hấp [15].
Quá trình hấp thu và thải trừ TNT khác nhau tuỳ theo đƣờng xâm nhập của TNT vào cơ thể.