Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu hiệu quả giải độc không đặc hiệu của liệu pháp hubbard ở người tiếp xúc nghề nghiệp với trinitrotoluene

Chuyên khảo Hiệu quả giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp hubbard cho người tiếp phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực công

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Y học Dự phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

179
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt trong luận án

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Danh mục các biểu đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Động học TNT

1.2. Cấu trúc và tính chất hoá lý của TNT:

1.3. Độc tính của TNT

1.4. Hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ TNT

1.5. Tổn thƣơng cơ thể do tiếp xúc TNT nghề nghiệp

1.6. Tổn thƣơng máu và cơ quan tạo máu

1.7. Tổn thƣơng gan

1.8. Tổn thƣơng hệ thống thần kinh

1.9. Tổn thƣơng đƣờng tiêu hóa

1.10. Tổn thƣơng khác

1.11. Một số vấn đề về gốc tự do và cơ chế sinh gốc tự do của TNT.

1.11.1. Khái niệm gốc tự do

1.11.2. Sự hình thành gốc tự do trong cơ thể

1.11.3. Hệ thống chống oxy hóa trong cơ thể. Cơ chế sinh gốc tự do của TNT

1.12. Một số phƣơng pháp dự phòng và điều trị nhiễm độc TNT nghề nghiệp hiện nay đang áp dụng ở Việt Nam:

1.13. Giải độc và các phƣơng pháp điều trị giải độc

1.13.1. Các pha của quá trình giải độc

1.13.2. Các phƣơng pháp giải độc

1.14. Giải độc không đặc hiệu theo nguyên lý của Hubbard

1.15. Cơ sở khoa học và nội dung chính của giải độc không đặc hiệu theo nguyên lý của Hubbard

1.16. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc về ứng dụng liệu pháp Hubbard trong điều trị giải độc không đặc hiệu

2. Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.1.3. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.1.4. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.2. Vật liệu dùng trong nghiên cứu

2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

2.3.2. Phƣơng pháp chọn mẫu

2.3.3. Các bƣớc tiến hành quy trình điều trị giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp Hubbard

2.3.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4. Phƣơng pháp thu thập số liệu

2.4.1. Thu thập số liệu đánh giá các chỉ tiêu lâm sàng

2.4.2. Thu thập số liệu đánh giá các chỉ tiêu cận lâm sàng

2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

2.6. Phân tích và xử lý số liệu

3. Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu theo phân bố giới tính

3.1.2. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu theo phân bố tuổi đời

3.1.3. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu theo phân bố tuổi nghề

3.2. Kết quả nghiên cứu hiệu quả giải độc không đặc hiệu của liệu pháp Hubbard qua sự biến đổi tình trạng sức khỏe

3.2.1. Tỷ lệ một số triệu chứng trƣớc và sau điều trị theo giới tính

3.2.2. Kết quả nghiên cứu về biến đổi tình trạng thể lực

3.2.3. Hiệu quả điều trị với các triệu chứng tim mạch

3.2.4. Hiệu quả điều trị với các triệu chứng về tiêu hóa

3.2.5. Hiệu quả điều trị với các triệu chứng của hệ thần kinh

3.2.6. Hiệu quả điều trị với các triệu chứng cơ xƣơng khớp

3.2.7. Cải thiện chất lƣợng giấc ngủ sau điều trị

3.2.8. Cải thiện chất lƣợng cuộc sống sau điều trị

3.3. Đánh giá hiệu quả điều trị qua sự biến đổi các chỉ tiêu xét nghiệm cận lâm sàng:

3.3.1. Biến đổi một số chỉ tiêu xét nghiệm huyết học sau điều trị

3.3.2. Biến đổi một số chỉ tiêu xét nghiệm hóa sinh máu sau điều trị

3.4. Hiệu quả điều trị đối với đào thải TNT

3.5. Hiệu quả chống gốc tự do và tình trạng stress oxi hoá

3.6. Hiệu quả kích thích tạo máu qua sự thay đổi của Erythropietin và Erythropoietin Receptor

3.7. Hiệu quả tăng cƣờng miễn dịch qua sự biến đổi của IFNγ

3.8. Tác dụng không mong muốn xuất hiện trong quá trình điều trị

3.9. Đề xuất phác đồ điều trị giải độc không đặc hiệu cho ngƣời tiếp xúc TNT bằng liệu pháp Hubbard

4. Chƣơng 4: BÀN LUẬN

4.1. Khả năng ứng dụng phƣơng pháp Hubbard trong điều trị giải độc cho ngƣời tiếp xúc TNT nghề nghiệp

4.2. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu

4.2.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu:

4.2.2. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu theo phân bố giới tính, tuổi đời

4.2.3. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu theo phân bố tuổi nghề

4.3. Kết quả nghiên cứu hiệu quả giải độc không đặc hiệu của liệu pháp Hubbard qua sự biến đổi tình trạng sức khỏe

4.3.1. Tỷ lệ một số triệu chứng trƣớc và sau điều trị theo phân bố giới tính

4.3.2. Kết quả nghiên cứu về biến đổi tình trạng thể lực sau điều trị

4.3.3. Hiệu quả điều trị với các triệu chứng tim mạch

4.3.4. Hiệu quả điều trị với các triệu chứng về tiêu hóa

4.3.5. Hiệu quả điều trị với các triệu chứng thần kinh

4.3.6. Hiệu quả điều trị với các triệu chứng cơ xƣơng khớp

4.3.7. Cải thiện chất lƣợng giấc ngủ sau điều trị

4.3.8. Hiệu quả điều trị đánh giá qua thay đổi chất lƣợng cuộc sống

4.4. Đánh giá hiệu quả điều trị qua sự thay đổi các chỉ tiêu cận lâm sàng

4.4.1. Biến đổi một số chỉ tiêu xét nghiệm huyết học sau điều trị

4.4.2. Biến đổi một số chỉ tiêu hóa sinh máu trƣớc và sau điều trị

4.5. Hiệu quả điều trị đối với sự đào thải TNT

4.6. Hiệu quả chống gốc tự do và ngăn ngừa tình trạng stress oxi hoá

4.7. Đánh giá hiệu quả điều trị qua sự thay đổi các yếu tố kích thích tạo máu EPO và EPOR

4.8. Hiệu quả tăng cƣờng miễn dịch đánh giá qua sự thay đổi IFNγ

4.9. Tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị

4.10. Những hạn chế trong nghiên cứu và đóng góp của luận án

4.10.1. Những hạn chế trong nghiên cứu

4.10.2. Những đóng góp của luận án

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. Danh sách công nhân tham gia nghiên cứu

2. Phiếu điều tra

3. Bệnh án nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp Hubbard

Nghiên cứu về giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp Hubbard đã thu hút sự chú ý trong những năm gần đây. Liệu pháp này được áp dụng để giảm thiểu tác động của các chất độc hại như trinitrotoluene (TNT). TNT là một trong những hóa chất độc hại phổ biến trong ngành công nghiệp, gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Việc tìm hiểu hiệu quả của liệu pháp này là cần thiết để bảo vệ sức khỏe người lao động.

1.1. Đặc điểm của trinitrotoluene và tác động của nó

TNT là một hợp chất hóa học có độc tính cao, gây ra nhiều tổn thương cho cơ thể. Nghiên cứu cho thấy TNT có thể gây ra các triệu chứng như mệt mỏi, đau đầu và rối loạn tiêu hóa. Việc hiểu rõ về độc tính của TNT là bước đầu tiên trong việc áp dụng liệu pháp giải độc.

1.2. Giới thiệu về liệu pháp Hubbard

Liệu pháp Hubbard là một phương pháp giải độc không đặc hiệu, được thiết kế để loại bỏ các chất độc ra khỏi cơ thể. Phương pháp này bao gồm việc sử dụng xông hơi, vitamin và khoáng chất để hỗ trợ quá trình giải độc. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng liệu pháp này có thể cải thiện tình trạng sức khỏe của người tiếp xúc với TNT.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu giải độc TNT

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về giải độc TNT, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc áp dụng liệu pháp Hubbard. Một trong những vấn đề chính là sự thiếu hụt dữ liệu về hiệu quả của liệu pháp này trong việc giải độc TNT. Nhiều nghiên cứu trước đây chưa cung cấp đủ bằng chứng để khẳng định tính hiệu quả của phương pháp này.

2.1. Thiếu hụt dữ liệu nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu hiện tại chỉ tập trung vào các phương pháp điều trị khác mà không xem xét liệu pháp Hubbard. Điều này dẫn đến việc thiếu thông tin cần thiết để đánh giá hiệu quả của liệu pháp này trong việc giải độc TNT.

2.2. Khó khăn trong việc thu thập số liệu

Việc thu thập số liệu từ người lao động tiếp xúc với TNT gặp nhiều khó khăn. Nhiều người không được chẩn đoán chính xác về tình trạng sức khỏe của họ, dẫn đến việc thiếu thông tin trong nghiên cứu.

III. Phương pháp giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp Hubbard

Liệu pháp Hubbard được áp dụng như một phương pháp giải độc không đặc hiệu cho người tiếp xúc với TNT. Phương pháp này bao gồm nhiều bước, từ xông hơi đến bổ sung vitamin và khoáng chất. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng liệu pháp này có thể giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của người lao động.

3.1. Quy trình thực hiện liệu pháp Hubbard

Quy trình thực hiện liệu pháp Hubbard bao gồm các bước như xông hơi, bổ sung niacin và các vitamin khác. Những bước này giúp tăng cường khả năng giải độc của cơ thể và loại bỏ TNT ra khỏi hệ thống.

3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

Để đánh giá hiệu quả của liệu pháp Hubbard, các chỉ tiêu như tình trạng sức khỏe, mức độ mệt mỏi và các triệu chứng khác được theo dõi. Những chỉ tiêu này giúp xác định mức độ cải thiện của người lao động sau khi áp dụng liệu pháp.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả giải độc TNT

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng liệu pháp Hubbard có hiệu quả trong việc giải độc TNT. Các triệu chứng của người lao động đã được cải thiện rõ rệt sau khi áp dụng liệu pháp này. Kết quả cho thấy rằng liệu pháp Hubbard có thể là một giải pháp tiềm năng cho vấn đề giải độc TNT.

4.1. Cải thiện triệu chứng sức khỏe

Sau khi áp dụng liệu pháp Hubbard, nhiều người lao động đã báo cáo sự cải thiện về triệu chứng sức khỏe như giảm mệt mỏi và đau đầu. Điều này cho thấy liệu pháp có tác dụng tích cực trong việc giải độc TNT.

4.2. Đánh giá qua các chỉ số cận lâm sàng

Các chỉ số cận lâm sàng như huyết học và hóa sinh cũng cho thấy sự cải thiện sau khi áp dụng liệu pháp Hubbard. Những thay đổi này cho thấy liệu pháp có thể giúp loại bỏ TNT ra khỏi cơ thể hiệu quả.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về hiệu quả giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp Hubbard cho người tiếp xúc TNT đã mở ra nhiều triển vọng mới. Kết quả cho thấy liệu pháp này có thể là một giải pháp hiệu quả trong việc bảo vệ sức khỏe người lao động. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để khẳng định tính hiệu quả và an toàn của liệu pháp này.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc thu thập dữ liệu và đánh giá hiệu quả của liệu pháp Hubbard trong các điều kiện khác nhau. Điều này sẽ giúp xác định rõ hơn về tính hiệu quả của phương pháp này.

5.2. Hướng đi mới trong nghiên cứu giải độc

Hướng đi mới trong nghiên cứu giải độc cần xem xét các phương pháp kết hợp khác nhau để tối ưu hóa hiệu quả của liệu pháp Hubbard. Việc kết hợp với các phương pháp điều trị khác có thể mang lại kết quả tốt hơn cho người lao động.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật nói chung và ngành công nghiệp hoá chất nói riêng đã tác động đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời với xu thế ngày càng tăng. Tích lũy chất độc là một trong các yếu tố chính quyết định sự hình thành các bệnh mạn tính và làm suy giảm sức khỏe con ngƣời. Nghiên cứu các biện pháp ngăn ngừa và đào thải sự tích lũy hóa chất và hóa chất nội sinh là một vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết nhằm giảm bớt gánh nặng ảnh hƣởng của các hóa chất độc hại tác động liên tục đến sức khỏe con ngƣời. Trong những năm gần đây, tình hình ô nhiễm hoá chất trong các ngành công nghiệp ở Việt Nam chiếm tỷ lệ cao.

Phần lớn nhà máy sản xuất vật liệu nổ đều có ô nhiễm Trinitrotoluen (TNT), số mẫu đo nồng độ TNT trong môi trƣờng lao động (MTLĐ) không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ) chiếm tỷ lệ cao (76,6%), nồng độ TNT trong MTLĐ vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP) nhiều lần [1]. Chất nổ TNT đƣợc sử dụng rộng rãi không chỉ trong công nghiệp quốc phòng mà còn phục vụ cho các ngành kinh tế khác, tuy chƣa có thống kê đầy đủ nhƣng số lƣợng ngƣời tiếp xúc với TNT là không nhỏ [2]. Làm việc trong điều kiện MTLĐ bị ô nhiễm TNT thì ngƣời lao động sẽ có nguy cơ nhiễm độc TNT mạn tính. Hiện nay số ngƣời đƣợc chẩn đoán và giám định nhiễm độc TNT nghề nghiệp chỉ là phẩn nổi của tảng băng chìm và sự tích lũy TNT trong cơ thể ngƣời lao động chính là yếu tố nguy cơ nhiễm độc nghề nghiệp sau nhiều năm làm việc tiếp xúc trực tiếp.

TNT là chất độc có ái tính với tổ chức lipid, TNT và các sản phẩm chuyển hóa của nó có trong cơ thể có khả năng gây tổn thƣơng đa dạng cho các cơ quan nhƣ gan, máu, cơ quan tạo máu, thần kinh, mắt, da, đƣờng tiêu hoá cùng nhiều rối loạn chuyển hoá khác [3], [4]. Kết quả của những nghiên cứu trong và ngoài nƣớc cho rằng TNT và các sản phẩm chuyển hóa của nó là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những chất oxy hoá vì chứa các nhóm NO2, do đó có khả năng sinh gốc tự do khi xâm nhập vào cơ thể ngƣời và động vật máu nóng. Đây đƣợc coi là cơ chế làm sáng tỏ những tổn thƣơng cơ thể của TNT đƣợc nhiều nhà khoa học đề cập tới [5]. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu chứng minh ảnh hƣởng của TNT tới sức khoẻ con ngƣời nhƣng những nghiên cứu về các biện pháp làm thế nào để giải độc TNT, ngăn ngừa nhiễm độc TNT nghề nghiệp thì còn rất hạn chế.

Giải độc không đặc hiệu ứng dụng liệu pháp Hubbard đƣợc chứng minh là có hiệu quả với nhiều loại hóa chất có khả năng hòa tan trong lipid nhƣ: các hợp chất hydrocacbon mạch vòng chứa clo, hóa chất bảo vệ thực vật, các kim loại nặng nhƣ chì, thủy ngân. Các nghiên cứu ứng dụng liệu pháp Hubbard trong giải độc không đặc hiệu với hoá chất đã cho thấy liệu pháp này có tác dụng tích cực với khả năng chống lại stress oxi hoá của cơ thể, có tác dụng bảo vệ cơ thể trƣớc sự tấn công của gốc tự do [6], [7]. Điều này gợi ý rằng, có thể ứng dụng liệu pháp Hubbard để giải độc không đặc hiệu cho ngƣời tiếp xúc với TNT (bởi TNT là hoá chất có ái tính với tổ chức lipid và TNT sinh gốc tự do khi tồn tại trong cơ thể), đây là vấn đề mới cần đƣợc nghiên cứu và đánh giá hiệu quả. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài đánh giá hiệu quả giải độc không đặc hiệu của liệu pháp Hubbard ở ngƣời tiếp xúc nghề nghiệp với TNT với hai mục tiêu sau đây: 1.

Đánh giá sự biến đổi một số chỉ số lâm sàng trên người tiếp xúc nghề nghiệp với TNT sau 3 tuần điều trị giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp Hubbard. Xác định sự biến đổi một số chỉ số hóa sinh, huyết học, miễn dịch (một số chỉ số chống oxy hóa và một số Cytokine tạo máu, miễn dịch) ở người tiếp xúc nghề nghiệp với TNT sau 3 tuần điều trị giải độc không đặc hiệu bằng liệu pháp Hubbard. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Động học TNT 1.

Cấu trúc và tính chất hoá lý của TNT TNT là hợp chất hydrocarbon có nhân thơm, đƣợc sản xuất bằng phản ứng Nitro hóa nhóm hydro của 2,4 (hoặc 2,6) dinitrotoluen, TNT có công thức phân tử là C6H2CH3(NO2)3. Cấu trúc của TNT *Nguồn: theo Qasim. Độc tính của TNT TNT có thể gây nhiễm độc cấp, bán cấp và mạn tính trên ngƣời. Ngƣời ta thấy rằng độc tính của TNT phụ thuộc vào đƣờng xâm nhập của cơ thể.

Liều chết trung bình (LD50) trên chuột đực và chuột cái qua đƣờng tiêu hóa lần lƣợt là 607 và 767 mg/kg [10], đối với ngƣời từ 0,3 - 2g/kg thể trọng (trích theo tác giả Nguyễn Minh Hiếu) [3]. Hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ TNT Những nghiên cứu trên động vật nhƣ chuột, chó, thỏ cho thấy khi vào cơ thể qua đƣờng tiêu hoá, có tới hơn 60% tổng lƣợng TNT đƣợc hấp thu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lƣợng TNT hấp thu qua da thấp hơn (16-68%) so với hấp thu qua đƣờng tiêu hoá. Trên động vật, nồng độ TNT cao nhất có mặt tại gan, cơ xƣơng, máu và tổ chức giàu lipid.

TNT đƣợc chuyển hoá thành một vài dạng chất trung gian hoá học và có thể phát hiện đƣợc trong nƣớc tiểu của ngƣời tiếp xúc. Những nghiên cứu trên động vật cho thấy, đƣờng hấp thu rõ ràng có ảnh hƣởng tới quá trình chuyển hoá TNT trong cơ thể. Có rất ít thông tin nghiên cứu trên ngƣời về quá trình hấp thu, phân phối, chuyển hoá và thải trừ TNT. Những nghiên cứu trên động vật cho biết TNT và các sản phẩm chuyển hoá của chúng chủ yếu đƣợc thải trừ qua nƣớc tiểu.

Hấp thu Đường hô hấp Hassman P. và CS (1976) cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa nồng độ TNT trong không khí với hàm lƣợng chất chuyển hoá của nó là ADNT (4- amino-2,6-dinitrotoluene) trong nƣớc tiểu của ngƣời tiếp xúc. Hàm lƣợng ADNT niệu tăng nhanh trong ngày làm việc sau đó giảm dần trong vòng 24 giờ và tiệm cận tới gần giá trị ADNT đo đƣợc tại đầu giờ làm việc của buổi sáng hôm trƣớc. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng quá trình hấp thu TNT qua đƣờng hô hấp và thải trừ xảy ra khá nhanh, quá trình thải trừ xảy ra ngay trong khi TNT vẫn tiếp tục hấp thu qua đƣờng hô hấp [11].

Nghiên cứu của El-hawari A. và CS (1981) trên chuột gây nhiễm độc “TNT đánh dấu phóng xạ”. Nghiên cứu tiến hành trên hai nhóm chuột gây nhiễm độc TNT nhƣng đƣờng vào khác nhau, một nhóm đƣợc tiêm “TNT đánh dấu phóng xạ” vào khí quản với liều 50mg/kg trên chuột đƣợc gây mê và một nhóm uống “TNT có đánh dấu phóng xạ” với liều tƣơng tự (50mg/kg). Sau 4 giờ, các mô và mẫu nƣớc tiểu đƣợc thu thập từ cả hai nhóm để phân tích hoạt độ phóng xạ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, lƣợng TNT trung bình trong nƣớc tiểu của nhóm chuột hấp thu TNT qua đƣờng hô hấp và nhóm chuột hấp thu TNT LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua tiêu hoá lần lƣợt là 19,3% và 14,6% lƣợng TNT đƣa vào ban đầu [12]. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về tỷ lệ hấp thu TNT và quá trình hấp thu phụ thuộc vào đƣờng xâm nhập của TNT vào cơ thể [12]. Đường tiêu hóa Sự biến màu của nƣớc tiểu là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho biết quá trình chuyển hoá TNT đã xảy ra trong cơ thể sau khi TNT đƣợc hấp thu. Màu sắc nƣớc tiểu quan sát thấy ở ngƣời tiếp xúc biến đổi từ màu hổ phách cho tới màu đỏ xậm.

Những dấu hiệu tƣơng tự cũng quan sát thấy trên động vật thực nghiệm. Sau khi hấp thu 10.000mg/kg qua đƣờng tiêu hoá, chỉ sau 60 phút nƣớc tiểu của chuột cống và chuột nhắt trở thành màu đỏ. Sự biến màu của nƣớc tiểu đƣợc ghi nhận ở cả chuột cống và chuột nhắt khi hấp thu TNT qua đƣờng tiêu hoá với liều lần lƣợt là 34,7mg/kg và 35,7mg/kg trong 13 tuần. Gây nhiễm độc TNT đƣờng tiêu hoá với liều 20mg/kg/ngày trong 13 tuần, nƣớc tiểu của chó chuyển thành màu vàng cam.

Trong khi đó với liều từ 8- 32 mg/kg trong 26 tuần, nƣớc tiểu của chó có màu nâu nhạt tới màu nâu đậm [13]. Sự biến mầu của nƣớc tiểu là dấu hiệu gián tiếp cho thấy TNT đã đƣợc hấp thu [14]. Sự biến màu của nƣớc tiểu thành màu đỏ không quan sát thấy ở thỏ và chó, sự khác nhau về màu sắc nƣớc tiểu ở những loài động vật khác nhau khi hấp thu TNT qua đƣờng tiêu hoá gợi ý sự có mặt của các chất chuyển hoá khác nhau của TNT trong nƣớc tiểu mà các chất chuyển hoá này chƣa xác định đƣợc. Để đánh giá mức độ hấp thu TNT qua đƣờng tiêu hoá, ngƣời ta tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên chuột nhắt, chuột cống, chó và thỏ bằng TNT đánh dấu phóng xạ.

Hoạt độ phóng xạ đƣợc thu thập sau 24 giờ, kết quả là hoạt độ phóng xạ trong nƣớc tiểu lần lƣợt là 59,5%, 59%, 61% và 74,3% ở chuột cống, chuột nhắt, chó và thỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy TNT hấp thu tƣơng đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhanh qua đƣờng tiêu hoá và phần lớn lƣợng TNT hấp thu đƣợc đào thải ra qua nƣớc tiểu trong vòng 24 giờ. Hấp thu qua da Còn ít dữ liệu trên ngƣời về hấp thu TNT qua da, nhƣng một số nghiên cứu cho thấy tốc độ hấp thu qua da khá nhanh. và CS (1986), nghiên cứu độ thanh thải ADNT của 25 công nhân tiếp xúc với TNT.

Trong một phân nhóm gồm 09 công nhân đã tách rời khỏi MTLĐ 17 ngày, tác giả nhận thấy có 8/9 công nhân phát hiện đƣợc ADNT trong nƣớc tiểu. Kết quả này cho thấy, một phần TNT hấp thu vào và sản phẩm chuyển hoá của nó thải trừ tƣơng đối chậm. Theo dõi và giám sát chặt chẽ 05 công nhân trong số 25 công nhân trong suốt thời gian của 02 ca làm việc, kết quả nghiên cứu cho biết TNT đƣợc hấp thu nhanh trong suốt thời gian tiếp xúc. Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là một phần TNT vẫn hấp thu vào cơ thể qua đƣờng hô hấp [15].

Quá trình hấp thu và thải trừ TNT khác nhau tuỳ theo đƣờng xâm nhập của TNT vào cơ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ