Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu hiệu quả điều trị bệnh viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông bằng phương pháp giải mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi

Chuyên khảo Hiệu quả điều trị viêm mũi dị ứng do bụi bông bằng giải mẫn cảm dưới l phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Khoa học y sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2021

172
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG

1.1.1. Khái niệm và phân loại viêm mũi dị ứng

1.1.2. Phân loại viêm mũi dị ứng

1.1.3. Tình hình viêm mũi dị ứng trên thế giới và Việt Nam

1.1.4. Dị nguyên bụi bông và tình hình viêm mũi dị ứng do bụi bông

1.1.4.1. Dị nguyên bụi bông
1.1.4.2. Tình hình viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông
1.1.4.2.1. Thế giới
1.1.4.2.2. Việt Nam

1.1.5. Cơ chế viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông

Tóm tắt

I. Tổng quan về viêm mũi dị ứng và bụi bông

Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là một trong những bệnh lý phổ biến, ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới. Bệnh này thường xảy ra do tiếp xúc với các dị nguyên như bụi bông, gây ra các triệu chứng khó chịu như ngứa mũi, hắt hơi và chảy nước mũi. Theo thống kê, tỷ lệ mắc VMDƯ có thể lên đến 40% ở người lớn và 25% ở trẻ em. Bụi bông, một trong những dị nguyên chính, không chỉ gây ra VMDƯ mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người lao động trong ngành dệt may.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của viêm mũi dị ứng

VMDƯ thường biểu hiện qua các triệu chứng như ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi và tắc nghẽn mũi. Các triệu chứng này có thể xuất hiện theo mùa hoặc quanh năm, tùy thuộc vào loại dị nguyên. Đặc biệt, bụi bông là một trong những nguyên nhân chính gây ra VMDƯ nghề nghiệp trong ngành dệt may.

1.2. Tình hình viêm mũi dị ứng do bụi bông

Tại Việt Nam, tỷ lệ VMDƯ do bụi bông đang gia tăng, đặc biệt trong các nhà máy dệt may. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc VMDƯ ở công nhân ngành dệt may có thể lên đến 34%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả.

II. Thách thức trong điều trị viêm mũi dị ứng do bụi bông

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị VMDƯ, nhưng việc điều trị hiệu quả vẫn gặp nhiều thách thức. Các phương pháp điều trị hiện tại như thuốc kháng histamin và corticosteroid chỉ giúp giảm triệu chứng mà không giải quyết được nguyên nhân gốc rễ. Điều này dẫn đến việc bệnh nhân phải sử dụng thuốc lâu dài, gây ra nhiều tác dụng phụ.

2.1. Hạn chế của các phương pháp điều trị hiện tại

Các phương pháp điều trị hiện tại thường chỉ mang lại hiệu quả tạm thời. Nhiều bệnh nhân phải đối mặt với tình trạng tái phát triệu chứng sau khi ngừng thuốc. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống.

2.2. Tác động của bụi bông đến sức khỏe

Bụi bông không chỉ gây ra VMDƯ mà còn có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác như hen phế quản. Công nhân trong ngành dệt may thường xuyên tiếp xúc với bụi bông có nguy cơ cao mắc các bệnh lý hô hấp.

III. Phương pháp giải mẫn cảm dưới lưỡi cho viêm mũi dị ứng

Giải mẫn cảm dưới lưỡi (SLIT) là một phương pháp điều trị mới, hứa hẹn mang lại hiệu quả cao trong việc điều trị VMDƯ do bụi bông. Phương pháp này giúp cơ thể phát triển khả năng miễn dịch tự nhiên đối với dị nguyên mà không cần phải sử dụng thuốc lâu dài.

3.1. Nguyên lý hoạt động của SLIT

SLIT hoạt động bằng cách đưa một lượng nhỏ dị nguyên vào cơ thể qua đường dưới lưỡi, giúp kích thích hệ miễn dịch mà không gây ra phản ứng dị ứng. Phương pháp này đã được chứng minh là an toàn và hiệu quả trong nhiều nghiên cứu.

3.2. Lợi ích của SLIT so với các phương pháp khác

SLIT có nhiều ưu điểm so với các phương pháp điều trị truyền thống như tiêm dưới da. Phương pháp này dễ thực hiện, không cần đến bệnh viện và có thể được thực hiện tại nhà, giúp bệnh nhân tiết kiệm thời gian và chi phí.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của SLIT

Nghiên cứu gần đây cho thấy SLIT mang lại hiệu quả tích cực trong việc điều trị VMDƯ do bụi bông. Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu đã có sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng và chất lượng cuộc sống sau khi điều trị bằng SLIT trong một thời gian nhất định.

4.1. Cải thiện triệu chứng lâm sàng

Các bệnh nhân điều trị bằng SLIT cho thấy sự giảm đáng kể về tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng VMDƯ. Nghiên cứu cho thấy 80% bệnh nhân có sự cải thiện rõ rệt sau 6 tháng điều trị.

4.2. Tác động tích cực đến chất lượng cuộc sống

Ngoài việc giảm triệu chứng, SLIT còn giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nhiều bệnh nhân báo cáo cảm thấy thoải mái hơn trong sinh hoạt hàng ngày và giảm lo âu về tình trạng sức khỏe của mình.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của điều trị VMDƯ

Việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp SLIT trong điều trị VMDƯ do bụi bông mở ra một hướng đi mới trong y học. Với những kết quả khả quan từ các nghiên cứu, SLIT có thể trở thành phương pháp điều trị chính cho bệnh nhân mắc VMDƯ trong tương lai.

5.1. Tương lai của SLIT trong điều trị VMDƯ

SLIT có tiềm năng trở thành phương pháp điều trị chính cho VMDƯ do bụi bông, giúp bệnh nhân giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống một cách bền vững.

5.2. Nhu cầu nghiên cứu thêm về SLIT

Cần có thêm nhiều nghiên cứu quy mô lớn hơn để xác định hiệu quả lâu dài của SLIT và tìm hiểu thêm về cơ chế hoạt động của phương pháp này trong điều trị VMDƯ.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG 1. Khái niệm và phân loại viêm mũi dị ứng VMDƯ là tình trạng viêm niêm mạc mũi với vai trò của kháng thể (KT) immunoglobulin E (IgE), thường x ảy ra do ti ếp xúc với DN đường hô hấp, với các biểu hiện bệnh lý đặc trưng bởi các triệu chứng: ngứa mũi, hắt hơi, chảy mũi và tắc hoặc ngạt mũi. VMDƯ thường kèm theo viêm kết mạc dị ứng [7].

VMDƯ nghề nghiệp là một bệnh viêm tại mũi, đặc trưng bởi sự xuất hiện liên tục hoặc dai dẳng các triệu chứng (như ng ạt mũi, hắt hơi, chảy mũi, ngứa mũi) và/hoặc giới hạn thông khí tại mũi và/hoặc sự tăng tiết quá mức mà nguyên nhân của các tình trạng đó liên quan đến môi trường làm việc [8]. Trung tâm của định nghĩa này là nhân quả của mối quan hệ giữa: các yếu tố phơi nhiễm trong công việc dẫn tới sự phát triển của bệnh VMDƯ. Nhiều bằng chứng cho rằng môi trường làm việc có thể gây ra hoặc kích hoạt một loạt các phản ứng viêm dị ứng/không dị ứng, tình trạng này nên được gọi là bệnh VMDƯ do nghề nghiệp và cần phân biệt với VMDƯ cộng đồng nhằm đề ra biện pháp dự phòng thích hợp. * Phân loại viêm mũi dị ứng Phân loại theo các yếu tố tiếp xúc VMDƯ theo mùa (seasonal allergic rhinitis) ho ặc (hay fever): liên quan tới nhiều DN ngoài trời như các phấn hoa hoặc các bào tử nấm… VMDƯ quanh năm (perennial allergic rhinitis): th ường xuyên gây nên bởi các DN trong nhà: mạt bụi, các loại côn trùng (con gián), lông da động vật… VMDƯ nghề nghiệp (occupational allergic rhinitis): VMDƯ do tiếp xúc với một chất hoặc nhiều tác nhân tại nơi làm việc ví dụ như công nhân (CN) nhà máy dệt len, sản xuất sợi bông, bụi gỗ, hóa chất công nghiệp… [9].

Phân loại theo Allergic Rhinitis and its Impact on Asthma (ARIA) 2008 Theo báo cáo của ARIA năm 2008 đã phân loại VMDƯ, sự thay đổi quan trọng nhất trong việc phân loại VMDƯ theo ARIA là sử dụng thuật ngữ intermittent allergic rhinitis” VMDƯ gián đoạn và “persistent allergic rhinitis” VMDƯ dai dẳng [7]. ­ Viêm mũi gián đoạn “intermittent allergic rhinitis” < 4 ngày/tuần < 4 tuần ­ Viêm mũi dai dẳng “persistent allergic rhinitis” > 4 ngày/tuần và kéo dài > 4 tuần. Phân loại bệnh viêm mũi dị ứng theo ARIA 2008 *Nguồn: Theo ARIA (2008) [7]. Tình hình viêm mũi dị ứng trên thế giới và Việt Nam 1.

Thế giới Theo các tài liệu thống kê dịch tễ học gần đây ở trong và ngoài nước, cho thấy trong 2 – 3 thập kỷ qua bệnh dị ứng đường hô hấp chủ yếu là hen phế quản (HPQ) và VMDƯ là rất phổ biến và không ngừng gia tăng. Đặc biệt là VMDƯ, chiếm tỷ lệ khá cao. Tỷ lệ dân số mắc bệnh viêm mũi dị ứng Nước VMDƯ(%) Đài Loan 50,1 Singapore 25,6 Lào 21,0 Malaysia 18,8 *Nguồn: Theo Chong S. và cộng sự (2018) [10].

Các nước Châu Á như Hàn Quốc tỷ lệ mắc VMDƯ chiếm 27% dân số, Trung Quốc năm 2014 (6,24%), năm 2015 (9,8%), năm 2016 tăng lên 17,67% [10]. Trong khi đó tỷ lệ mắc là 32 % tại các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất với đối tượng trên 13 tuổi [11]. và cộng sự (2014) phân tích dữ liệu từ cơ sở dữ liệu của Bảo hiểm Y tế Quốc gia Hàn Quốc, dữ liệu chẩn đoán toàn quốc từ năm 2009 đến năm 2014 cho thấy tỷ lệ mắc VMDƯ trên 1000 người dân năm 2014 là 13,31% [12]. Đặc biệt, dữ liệu về tỷ lệ hiện mắc theo độ tuổi ở Nhật Bản năm 2020 cho thấy bệnh VMDƯ quanh năm thường gặp trong số những người trẻ tuổi và bệnh dị ứng phấn hoa là phổ biến ở nhóm tuổi trung niên [13].

Tại Châu Âu, theo một khảo sát cho thấy tỷ lệ VMDƯ tại khoảng từ 17% đến 29%, trung bình 23%. Tỷ lệ viêm mũi dị ứng tại Châu Âu Nước VMDƯ(%) Pháp 24,5 Tây Ban Nha 21,5 Đức 20,6 Ý 16,9 Anh 26,0 Bỉ 28,5 *Nguồn: Theo Bauchau V. và cộng sự (2004) [14]. Việt Nam Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, tỉ lệ bệnh nhân bị VMDƯ quanh năm là khá cao, Trong nghiên cứu của Phan Quang Đoàn và cộng sự (2009) cho thấy tỷ lệ VMDƯ trong cộng đồng dân cư tại Hà Nội là 5% [15].

Trong khi đó, nghiên cứu tại Cần Thơ của Nguyễn Thanh Hải và cộng sự (2009) tỷ lệ VMDƯ là 5,7% [16]. Theo một nghiên cứu khác của Nguyễn Ngọc Chức và cộng sự năm 2008, trong lứa tuổi học sinh phổ thông trung học, tỷ lệ VMDƯ là 19,3% [17]. Năm 2011, trong nghiên cứu của Ngô Thanh Bình, tỷ lệ VMDƯ do dị DN lông vũ là 26,51% [18]. Nghiên cứu của tác giả Vũ Trung Kiên (2013) cho thấy tỷ lệ học sinh VMDƯ tại Hải Phòng và Thái Bình 24% và 23% [19].

Tác giả Tăng Xuân Hải (2019) ghi nhận tỷ lệ mắc VMDƯ ở học sinh Trung học cơ sở thành phố Vinh là 15,3% [20]. Dị nguyên bụi bông và tình hình viêm mũi dị ứng do bụi bông 1. Dị nguyên bụi bông Bụi bông là tác nhân quan trọng và hàng đầu gây VMDƯ trong các nhà máy dệt may. Hiện nay không chỉ giới hạn trong khu vực sinh hoạt (nhà ở) mà còn bao hàm khái niệm khu vực lao động (nhà xưởng).

Tác nhân bụi không chỉ gây nên các bệnh liên quan tới bụi bông nghề nghiệp (1 trong 30 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm y tế hiện nay chi trả viện phí) mà gần gũi và trực tiếp hơn, gây nên VMDƯ [21]. DNBB là loại hình của các DN vô nhiễm, có đặc điểm là có hoạt tính mẫn cảm cao, vì vậy nó được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị. Trong các DN gây VMDƯ, ngoài DN mạt bụi nhà là DN chính gây VMDƯ, mày đay. trong cộng đồng thì bụi bông cũng là DN quan trọng và là nguyên nhân chính gây bệnh dị ứng ở CN ngành dệt may.

Ở một số nước, ngành dệt may vẫn là một nguồn quan trọng của các tác nhân tiềm ẩn gây ra bệnh HPQ nghề nghiệp. Trong dệt may trong ngành, một số tác nhân như bụi bông và thuốc nhuộm có thể gây ra bệnh HPQ nghề nghiệp [22], [23]. VMDƯ do DNBB là một đề tài đáng được chú ý ở Việt Nam cũng như trên thế giới do sự phát triển của ngành dệt may, số lượng CN dệt may ngày một tăng, sợi bông lại là nguyên liệu chủ yếu. Sợi bông ở dạng nguyên liệu thô, là những chất liệu nhỏ như sợi tơ, được hình thành trong quá trình phát triển của quả bông trên cây bông.

Bản chất của sợi bông này chỉ đơn thuần là cellulose, nhưng trong quá trình phát triển, môi trường sinh học tổng hợp trong quả bông và môi trường ô nhiễm ở bên ngoài mà quả bông tiếp xúc khi mở ra đã làm tính chất sợi bông không còn thuần khiết như vậy. Trong quá trình sản xuất, bụi bông được sinh ra với một lượng khá lớn, là nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp cho những CN phải tiếp xúc hàng ngày với chúng [24], [25]. Bụi bông là hỗn hợp phức tạp của các sợi bông, bụi khoáng chất và một số chất khác. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả trong bụi bông có 65 – 95% là chất hữu cơ, thành phần còn lại là chất khoáng và nước.

Chất hữu cơ bao gồm: cellulose (49 – 85%) protein nguồn gốc thực vật (8 – 17%), lisin (20%), lipit (2%), các loại vi khuẩn và bào tử nấm mốc [26]. Chất lượng bông càng cao, hàm lượng protein càng nhiều, thành phần chất khoáng còn phụ thuộc vào đất trồng. Ngoài ra trong bụi bông còn có các men proteaza và các tạp chất khác. Tình hình viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông * Thế giới VMDƯ nghề nghiệp gặp ở hầu hết các nước trên thế giới.

Nhưng tỷ lệ mới mắc bệnh VMDƯ do DNBB rất khó xác định vì điều tra phức tạp và cũng chỉ có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. và cộng sự (2009) đã tiến hành nghiên cứu trên 600 CN học việc trong ngành dệt may tại khu vực Monastir, Pháp năm 2009 đã cho thấy 120 CN học việc (20%) có phản ứng dị ứng khi tiếp xúc với bông trong thời gian học nghề. Các biểu hiện thường gặp nhất là viêm kết mạc (14,3%), và VMDƯ (8,5%). Ngoài ra, có 28 người (4,6%) có các triệu chứng của bệnh hen.

Có tới 45% các học viên mắc HPQ có VMDƯ. và cộng sự cũng thấy rằng các triệu chứng dị ứng phát triển dần theo thời gian học nghề, cường độ tiếp xúc với bụi bông [27]. và cộng sự đã công bố nghiên cứu tỷ lệ các triệu chứng viêm mũi ở CN nhà máy Nova Esperança, Sao Paulo, Brazil tiếp xúc với bụi bông cho kết quả sau đánh giá tổng cộng 124 CN có 63,7 % phàn nàn ngạt tắc mũi, 57,2 % có ngứa mũi, chảy nước mũi 46,7% và 66,1% xuất hiện hắt hơi. Trong đó tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng rất nghiêm trọng: 9,0% có ngạt tắc mũi; 9,0% ngứa mũi; 4,0% chảy nước mũi và 6,4% là hắt hơi.

Các tác giả nhận định các DN đường khí trong môi trường làm việc làm nặng thêm rõ ràng và thậm chí khởi phát viêm mũi. Từ góc độ của bệnh, cơ chế VMDƯ với sự tham gia của tế bào mast, IgE, histamin, bạch cầu ái toan và tế bào lympho chịu trách nhiệm cho sự phát triển của viêm mũi sau khi tiếp xúc với DN trọng lượng phân tử cao như cellulose, protein có nguồn gốc từ động vật và thực vật bao gồm bụi bông và lông động vật. Nghiên cứu này cho thấy một mối quan hệ chặt chẽ giữa các tiếp xúc nghề nghiệp liên quan đến công việc dệt may và bệnh VMDƯ [28]. Một nghiên cứu ở Slovakia (2014), đã ghi nhận trong số các chất gây dị ứng tương đối phổ biến là vải sợi tổng hợp, len, bông và các loại nấm mốc khác nhau [29].

(2017), nghiên cứu vai trò của bụi bông trong các triệu chứng hô hấp vào mùa thu ở phía tây Texas, mùa thu hoạch bông. Nghiên cứu này cho thấy bụi bông là nguyên nhân chính gây ra các biểu hiện ở mũi và phổi và bụi bông là nguyên nhân phổ biên gây tình trạng viêm mũi ở CN các nhà máy dệt [30]. và cộng sự năm 2018 khi nghiên cứu bệnh viêm mũi và hen nghề nghiệp trong ngành dệt may miền Trung của vùng Tunisi từ năm 2008 đến năm 2012 cho thấy tỷ lệ VMDƯ nghề nghiệp lên đến 34,10% [31]. * Việt Nam Từ năm 1969, VMDƯ đã được đề cập đến trong chẩn đoán và điều trị.

Tuy nhiên tại thời điểm đó, chủ yếu dừng ở mức độ chẩn đoán lâm sàng và điều trị triệu chứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ