Nghiên Cứu Hiện Trạng Sâu Đầu Đen Hại Dừa Opisina Arenosella Tại Bến Tre

Khóa luận nghiên cứu hiện trạng sâu đầu đen opisina arenosella tại Bến Tre và tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến ong ký sinh trichospilus pupivorus.

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

83
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về cây dừa

1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa tại Việt Nam

1.3. Đặc điểm sinh học của sâu đầu đen hại dừa O. arenosella

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ký sinh

1.5. Phòng trừ sâu đầu đen bằng thuốc bảo vệ thực vật

1.6. Hoạt chất được sử dụng phổ biến hiện nay để trừ sâu đầu đen

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Vật liệu và dụng cụ sử dụng trong phòng thí nghiệm

2.4. Điều tra hiện trạng sâu đầu đen hại dừa tại Bến Tre

2.5. Nhân nguồn nhộng sâu đầu đen O. arenosella và OKS nhộng

2.6. Sử dụng nhộng sâu đầu đen O. arenosella và lá dừa tâm thuốc bảo vệ thực vật

2.7. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phun trực tiếp

2.8. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để xông hơi

2.9. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Hiện trạng mức độ gây hại của sâu đầu đen hại dừa O. arenosella tại 3 xã ở huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre

3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc bảo vệ thực vật đến OKS nhộng pupivorus trong điều kiện phòng thí nghiệm

3.2.1. Sử dụng nhộng sâu đầu đen O. arenosella và lá dừa tâm thuốc bảo vệ thực vật

3.2.2. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phun trực tiếp

3.2.3. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để xông hơi

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

PHỤ LỤC

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC BẢNG

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Hiện Trạng Sâu Đầu Đen Hại Dừa Tại Bến Tre

Nghiên cứu hiện trạng sâu đầu đen hại dừa tại Bến Tre là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh cây dừa đang bị đe dọa bởi nhiều loại sâu hại. Sâu đầu đen (Opisina arenosella) đã được ghi nhận là một trong những loài gây hại nghiêm trọng nhất đối với cây dừa, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc tìm hiểu về tình hình hiện tại của loài sâu này sẽ giúp đưa ra các biện pháp phòng trừ hiệu quả.

1.1. Tình Hình Sâu Đầu Đen Hại Dừa Tại Bến Tre

Tại Bến Tre, sâu đầu đen đã xuất hiện và gây hại trên diện rộng. Nghiên cứu cho thấy nhiều vườn dừa bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là ở các xã như Phước Hiệp và Đa Phước Hội. Mức độ gây hại có thể lên đến 62,9% năng suất dừa, làm giảm đáng kể thu nhập của người trồng.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Cây Dừa Tại Bến Tre

Cây dừa không chỉ là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ dân mà còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương. Việc bảo vệ cây dừa khỏi sâu đầu đen là cần thiết để duy trì sản xuất và phát triển kinh tế bền vững.

II. Vấn Đề Gây Hại Của Sâu Đầu Đen Đến Cây Dừa

Sâu đầu đen Opisina arenosella gây ra nhiều thiệt hại cho cây dừa, ảnh hưởng đến sự phát triển và năng suất của cây. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sâu này có thể làm giảm tỷ lệ ra hoa và tăng tỷ lệ rụng quả non. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sản lượng mà còn đến chất lượng dừa.

2.1. Ảnh Hưởng Đến Năng Suất Cây Dừa

Nghiên cứu cho thấy sâu đầu đen có thể làm giảm năng suất dừa đến 45,4%. Điều này gây ra thiệt hại lớn cho người trồng dừa, đặc biệt là trong các vụ mùa chính.

2.2. Tác Động Đến Chất Lượng Sản Phẩm

Ngoài việc giảm năng suất, sâu đầu đen còn ảnh hưởng đến chất lượng dừa. Những quả dừa bị tấn công thường có kích thước nhỏ hơn và chất lượng kém hơn, làm giảm giá trị thương phẩm.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hiện Trạng Sâu Đầu Đen Hại Dừa

Để đánh giá hiện trạng sâu đầu đen hại dừa, nghiên cứu đã được thực hiện thông qua việc điều tra tại các vườn dừa ở Bến Tre. Phương pháp này bao gồm việc thu thập dữ liệu từ nhiều xã khác nhau để có cái nhìn tổng quan về mức độ gây hại.

3.1. Phương Pháp Điều Tra Tại Các Vườn Dừa

Nghiên cứu đã tiến hành điều tra tại 3 xã, mỗi xã chọn 10 vườn dừa để thu thập dữ liệu. Mỗi vườn được khảo sát 5 điểm ngẫu nhiên, từ đó đánh giá mức độ gây hại của sâu đầu đen.

3.2. Phương Pháp Thí Nghiệm Đánh Giá Tác Động Của Thuốc BVTV

Các thí nghiệm được thực hiện để đánh giá tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến sâu đầu đen và các thiên địch của nó. Điều này giúp xác định hiệu quả của các loại thuốc trong việc kiểm soát sâu hại.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Sâu Đầu Đen Hại Dừa

Kết quả nghiên cứu cho thấy sâu đầu đen đã gây hại nghiêm trọng đến cây dừa tại Bến Tre. Mức độ gây hại khác nhau giữa các xã, với một số xã bị ảnh hưởng nặng nề hơn. Các thí nghiệm cũng cho thấy hiệu quả của một số loại thuốc bảo vệ thực vật trong việc kiểm soát sâu hại.

4.1. Mức Độ Gây Hại Tại Các Xã

Kết quả điều tra cho thấy xã Phước Hiệp và Đa Phước Hội là những nơi bị sâu đầu đen tấn công nặng nề nhất, với tỷ lệ gây hại lên đến 62,9%.

4.2. Hiệu Quả Của Các Loại Thuốc BVTV

Thí nghiệm cho thấy hoạt chất Emamectin benzoate có hiệu quả cao trong việc tiêu diệt sâu đầu đen, với tỷ lệ chết đạt 100% sau 96 giờ sử dụng.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Sâu Đầu Đen Hại Dừa Tại Bến Tre

Nghiên cứu về sâu đầu đen hại dừa tại Bến Tre đã chỉ ra mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Cần có những nghiên cứu tiếp theo để theo dõi diễn biến và tìm ra các giải pháp bền vững.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Sâu Đầu Đen

Cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về sinh học và hành vi của sâu đầu đen, từ đó phát triển các biện pháp kiểm soát hiệu quả hơn.

5.2. Đề Xuất Các Biện Pháp Phòng Trừ Hiệu Quả

Đề xuất các biện pháp phòng trừ tổng hợp, bao gồm việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật kết hợp với các biện pháp sinh học để kiểm soát sâu đầu đen một cách hiệu quả.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật điều tra hiện trạng sâu đầu đen opisina arenosella tại bến tre và đánh giá tác động thuốc bảo vệ thực vật đến ong ký sinh nhộng trichospilus pupivorus hymenoptera eulophidae trong phòng thí nghiệm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 So lược về cây dừa 1.1 Nguồn gốc và phân bố Dừa có tên khoa học là Cocos nucifera L., thuộc giới Plantae, bộ Arecales, họ Arecaceae, chi Cocos. Cây dita phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới. Dừa thường được tìm thấy hầu hết ở tất cả khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới (23°) Bắc và (23°) Nam của đường xích đạo (Hiệp hội dừa Bến Tre, 2013). Nguồn gốc của cây dừa trên thé giới vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi, có nguồn tin người di cư từ New Zealand va Hawaii vào Thái Bình Dương cách đây 4500 năm đã mang theo.

Vào cùng thời điểm đó, những người từ Indonesia, Malayasia đang thuộc địa hóa các hòn đảo Micronesia. Các thương nhân Mã Lai va A Rap đã truyền bá kiến thức các loại dừa cải tiến từ phía Tây sang Ấn Độ, Sri Lanka và Đông Phi khoảng 3000 năm trước. Dừa đã được đưa vào Tây Phi va Caribbean (bao gồm bờ biển Đại Tây Dương của Trung Mỹ) trong thế kỷ 16 bởi các nhà thám hiểm Châu Âu (Chan và ctv, 2006). Tại New Zealand các nhà khoa học đã chỉ ra rằng những thực vật là tổ tiên cây dừa đã mọc ở khu vực này từ khoảng 15 triệu năm trước.

Đến ngày nay cây dừa đã phô biến khắp các khu vực nhiệt đới và cận xích đạo. Tuy nhiên, cây dừa tập trung nhiều nhất ở khu vực Châu A — Thái Bình Dương. Cây dừa là một loại cây trồng nông nghiệp truyền thống, sức sống mãnh liệt, phân bé rộng, phát triển tốt ở khu vực duyên hải đến Đồng bằng, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng ven biển (Grimwood và Ashman, 1975). Dừa là loại cây được trồng và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới.

Theo FAO (2020), tổng diện tích dừa trên thế giới vào năm 2019 là khoảng 11,8 triệu ha và được trồng ở trên 93 quốc gia. Trong đó, Philippines khoảng 3,7 triệu ha, Indonesia 2,8 triệu ha và An Độ 2.2 triệu ha là ba quốc gia có diện tích dừa lớn nhất thé gid. Năm 2019, Indonesia 17,12 triệu tan, Philippines 14,76 triệu tan va An Độ 14,68 triệu tan là ba quốc gia có sản lượng dừa cao nhất chiếm hon 70% san lượng dừa trên thé giới, tiếp theo là Sri Lanka 2,47 triệu tấn, Brazil 2,33 triệu tấn, Việt Nam 1,68 triệu tan, Mexico 1,29 triệu tan và Papua New Guinea 1,19 triệu tan (FAO, 2021).1 Diện tích và san lượng dừa trên thé giới năm 2019 Quốc gia Diện tích (ha) Sản lượng Philippines 3.957 Papua New Guinea 188. Dầu dừa nguyên chất (Bawalan và Chapman 2006), được tạo ra dưới nhiệt độ thấp từ thịt dừa tươi dé giữ lại các vitamin và enzym tự nhiên của nó (Marikkar va ctv 2007) hiện đang trở nên phô biến trong ngành dược phẩm va đang chiếm lĩnh thị trường quốc tế.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa tại Việt Nam Hiện nay, diện tích dừa Việt Nam tập trung tại các tỉnh Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long.

Dừa được xếp thứ tư trong các cây công nghiệp lâu năm ở nước ta với diện tích trên 175. Trong đó, ĐBSCL chiếm gan 80% diện tích đừa cả nước với khoảng 130.000 ha; các tỉnh có điện tích trồng dừa lớn: Bến Tre (trên 72.000 ha), Trà Vinh (gần 20.000 ha), Tiền Giang (trên 14.000 ha), Vĩnh Long (trên 7. Tại Bến Tre, hiện có gần 200.000 hộ dân trồng dừa. Mặc dù sản xuất dừa vẫn còn nhỏ lẻ, chưa tập trung nhưng dừa vẫn là cây cho thu nhập chính của nhiều vùng.

Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, tại các vùng trồng dừa ở Bến Tre, Trà Vĩnh, thu nhập từ cây dừa chiếm 50% thu nhập của người dân (Sở Công Thương Bến Tre, 2021). Dừa được xác định là cây trồng quan trọng cung cấp nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến của nước ta. Thị trường xuất khâu các sản phẩm từ dừa ở nước ta tiếp tục được giữ vững và mở rộng. Kim ngạch xuất khâu dừa Bến Tre năm 2019 ước đạt 215,34 triệu USD, chiếm 22,4% tông kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 — 2019 là 11,93%/năm.

Trong đó, Trung Quốc là thị trường đứng đầu nhập khâu dừa Việt Nam với 30,4% thị phan, đạt 33,2 triệu USD, giảm 50% so với năm 2018. Thái Lan giảm 16,1%, AI Cập giảm 28,7%. Tuy nhiên, một số thị trường khác lại tăng mạnh như Qatar tăng 57,8%, Tây Ban Nha tăng 93,4%, Úc tăng 29,7%, Hàn Quốc tăng 28% (Sở Công Thương Bến Tre, 2021).2 Tổng quan về sâu dau đen hại dừa Opisina arenosella 1.1 Nguồn gốc và phân bố Sâu đầu den hại dita có tên khoa học là Opisina arenosella, thuộc họ bướm đêm (Xyloryctidae), bộ cánh vảy (Lepidoptera). Theo Rao và ctv (1948), Ó.

arenoselia được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1907 tại Coimbatore. Sâu đầu đen hại đừa được báo cáo lần đầu gây hại trên cây dừa ở Bapatala, Andhra Pradesh vào năm 1909. Đây là một trong những loài gây hại nghiêm trọng, nó là loài gây hại đặc hữu trên dừa ở Ấn Độ và Srilanka và cũng được báo cáo từ Myanmar và Bangladesh (Cock và Perera, 1987). Sau đó, sâu đầu đen hại dừa đã được tìm thấy và gây hại nặng ở hơn 16 quốc gia và các vùng tại châu Á bao gồm: Bangladesh, Andhra Pradesh, Delhi, Gujarat, Karnataka, Kerala, Maharashtra, Odisha, Tamil Nadu, WeatnBengal, Indonesia, Myanmar, Pakistan, Sri Lanka, Thailand.

Cac tôn thất ban đầu là làm giảm ty lệ ra mầm hoa, tăng tỷ lệ rụng quả dừa non và giảm tăng trưởng của cây 5 dừa với khả năng làm giảm năng suất đến 45,4%, số tàu lá và số lá bị giảm lần lượt là 21,0% và 13,8% (Mohan và ctv, 2010). Sâu đầu đen hai dita O. arenosella gay thiét hai khoang tir 42,8% dén 62,9% nang suat dita tai An D6 (Rao va ctv, 2018). Tai Việt Nam, sâu đầu den hai dừa xuất hiện lần đầu tại xã Phú Long, huyện Bình Đại vào tháng 7 năm 2020.

Và đến tháng 6 năm 2021 sâu đầu đen hại dừa đã gây hại trên 547 hecta vườn đừa ở tỉnh Bến Tre. Ngoài huyện Bình Đại, Châu Thành bị nhiễm trước, sâu đầu đen hại dừa còn tấn công đến vườn dừa ở huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Chợ Lách và thành phố Bến Tre.2 Ký chủ Nghiên cứu của Shameer và ctv (2017), cho thay O. arenosella có thê gây hại trên nhiều loài cây trồng khác nhau như dừa (Cocos nucifera), chuỗi (Musa paradise), mít (Artocarpus heterophyllus), điều (Anacardium occidentale L.) và cây cọ (Livistona rotundifolia). Theo Rao (1948), hai loài dừa Palmyra và Borassus flabellifer là cây ky chủ chính của sâu đầu đen hai dừa.

arenosella còn được ghi nhận một loài gây hại chính cho vùng canh tác cây co, gây thiệt hại và làm giảm đáng ké năng suất dừa (Mohan và ctv, 2010). arenosella còn gây hại trên thốt nốt (Borassus flabellifer L.), nhóm cây cọ lớn, cha là (Phoenix dactylifera) va cau (Areca catechu L.3 Đặc điểm sinh học của sâu đầu den hại dừa O. arenosella Thành trùng cái đẻ trứng và tạo ra các lưới tơ ở mặt dưới lá chét, sâu non ăn diệp lục bằng cách cạo lớp biéu bì dưới lá, sau đó các lá chét khô và không ăn lớp biểu bì ở mặt trên của lá. Trong những đợt bùng phát nghiêm trọng, toàn bộ cây gần như bị cháy khô.

Khi cây dừa bị hư hại nặng, những tàu lá bị tắn công rũ xuống, cong lại và những quả chưa trưởng thành có tỷ lệ rụng quả cao (Panwar, 1995; David, 2001). Đặc tính sinh học của con cái O. arenosella đẻ trứng thành từng nhóm nhỏ trên bề mặt đưới của lá dừa. Trứng được phát tán một cách đồng đều trong vùng lân cận và có ý kiến cho rằng điều này dẫn đến sự lây lan chậm của dich sang các cây ngoại vi, 6 không bị nhiễm bệnh.

Âu trùng ăn ở bề mặt dưới của lá dừa, lúc đầu có màu xám ăn biểu bì đưới và trung bì nhưng van để nguyên biểu bì trên. Au trùng tạo ra một hệ thống tơ và sợi tơ dé chúng rút lui nếu bị quấy ray. Có bằng chứng cho thấy một số au trùng và trứng chết sớm là do ấu trùng lớn tuổi ăn thịt đồng loại. Giai đoạn trứng kéo dai trung bình 3 ngày, giai đoạn ấu trùng kéo dai từ 5 đến 10 ngày.

Giai đoạn nhộng kéo dài trung bình 8 ngày, và tổng chiều dai của vòng đời tiền trưởng thành là khoảng 46 ngày. Những con cái được đặt riêng lẻ trong lồng sống trung bình trong 7,1 ngày, trong đó chúng đẻ 152 trứng để lại trung bình 69 trứng. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, một ấu trùng O. arenosella tiêu thụ hết 1823 mm vuông lá dừa (Perera, 1987).

Nghiên cứu của Shameer và ctv (2017) cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm, thời gian phát triển của Ó. arenosella ở giai đoạn ấu trùng và giai đoạn hóa nhộng phụ thuộc vào các loại ký chủ khác nhau, tuy nhiên thời gian sống của thành trùng là tương đương nhau. Với thức ăn là lá dừa, thành trùng cái giao phối trong vòng 90 phút sau đó đẻ trứng ở mặt dưới lá của cây dừa, với khả năng sinh sản trung bình là 273 trứng, thời gian phát triển của O. arenosella là nhanh nhất, với giai đoạn ấu trùng (khoảng 36 ngày) và hóa nhộng (khoảng 7 ngày).

arenosella thường ăn mặt dưới của lá, được bảo vệ bởi một lớp sợi tơ (Kumara và ctv, 2015). Con cái đẻ trứng trên mặt đưới của lá ở các tầng dưới của cây. Khi nở ấu trùng van còn bên trong đường ham được tạo thành bằng chat thải của chúng tạo ra. Chúng ăn để lại các mẫu lá và phân, dẫn đến toàn bộ lá cây bị héo (Lu va ctv, 2013).

Mohan và ctv (2010) báo cáo rằng năng suất qua của cây dừa bị nhiễm O. arenosella có thé bi giảm 45,4% khi có tỷ lệ sâu hại nghiêm trọng. arenosella tân công cây dừa từ giai đoạn cây con đến trưởng thành.4 Tập tính gay hai Thành trùng đẻ trứng và tạo ra các lưới tơ ở mặt dưới lá chét, ấu trùng ăn diệp lục bằng cách cạo lớp biểu bì dudi lá, làm các lá chét khô lại. Trong những dot bùng phát nghiêm trọng, toàn bộ cây gần như bị cháy do tàu lá và lá chét bị khô.

Khi cây dừa bị hư hại nặng, những tàu lá bị tấn công rủ xuống, cong lại và những quả chưa trưởng thành có tỷ lệ rụng quả cao (Panwar, 1995; David, 2001). Với thức ăn là lá dừa, thời gian phát triển của O. arenosella là nhanh nhất, với giai đoạn ấu trùng (khoảng 36 7 ngày) và hóa nhộng (khoảng 7 ngày). arenosella thường ăn mặt dưới của lá, được bảo vệ bởi một lớp sợi tơ (Kumara và ctv, 2015).5 Biện pháp quản lý Biện pháp sinh học: Báo cáo về sự phát sinh của virus Polyhedrosis sp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hiện Trạng Sâu Đầu Đen Hại Dừa Tại Bến Tre" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sâu đầu đen (Opisina arenosella) gây hại cho cây dừa tại tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu này không chỉ phân tích mức độ thiệt hại mà còn đánh giá tác động của thuốc bảo vệ thực vật đối với các loài thiên địch như ong ký sinh ấu trùng Bracon hebetor. Qua đó, tài liệu giúp người đọc hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và sự phát triển bền vững của cây dừa, từ đó đưa ra những giải pháp quản lý hiệu quả hơn.

Để mở rộng kiến thức về quản lý thuốc bảo vệ thực vật và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Đánh giá tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến sâu đầu đen hại dừa tại Bến Tre, nơi cung cấp thông tin chi tiết về tác động của thuốc đến sâu hại. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ chính sách công quản lý chất thải nguy hại phát sinh từ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý chất thải trong nông nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn một số giải pháp góp phần phát triển ngành thuốc bảo vệ thực vật khu vực nam bộ sẽ cung cấp những giải pháp phát triển bền vững cho ngành này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp.