Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 So lược về cây dừa 1.1 Nguồn gốc và phân bố Dừa có tên khoa học là Cocos nucifera L., thuộc giới Plantae, bộ Arecales, họ Arecaceae, chi Cocos. Cây dita phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới. Dừa thường được tìm thấy hầu hết ở tất cả khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới (23°) Bắc và (23°) Nam của đường xích đạo (Hiệp hội dừa Bến Tre, 2013). Nguồn gốc của cây dừa trên thé giới vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi, có nguồn tin người di cư từ New Zealand va Hawaii vào Thái Bình Dương cách đây 4500 năm đã mang theo.
Vào cùng thời điểm đó, những người từ Indonesia, Malayasia đang thuộc địa hóa các hòn đảo Micronesia. Các thương nhân Mã Lai va A Rap đã truyền bá kiến thức các loại dừa cải tiến từ phía Tây sang Ấn Độ, Sri Lanka và Đông Phi khoảng 3000 năm trước. Dừa đã được đưa vào Tây Phi va Caribbean (bao gồm bờ biển Đại Tây Dương của Trung Mỹ) trong thế kỷ 16 bởi các nhà thám hiểm Châu Âu (Chan và ctv, 2006). Tại New Zealand các nhà khoa học đã chỉ ra rằng những thực vật là tổ tiên cây dừa đã mọc ở khu vực này từ khoảng 15 triệu năm trước.
Đến ngày nay cây dừa đã phô biến khắp các khu vực nhiệt đới và cận xích đạo. Tuy nhiên, cây dừa tập trung nhiều nhất ở khu vực Châu A — Thái Bình Dương. Cây dừa là một loại cây trồng nông nghiệp truyền thống, sức sống mãnh liệt, phân bé rộng, phát triển tốt ở khu vực duyên hải đến Đồng bằng, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng ven biển (Grimwood và Ashman, 1975). Dừa là loại cây được trồng và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới.
Theo FAO (2020), tổng diện tích dừa trên thế giới vào năm 2019 là khoảng 11,8 triệu ha và được trồng ở trên 93 quốc gia. Trong đó, Philippines khoảng 3,7 triệu ha, Indonesia 2,8 triệu ha và An Độ 2.2 triệu ha là ba quốc gia có diện tích dừa lớn nhất thé gid. Năm 2019, Indonesia 17,12 triệu tan, Philippines 14,76 triệu tan va An Độ 14,68 triệu tan là ba quốc gia có sản lượng dừa cao nhất chiếm hon 70% san lượng dừa trên thé giới, tiếp theo là Sri Lanka 2,47 triệu tấn, Brazil 2,33 triệu tấn, Việt Nam 1,68 triệu tan, Mexico 1,29 triệu tan và Papua New Guinea 1,19 triệu tan (FAO, 2021).1 Diện tích và san lượng dừa trên thé giới năm 2019 Quốc gia Diện tích (ha) Sản lượng Philippines 3.957 Papua New Guinea 188. Dầu dừa nguyên chất (Bawalan và Chapman 2006), được tạo ra dưới nhiệt độ thấp từ thịt dừa tươi dé giữ lại các vitamin và enzym tự nhiên của nó (Marikkar va ctv 2007) hiện đang trở nên phô biến trong ngành dược phẩm va đang chiếm lĩnh thị trường quốc tế.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa tại Việt Nam Hiện nay, diện tích dừa Việt Nam tập trung tại các tỉnh Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long.
Dừa được xếp thứ tư trong các cây công nghiệp lâu năm ở nước ta với diện tích trên 175. Trong đó, ĐBSCL chiếm gan 80% diện tích đừa cả nước với khoảng 130.000 ha; các tỉnh có điện tích trồng dừa lớn: Bến Tre (trên 72.000 ha), Trà Vinh (gần 20.000 ha), Tiền Giang (trên 14.000 ha), Vĩnh Long (trên 7. Tại Bến Tre, hiện có gần 200.000 hộ dân trồng dừa. Mặc dù sản xuất dừa vẫn còn nhỏ lẻ, chưa tập trung nhưng dừa vẫn là cây cho thu nhập chính của nhiều vùng.
Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, tại các vùng trồng dừa ở Bến Tre, Trà Vĩnh, thu nhập từ cây dừa chiếm 50% thu nhập của người dân (Sở Công Thương Bến Tre, 2021). Dừa được xác định là cây trồng quan trọng cung cấp nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến của nước ta. Thị trường xuất khâu các sản phẩm từ dừa ở nước ta tiếp tục được giữ vững và mở rộng. Kim ngạch xuất khâu dừa Bến Tre năm 2019 ước đạt 215,34 triệu USD, chiếm 22,4% tông kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 — 2019 là 11,93%/năm.
Trong đó, Trung Quốc là thị trường đứng đầu nhập khâu dừa Việt Nam với 30,4% thị phan, đạt 33,2 triệu USD, giảm 50% so với năm 2018. Thái Lan giảm 16,1%, AI Cập giảm 28,7%. Tuy nhiên, một số thị trường khác lại tăng mạnh như Qatar tăng 57,8%, Tây Ban Nha tăng 93,4%, Úc tăng 29,7%, Hàn Quốc tăng 28% (Sở Công Thương Bến Tre, 2021).2 Tổng quan về sâu dau đen hại dừa Opisina arenosella 1.1 Nguồn gốc và phân bố Sâu đầu den hại dita có tên khoa học là Opisina arenosella, thuộc họ bướm đêm (Xyloryctidae), bộ cánh vảy (Lepidoptera). Theo Rao và ctv (1948), Ó.
arenoselia được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1907 tại Coimbatore. Sâu đầu đen hại đừa được báo cáo lần đầu gây hại trên cây dừa ở Bapatala, Andhra Pradesh vào năm 1909. Đây là một trong những loài gây hại nghiêm trọng, nó là loài gây hại đặc hữu trên dừa ở Ấn Độ và Srilanka và cũng được báo cáo từ Myanmar và Bangladesh (Cock và Perera, 1987). Sau đó, sâu đầu đen hại dừa đã được tìm thấy và gây hại nặng ở hơn 16 quốc gia và các vùng tại châu Á bao gồm: Bangladesh, Andhra Pradesh, Delhi, Gujarat, Karnataka, Kerala, Maharashtra, Odisha, Tamil Nadu, WeatnBengal, Indonesia, Myanmar, Pakistan, Sri Lanka, Thailand.
Cac tôn thất ban đầu là làm giảm ty lệ ra mầm hoa, tăng tỷ lệ rụng quả dừa non và giảm tăng trưởng của cây 5 dừa với khả năng làm giảm năng suất đến 45,4%, số tàu lá và số lá bị giảm lần lượt là 21,0% và 13,8% (Mohan và ctv, 2010). Sâu đầu đen hai dita O. arenosella gay thiét hai khoang tir 42,8% dén 62,9% nang suat dita tai An D6 (Rao va ctv, 2018). Tai Việt Nam, sâu đầu den hai dừa xuất hiện lần đầu tại xã Phú Long, huyện Bình Đại vào tháng 7 năm 2020.
Và đến tháng 6 năm 2021 sâu đầu đen hại dừa đã gây hại trên 547 hecta vườn đừa ở tỉnh Bến Tre. Ngoài huyện Bình Đại, Châu Thành bị nhiễm trước, sâu đầu đen hại dừa còn tấn công đến vườn dừa ở huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Chợ Lách và thành phố Bến Tre.2 Ký chủ Nghiên cứu của Shameer và ctv (2017), cho thay O. arenosella có thê gây hại trên nhiều loài cây trồng khác nhau như dừa (Cocos nucifera), chuỗi (Musa paradise), mít (Artocarpus heterophyllus), điều (Anacardium occidentale L.) và cây cọ (Livistona rotundifolia). Theo Rao (1948), hai loài dừa Palmyra và Borassus flabellifer là cây ky chủ chính của sâu đầu đen hai dừa.
arenosella còn được ghi nhận một loài gây hại chính cho vùng canh tác cây co, gây thiệt hại và làm giảm đáng ké năng suất dừa (Mohan và ctv, 2010). arenosella còn gây hại trên thốt nốt (Borassus flabellifer L.), nhóm cây cọ lớn, cha là (Phoenix dactylifera) va cau (Areca catechu L.3 Đặc điểm sinh học của sâu đầu den hại dừa O. arenosella Thành trùng cái đẻ trứng và tạo ra các lưới tơ ở mặt dưới lá chét, sâu non ăn diệp lục bằng cách cạo lớp biéu bì dưới lá, sau đó các lá chét khô và không ăn lớp biểu bì ở mặt trên của lá. Trong những đợt bùng phát nghiêm trọng, toàn bộ cây gần như bị cháy khô.
Khi cây dừa bị hư hại nặng, những tàu lá bị tắn công rũ xuống, cong lại và những quả chưa trưởng thành có tỷ lệ rụng quả cao (Panwar, 1995; David, 2001). Đặc tính sinh học của con cái O. arenosella đẻ trứng thành từng nhóm nhỏ trên bề mặt đưới của lá dừa. Trứng được phát tán một cách đồng đều trong vùng lân cận và có ý kiến cho rằng điều này dẫn đến sự lây lan chậm của dich sang các cây ngoại vi, 6 không bị nhiễm bệnh.
Âu trùng ăn ở bề mặt dưới của lá dừa, lúc đầu có màu xám ăn biểu bì đưới và trung bì nhưng van để nguyên biểu bì trên. Au trùng tạo ra một hệ thống tơ và sợi tơ dé chúng rút lui nếu bị quấy ray. Có bằng chứng cho thấy một số au trùng và trứng chết sớm là do ấu trùng lớn tuổi ăn thịt đồng loại. Giai đoạn trứng kéo dai trung bình 3 ngày, giai đoạn ấu trùng kéo dai từ 5 đến 10 ngày.
Giai đoạn nhộng kéo dài trung bình 8 ngày, và tổng chiều dai của vòng đời tiền trưởng thành là khoảng 46 ngày. Những con cái được đặt riêng lẻ trong lồng sống trung bình trong 7,1 ngày, trong đó chúng đẻ 152 trứng để lại trung bình 69 trứng. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, một ấu trùng O. arenosella tiêu thụ hết 1823 mm vuông lá dừa (Perera, 1987).
Nghiên cứu của Shameer và ctv (2017) cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm, thời gian phát triển của Ó. arenosella ở giai đoạn ấu trùng và giai đoạn hóa nhộng phụ thuộc vào các loại ký chủ khác nhau, tuy nhiên thời gian sống của thành trùng là tương đương nhau. Với thức ăn là lá dừa, thành trùng cái giao phối trong vòng 90 phút sau đó đẻ trứng ở mặt dưới lá của cây dừa, với khả năng sinh sản trung bình là 273 trứng, thời gian phát triển của O. arenosella là nhanh nhất, với giai đoạn ấu trùng (khoảng 36 ngày) và hóa nhộng (khoảng 7 ngày).
arenosella thường ăn mặt dưới của lá, được bảo vệ bởi một lớp sợi tơ (Kumara và ctv, 2015). Con cái đẻ trứng trên mặt đưới của lá ở các tầng dưới của cây. Khi nở ấu trùng van còn bên trong đường ham được tạo thành bằng chat thải của chúng tạo ra. Chúng ăn để lại các mẫu lá và phân, dẫn đến toàn bộ lá cây bị héo (Lu va ctv, 2013).
Mohan và ctv (2010) báo cáo rằng năng suất qua của cây dừa bị nhiễm O. arenosella có thé bi giảm 45,4% khi có tỷ lệ sâu hại nghiêm trọng. arenosella tân công cây dừa từ giai đoạn cây con đến trưởng thành.4 Tập tính gay hai Thành trùng đẻ trứng và tạo ra các lưới tơ ở mặt dưới lá chét, ấu trùng ăn diệp lục bằng cách cạo lớp biểu bì dudi lá, làm các lá chét khô lại. Trong những dot bùng phát nghiêm trọng, toàn bộ cây gần như bị cháy do tàu lá và lá chét bị khô.
Khi cây dừa bị hư hại nặng, những tàu lá bị tấn công rủ xuống, cong lại và những quả chưa trưởng thành có tỷ lệ rụng quả cao (Panwar, 1995; David, 2001). Với thức ăn là lá dừa, thời gian phát triển của O. arenosella là nhanh nhất, với giai đoạn ấu trùng (khoảng 36 7 ngày) và hóa nhộng (khoảng 7 ngày). arenosella thường ăn mặt dưới của lá, được bảo vệ bởi một lớp sợi tơ (Kumara và ctv, 2015).5 Biện pháp quản lý Biện pháp sinh học: Báo cáo về sự phát sinh của virus Polyhedrosis sp.