Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây dừa (Cocos nucifera) giữ vai trò kinh tế trọng điểm trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam với diện tích trên 170.000 ha, tập trung chủ yếu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm gần 80% với hơn 130.000 ha). Trong đó, tỉnh Bến Tre là vùng trồng dừa lớn nhất cả nước với diện tích 77.232 ha (chiếm 40% diện tích toàn vùng), sản lượng thu hoạch đạt 672.000 tấn trái mỗi năm. Vào tháng 07 năm 2020, loài sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker) – dịch hại nguy hiểm có nguồn gốc từ Nam Á – được ghi nhận xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam ở ấp Giồng Tre, xã Phú Long, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre với diện tích nhiễm ban đầu 2,4 ha. Sâu đầu đen nhanh chóng bùng phát thành dịch, lây lan ra nhiều huyện tại Bến Tre và sang các tỉnh lân cận. Sâu non ăn biểu bì mặt dưới lá chét và nhả tơ kết phân thành đường ống trú ẩn, làm toàn bộ tàu lá bị cháy khô, rụng quả non và suy giảm nghiêm trọng năng suất dừa.

Do là đối tượng dịch hại ngoại lai mới xâm nhập, chưa có thuốc bảo vệ thực vật chính thức đăng ký phòng trừ chuyên biệt trong danh mục, các biện pháp hóa học tạm thời thường được áp dụng tự phát. Thân dừa cao gây trở ngại lớn cho việc phun xịt, đồng thời việc lạm dụng các hoạt chất hóa học phổ rộng không chọn lọc gây tổn hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái vườn dừa, làm suy giảm các loài thiên địch tự nhiên, đặc biệt là ong ký sinh ấu trùng Bracon hebetor. Từ thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Bảo vệ Thực vật của tác giả Nguyễn Hồng Sơn được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Xác định hiện trạng và mức độ gây hại của sâu đầu đen Opisina arenosella tại 3 xã Thới Lai, Định Trung, Phú Long thuộc huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
  2. Đánh giá tác động của hai hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trừ sâu đầu đen đến khả năng sống sót của ong ký sinh ấu trùng Bracon hebetor trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:

  1. Thực hiện điều tra hiện trạng sâu đầu đen và đánh giá cấp độ theo tiêu chuẩn 5 cấp hại của Cục Bảo vệ thực vật (2020) tại 3 xã của huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
  2. Thực hiện thí nghiệm đánh giá tác động của hai hoạt chất Emamectin benzoate 5% (liều lượng 0,5 g/L) và Flubendiamide 20% (liều lượng 0,4 g/L) đến ong ký sinh B. hebetor trong điều kiện phòng thí nghiệm được kiểm soát (nhiệt độ 28 ± 2°C, ẩm độ 70 ± 5%, thời gian chiếu sáng 12 giờ).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Sâu đầu đen hại dừa Opisina arenosella Walker (giai đoạn ấu trùng tuổi 5, 6) và ong ký sinh ấu trùng Bracon hebetor Say (Hymenoptera: Braconidae).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát đồng ruộng tại 30 vườn dừa (mỗi xã 10 vườn) tại xã Thới Lai, xã Định Trung và xã Phú Long thuộc huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; các thí nghiệm độc học được thực hiện tại phòng thí nghiệm Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Bến Tre.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành từ tháng 05/2022 đến tháng 10/2022; trong đó số liệu điều tra thực địa được thu thập tập trung trong tháng 06/2022 và thí nghiệm phòng thí nghiệm tiến hành từ tháng 07/2022 đến tháng 09/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng sinh thái học nông nghiệp và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), kết hợp giữa dịch tễ học côn trùng trên đồng ruộng và độc học thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.

Về cơ sở lý thuyết sinh học:

  • Cây dừa (Cocos nucifera L.) thuộc họ Cau (Arecaceae), bộ Arecales, bộ gen lưỡng bội 2n = 32, phân bố chính ở hai nhóm dừa cao (thụ phấn chéo) và dừa lùn (tự thụ phấn). Cây sinh trưởng tối ưu ở nhiệt độ 27 - 29°C, ẩm độ 60 - 90%, vũ lượng 1300 - 2300 mm/năm.
  • Sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker): Vòng đời kéo dài 45 - 60 ngày. Trứng hình bầu dục màu vàng kem sang nâu đỏ, nở sau 4 - 5 ngày. Giai đoạn ấu trùng kéo dài 30 - 45 ngày qua các tuổi, đẫy sức có 3 sọc nâu dọc thân; ấu trùng ăn lớp biểu bì dưới mặt lá chét và tạo vỏ bọc bằng tơ lẫn phân. Giai đoạn nhộng kéo dài 8 ngày. Thành trùng ngài màu xám nhạt, con cái đẻ trung bình từ 83,4 đến 273,63 trứng tùy thuộc nhiệt độ môi trường.
  • Ong ký sinh ấu trùng Bracon hebetor (Hymenoptera: Braconidae): Loài ký sinh ngoài đơn độc hoặc tập đoàn, có phổ ký chủ rộng trên 39 loài côn trùng hại nông nghiệp và kho tàng. Con cái chích nọc gây tê liệt ấu trùng vật chủ (ưa thích tuổi 3 đến tuổi 6) rồi đẻ từ 2 - 8 trứng trên mỗi cơ thể sâu non (tối đa 82 trứng/con cái). Vòng đời hoàn thành rất nhanh trong 8,67 ngày (dao động 7 - 12 ngày), là tác nhân kiểm soát sinh học tiềm năng đối với sâu đầu đen.
  • Hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật khảo sát:
    • Emamectin benzoate (EMB): Hoạt chất bán tổng hợp chiết xuất từ xạ khuẩn Streptomyces avermitilis, công thức hóa học C49H75NO13, tác động kích hoạt kênh chloride và thụ thể GABA trong hệ thần kinh, ngăn chặn xung động thần kinh khiến côn trùng ngừng ăn và chết đói sau 72 - 96 giờ.
    • Flubendiamide: Thuộc nhóm diamide, kích thích mở thụ thể ryanodine nhạy cảm nội bào làm giải phóng ion Ca2+ liên tục từ mạng lưới cơ tương, dẫn đến co cứng cơ vân, ngừng ăn, tê liệt hoàn toàn và tử vong.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp điều tra hiện trạng đồng ruộng: Thực hiện trên 30 vườn dừa tại 3 xã (Thới Lai: ấp Chợ, ấp Giồng Hồ; Định Trung: ấp Tân Định, ấp Cá Đuối; Phú Long: ấp Giồng Tre). Mỗi vườn có diện tích tối thiểu 5.000 m². Tại mỗi vườn, chọn ngẫu nhiên 5 điểm theo 2 đường chéo góc, mỗi điểm kiểm tra 10 cây (tổng số 50 cây/vườn). Tại mỗi điểm, chọn ngẫu nhiên 1 cây để lấy 30 lá chét ở tầng giữa tàu dừa, soi dưới kính lúp soi nổi cầm tay nhằm đếm mật số sâu non và nhộng. Mức độ hại được phân cấp theo tiêu chuẩn của Cục Bảo vệ thực vật (2020) gồm 5 cấp (từ C0: không hại, C1: <20% lá chét bị hại, đến C5: >80% lá chét bị hại). Các chỉ tiêu tính toán gồm: Tỷ lệ cây bị hại (%), Tỷ lệ tàu lá bị hại (%), Chỉ số hại (%), Mật độ sâu non (con/30 lá chét) và Mật độ nhộng (nhộng/30 lá chét).
  • Phương pháp nhân nuôi côn trùng thí nghiệm: Sâu đầu đen và ong ký sinh thu thập ngoài tự nhiên tại Bến Tre (10.351043 N). Sâu đầu đen được nhân nuôi trên lá dừa tươi trong lồng lưới 50 x 50 x 50 cm, 2 ngày thay lá 1 lần để thu ấu trùng tuổi 5, 6 thế hệ F1. Ong ký sinh B. hebetor được nhân nuôi trong hộp nhựa 25 x 15 x 8,5 cm chứa 50 ấu trùng sâu đầu đen tuổi 6 và 50 thành trùng ong (35 cái, 15 đực), nuôi dưỡng bằng mật ong tự nhiên 30% để thu thế hệ F2 phục vụ thí nghiệm.
  • Bố trí thí nghiệm độc học: Thí nghiệm đơn yếu tố theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại:
    • Nghiệm thức 1 (NT1): Emamectin benzoate 5% (liều lượng 0,5 g/L nước).
    • Nghiệm thức 2 (NT2): Flubendiamide 20% (liều lượng 0,4 g/L nước).
    • Nghiệm thức 3 (NT3): Nước cất (Đối chứng). Thực hiện qua 3 phương thức tiếp xúc: (1) Tẩm thuốc lên lá dừa (nhúng đoạn lá 10 - 13 cm vào dung dịch thuốc trong 3 giây, để ráo 15 - 25 phút, xếp 7 lá/hộp); (2) Xông hơi thuốc (đặt miếng bông gòn 2 cm tẩm dung dịch thuốc vào hộp kín); (3) Phun trực tiếp dung dịch thuốc lên ong và sâu non. Mỗi đơn vị thí nghiệm theo dõi 20 ấu trùng sâu đầu đen tuổi 5 - 6 và 50 cá thể ong ký sinh trưởng thành.
  • Xử lý số liệu: Theo dõi tỷ lệ chết ở các mốc 12, 24, 48, 72, 96, 120, 144, 168, 192, 216 và 240 giờ sau xử lý. Tính toán tỷ lệ chết hiệu chỉnh theo công thức Abbott. Ghi nhận số lượng ong ký sinh vũ hóa thế hệ con (F3) và thời gian hoàn thành vòng đời (ngày). Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010; tỷ lệ phần trăm được chuyển đổi dạng arcsin(sqrt(x)) trước khi phân tích phương sai ANOVA và trắc nghiệm phân hạng LSD (α = 0,05) trên phần mềm RStudio.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu về cây dừa, sâu đầu đen và ong ký sinh Bracon hebetor:

  • Khái quát tình hình sản xuất dừa: Thế giới có 12,3 triệu ha dừa với sản lượng 61,4 triệu tấn (năm 2020), đứng đầu là Indonesia (16,84 triệu tấn), Ấn Độ (14,69 triệu tấn) và Philippines (14,49 triệu tấn). Việt Nam xếp thứ 6 thế giới về sản lượng dừa. Bến Tre là địa phương dẫn đầu cả nước với hơn 77.000 ha dừa, đạt giá trị sản xuất chế biến 3.500 tỷ đồng (chiếm gần 10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh) và đang mở rộng diện tích canh tác hữu cơ đạt 16.014 ha.
  • Đặc điểm hình thái, tập tính và tác hại của Opisina arenosella: Hệ thống hóa 150 loài dịch hại trên dừa, khẳng định sâu đầu đen là loài gây hại nguy hiểm bậc nhất do tập tính ăn biểu bì mặt dưới lá chét của các tàu lá già và bánh tẻ, tạo mạng tơ che chắn làm suy giảm diện tích quang hợp, khiến cây kiệt quệ và rụng trái.
  • Các biện pháp kiểm soát sinh học: Tổng quan các nhóm nấm ký sinh (Aspergillus flavus gây chết sâu non tới 90%), ong ký sinh trứng, ký sinh ấu trùng và ký sinh nhộng. Nêu bật vị trí của ong ký sinh Bracon hebetor (họ Braconidae), loài thiên địch có khả năng hạn chế mật số sâu đầu đen tới 71,86% trên đồng ruộng tại Thái Lan.
  • Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến sâu hại và thiên địch: Dẫn chứng các nghiên cứu độc học trước đây (Trần Khánh Duy 2021; Kumara 2015; Muslim 2018; Khan 2009; Reddy 1997; Ebeid 2017). Các nghiên cứu khẳng định Emamectin benzoate và Flubendiamide có hiệu lực tiêu diệt sâu non sâu đầu đen rất cao (đạt 98 - 100% sau 72 giờ trong phòng thí nghiệm), nhưng mức độ ảnh hưởng tiêu cực của từng hoạt chất lên sự sống sót và sinh sản của ong ký sinh B. hebetor vẫn cần được thực nghiệm kiểm chứng.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm và phương tiện nghiên cứu:

  • Thiết bị và vật liệu: Lồng mica (30 x 30 x 25 cm), lồng nuôi lưới (50 x 50 x 50 cm), hộp nhựa nhân nuôi các kích thước (25 x 15 x 8,5 cm; 17 x 11,6 x 5,6 cm), cân tiểu ly điện tử (220 g, độ chính xác 0,001 g), bình xịt áp lực, kính lúp soi nổi và đầu cắt cành lưỡi liềm trên cao.
  • Quy trình chuẩn hóa nhân nuôi ấu trùng sâu đầu đen tuổi 5, 6 và ong ký sinh B. hebetor thế hệ F2 nhằm đảm bảo tính đồng nhất sinh học trước khi đưa vào bố trí các công thức thí nghiệm.
  • Thiết kế chi tiết 3 mô hình đánh giá độc học của Emamectin benzoate 5% (0,5 g/L) và Flubendiamide 20% (0,4 g/L): phương pháp tẩm lá dừa tươi, phương pháp xông hơi thuốc qua bông gòn trong không gian kín, và phương pháp phun tiếp xúc trực tiếp.
  • Thiết lập quy chuẩn tính toán chỉ số hại theo 5 cấp của Cục Bảo vệ thực vật, công thức hiệu chỉnh tỷ lệ chết Abbott và quy trình phân tích thống kê phương sai ANOVA với trắc nghiệm LSD trên phần mềm RStudio.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 công bố các dữ liệu thực nghiệm nguyên gốc thu được từ khảo sát thực địa và thử nghiệm trong phòng thí nghiệm:

  1. Hiện trạng và mức độ gây hại của sâu đầu đen tại 3 xã thuộc huyện Bình Đại: Tổng diện tích dừa bị sâu đầu đen gây hại tại 30 vườn điều tra là 19,52 ha. Mức độ gây hại biểu hiện sự khác biệt rõ rệt giữa các địa bàn:
Xã điều tra Tỷ lệ cây bị hại (%) (TB ± SD) Tỷ lệ tàu lá bị hại (%) (TB ± SD) Chỉ số hại (%) (TB ± SD) Mật độ sâu non (con/30 lá chét) (TB ± SD) Mật độ nhộng (nhộng/30 lá chét) (TB ± SD) Biện pháp canh tác / quản lý chính
Thới Lai 95,2 ± 6,9 48,7 ± 30,2 24,3 ± 20,5 8,7 ± 8,3 2,4 ± 2,6 Chủ yếu phun thuốc bảo vệ thực vật hóa học
Định Trung 94,0 ± 8,5 50,9 ± 28,4 28,5 ± 23,7 9,4 ± 6,5 0,5 ± 0,3 6/10 vườn dùng hóa học định kỳ, 4 vườn không xử lý
Phú Long 100,0 ± 0,0 46,4 ± 14,7 20,9 ± 10,9 1,6 ± 0,5 0,0 ± 0,0 100% vườn dùng biện pháp sinh học từ tháng 7/2021
Trung bình 96,4 ± 5,1 49,2 ± 25,2 24,9 ± 19,0 6,6 ± 5,1 1,0 ± 1,0 --
  • Tại xã Định Trung: Chỉ số hại trung bình cao nhất đạt 28,5 ± 23,7% (bảng 3.1 tổng hợp ghi nhận 29,4 ± 25,7%), mật độ sâu non đạt 9,4 ± 6,5 con/30 lá chét; vườn số 1 có chỉ số hại lên tới 69,2% và vườn số 2 đạt 54,2%.
  • Tại xã Thới Lai: Chỉ số hại trung bình là 24,3 ± 20,5%, mật độ sâu non 8,7 ± 8,3 con/30 lá chét, mật độ nhộng đạt cao nhất với 2,4 ± 2,6 nhộng/30 lá chét (vườn số 10 có chỉ số hại 55,6% và mật độ sâu non 22,2 con/30 lá chét).
  • Tại xã Phú Long: Mặc dù tỷ lệ cây ghi nhận triệu chứng nhiễm đạt 100%, nhưng chỉ số hại thấp nhất (20,9 ± 10,9%), mật độ sâu non giảm xuống chỉ còn 1,6 ± 0,5 con/30 lá chét và mật độ nhộng hoàn toàn bằng 0. So sánh với số liệu năm 2021 của tác giả Lê Văn Trí Tâm (khi chỉ số hại tại Phú Long > 70%, mật độ sâu non 33,6 - 48,08 con/30 lá chét, nhộng 0,6 - 10,4 con/30 lá chét khiến dừa rụng lá trơ trụi), việc áp dụng liên tục biện pháp sinh học (ong mắt đỏ và chế phẩm sinh học) từ tháng 7/2021 đã giúp các vườn dừa tại Phú Long phục hồi rõ rệt.
  1. Thí nghiệm tẩm thuốc bảo vệ thực vật lên lá dừa:
  • Tỷ lệ chết của ong ký sinh tăng dần từ 12 đến 240 giờ sau xử lý. Ở thời điểm 240 giờ (10 ngày sau xử lý), hoạt chất Emamectin benzoate 5% (0,5 g/L) gây chết 63,9% ong ký sinh, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với Flubendiamide 20% (0,4 g/L) gây chết 49,7% (đối chứng nước 0% chết; F = 673,6; p < 0,01).
  • Về khả năng sinh sản của ong thế hệ tiếp theo (F3): Xử lý tẩm lá bằng Emamectin benzoate 5% làm ong ký sinh chết nhanh và triệt tiêu hoàn toàn khả năng sinh sản, số lượng ong con vũ hóa bằng 0 con. Ngược lại, ở nghiệm thức Flubendiamide 20%, ong ký sinh vẫn sinh sản và có thế hệ con vũ hóa biến động từ 11 - 15 con (trung bình 12,3 ± 2,3 con, tổng số 37 con), dù giảm so với đối chứng nước (biến động 26 - 97 con, trung bình 56,3 ± 36,6 con, tổng 169 con, p < 0,05).
  • Về thời gian phát triển vòng đời của ong thế hệ con: Nghiệm thức Flubendiamide kéo dài trung bình 11,3 ± 1,5 ngày (dao động 10 - 13 ngày), khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng nước là 11,0 ± 2,0 ngày (dao động 9 - 13 ngày). Flubendiamide không làm biến đổi thời gian sinh trưởng của ong thế hệ sau.
  1. Thí nghiệm xông hơi thuốc bảo vệ thực vật trên lá dừa:
  • Hiệu ứng xông hơi trong không gian kín gây độc rất mạnh lên ong ký sinh trưởng thành. Ở thời điểm 240 giờ sau xử lý, nghiệm thức Emamectin benzoate 5% làm chết 95,6% ong ký sinh; nghiệm thức Flubendiamide 20% làm chết 88,9% ong ký sinh (đối chứng nước 0% chết; p < 0,01).
  • Khả năng vũ hóa của ong thế hệ con qua xông hơi: Emamectin benzoate đạt trung bình 30,7 ± 9,3 con vũ hóa (tổng 92 con); Flubendiamide đạt 18,7 ± 4,6 con (tổng 56 con); đối chứng nước đạt 48,0 ± 45,1 con (tổng 144 con, p < 0,01).
  • Thời gian vũ hóa vòng đời qua xông hơi: Nghiệm thức Emamectin benzoate đạt trung bình 11,7 ± 1,5 ngày (10 - 13 ngày); Flubendiamide đạt 11,0 ± 1,0 ngày (10 - 12 ngày); đối chứng nước đạt 11,7 ± 1,5 ngày (10 - 13 ngày). Sự khác biệt giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê (F = 0,8ns, p > 0,05).
  1. Thí nghiệm phun trực tiếp thuốc bảo vệ thực vật lên ong ký sinh: Kết quả khẳng định Emamectin benzoate 5% ở nồng độ 0,5 g/L gây độc tiếp xúc trực tiếp cao hơn và làm chết ong ký sinh Bracon hebetor nhanh hơn so với Flubendiamide 20% ở nồng độ 0,4 g/L.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng cụ thể từ nghiên cứu:

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng đầy đủ về tình trạng nhiễm sâu đầu đen tại 30 vườn dừa huyện Bình Đại năm 2022: Tỷ lệ cây bị hại trung bình là 96,4 ± 5,1%, tỷ lệ tàu lá bị hại 49,2 ± 25,2%, chỉ số hại trung bình 24,9 ± 19,0%, mật độ sâu non 6,6 ± 5,1 con/30 lá chét và mật độ nhộng 1,0 ± 1,0 nhộng/30 lá chét. Xác lập thực tế phục hồi rõ rệt tại xã Phú Long sau 1 năm kiên trì thả ong mắt đỏ và dùng thuốc sinh học (mật độ sâu non giảm từ trên 33 con xuống 1,6 con/30 lá chét, mật độ nhộng triệt tiêu về 0 con).
  • Xác định chính xác sự khác biệt độc học giữa hai hoạt chất phòng trừ sâu đầu đen đối với thiên địch: Hoạt chất Emamectin benzoate 5% (0,5 g/L) thể hiện độc tính tiêu cực mạnh hơn Flubendiamide 20% (0,4 g/L) ở tất cả các phương thức tiếp xúc. Trong thí nghiệm tẩm lá dừa, Emamectin benzoate làm chết 63,9% ong và xóa sổ hoàn toàn thế hệ con (0 con vũ hóa). Flubendiamide 20% có mức độ gây chết thấp hơn (49,7%) và cho phép ong ký sinh duy trì nòi giống với 12,3 con vũ hóa ở thế hệ tiếp theo mà không làm sai lệch chu kỳ vòng đời (11,3 ngày so với 11,0 ngày ở đối chứng). Cả hai hoạt chất đều thể hiện độc tính xông hơi rất cao trong không gian kín (làm chết từ 88,9% đến 95,6% ong ký sinh sau 10 ngày).

Giải pháp và kiến nghị đề xuất:

  • Khuyến cáo các cơ quan chuyên môn và người trồng dừa hạn chế tối đa việc lạm dụng hoạt chất Emamectin benzoate trong các đợt phun phòng trừ sâu đầu đen vì hoạt chất này triệt tiêu hoàn toàn khả năng nhân đàn của ong ký sinh Bracon hebetor.
  • Trong trường hợp dịch bùng phát nghiêm trọng buộc phải dùng thuốc hóa học để chặn đứng thiệt hại kinh tế, ưu tiên lựa chọn hoạt chất Flubendiamide 20% (liều lượng 0,4 g/L) để giảm thiểu độc tính lên ong ký sinh; đồng thời cần cách ly thời gian hợp lý trước khi phóng thích bổ sung ong thiên địch ra vườn nhằm tránh tác động xông hơi và tiếp xúc ban đầu.
  • Nhân rộng mô hình quản lý dịch hại bằng tác nhân sinh học kết hợp chế phẩm thân thiện môi trường từ xã Phú Long sang các vùng trồng dừa khác thuộc huyện Bình Đại và tỉnh Bến Tre.

Đóng góp mới của tác giả: Khóa luận cung cấp các dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về mức độ an toàn sinh học của hai hoạt chất trừ sâu đầu đen phổ biến đối với ong ký sinh Bracon hebetor tại Bến Tre; chứng minh thực tiễn khả năng phục hồi của vườn dừa sau can thiệp sinh học, tạo cơ sở khoa học tin cậy để tích hợp biện pháp hóa học có chọn lọc với biện pháp sinh học trong quy trình IPM trừ sâu đầu đen hại dừa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Điều tra hiện trạng thực địa chỉ tiến hành trong phạm vi 3 xã (Thới Lai, Định Trung, Phú Long) thuộc huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre trong thời gian giới hạn (tháng 06/2022), chưa theo dõi được chu kỳ biến động mật số dịch hại xuyên suốt các mùa khô và mùa mưa trong năm.
  • Các thí nghiệm độc học mới thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm được kiểm soát nghiêm ngặt (28 ± 2°C, ẩm độ 70 ± 5%), chỉ khảo sát trên 2 hoạt chất hóa học ở một mức nồng độ khuyến cáo duy nhất và giới hạn trên ấu trùng sâu đầu đen tuổi 5 - 6; chưa phản ánh đầy đủ tác động của các yếu tố ngoại cảnh tự nhiên (nắng, mưa, sự phân hủy quang hóa và gió) lên mức độ tồn lưu thực tế của thuốc bảo vệ thực vật trên tán lá dừa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi điều tra hiện trạng dịch hại trên toàn bộ các huyện chuyên canh dừa của tỉnh Bến Tre và các tỉnh lân cận thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Thực hiện các thí nghiệm bán thực địa và thực địa (semi-field and field bioassays) để đánh giá độ tồn lưu của Flubendiamide trên cây dừa theo thời gian, từ đó xác định khoảng thời gian cách ly an toàn tối ưu cho việc phóng thích ong ký sinh Bracon hebetor sau khi phun thuốc trừ sâu.

Giá trị tham khảo

Giá trị đối với các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên ngành Bảo vệ Thực vật, Nông học, Sinh thái học nông nghiệp và Côn trùng học ứng dụng: Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn xác trong việc thiết kế thí nghiệm đánh giá độc tính thuốc bảo vệ thực vật lên thiên địch ký sinh, cũng như quy trình thu thập mẫu và phân cấp dịch hại trên đồng ruộng.
  • Cán bộ kỹ thuật Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh trồng dừa (Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long): Cung cấp số liệu định lượng làm căn cứ xây dựng cẩm nang chỉ đạo phòng trừ sâu đầu đen, tránh việc phun hóa chất triệt hạ các loài thiên địch bản địa.
  • Các đơn vị nhân nuôi thiên địch thương mại và trung tâm nông nghiệp công nghệ cao: Tham khảo quy trình nhân nuôi luân phiên ký chủ Opisina arenosella và ong ký sinh Bracon hebetor phục vụ chương trình đấu tranh sinh học.

Các phần nội dung đáng tham khảo nhất:

  • Quy trình nhân nuôi ong ký sinh Bracon hebetor trên ấu trùng tuổi 6 của sâu đầu đen với tỷ lệ ghép đôi 35 cái : 15 đực và thức ăn bổ sung mật ong 30%.
  • Bảng dữ liệu định lượng so sánh chi tiết tác động của Emamectin benzoate và Flubendiamide đến tỷ lệ sống sót, khả năng sinh sản và thời gian vòng đời thế hệ con của ong ký sinh qua 3 phương thức tiếp xúc.
  • Phương pháp điều tra phân 5 cấp hại và cách tính chỉ số hại chuẩn hóa theo tiêu chuẩn của Cục Bảo vệ thực vật ứng dụng trên vườn dừa.

Câu hỏi thường gặp

Sâu đầu đen hại dừa được ghi nhận xuất hiện đầu tiên tại Việt Nam vào thời điểm nào, ở đâu và diện tích ban đầu là bao nhiêu? Theo văn bản, sâu đầu đen (Opisina arenosella) được ghi nhận xuất hiện đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 07 năm 2020 tại ấp Giồng Tre, xã Phú Long, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre với diện tích nhiễm ban đầu là 2,4 ha.

Tại sao xã Phú Long có tỷ lệ cây bị hại đạt 100% nhưng chỉ số hại và mật độ sâu non lại thấp nhất trong ba xã điều tra? Tỷ lệ cây bị hại đạt 100% là do vườn dừa từng bị dịch sâu đầu đen tấn công trước đó để lại sẹo hại trên tán lá; tuy nhiên toàn bộ 10 vườn tại xã Phú Long đã chuyển sang áp dụng biện pháp phòng trừ sinh học (thả ong mắt đỏ kết hợp thuốc sinh học) liên tục từ tháng 7/2021. Biện pháp này giúp khống chế hiệu quả sâu hại, đưa mật độ sâu non giảm xuống chỉ còn 1,6 ± 0,5 con/30 lá chét, mật độ nhộng giảm về 0 và chỉ số hại giảm còn 20,9 ± 10,9%, giúp vườn dừa phục hồi mạnh mẽ so với năm 2021.

Hoạt chất Emamectin benzoate 5% ở liều lượng 0,5 g/L ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh sản của ong ký sinh Bracon hebetor khi tẩm trên lá dừa? Trong thí nghiệm tẩm lá dừa, hoạt chất Emamectin benzoate 5% (0,5 g/L) gây chết 63,9% ong ký sinh ở 240 giờ sau xử lý và làm số lượng ong ký sinh vũ hóa ở thế hệ con tiếp theo bằng 0 con. Hoạt chất này làm ong chết nhanh trước khi kịp đẻ trứng hoặc ký sinh thành công, triệt tiêu hoàn toàn khả năng nhân đàn của ong ký sinh.

Trong thí nghiệm tẩm lá dừa, hoạt chất Flubendiamide 20% (0,4 g/L) tác động ra sao đến số lượng và thời gian phát triển vòng đời của ong thế hệ con? Ở nghiệm thức Flubendiamide 20%, ong ký sinh vẫn có khả năng đẻ trứng và phát triển thế hệ con với số lượng vũ hóa biến động từ 11 - 15 con (trung bình 12,3 ± 2,3 con). Thời gian hoàn thành vòng đời của ong thế hệ con trung bình là 11,3 ± 1,5 ngày, khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng nước (11,0 ± 2,0 ngày).

Hai hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật thể hiện độc tính xông hơi như thế nào đối với ong ký sinh B. hebetor sau 240 giờ xử lý trong phòng thí nghiệm? Cả hai hoạt chất đều thể hiện độc tính xông hơi rất mạnh làm chết phần lớn ong ký sinh trong không gian kín: Emamectin benzoate 5% làm chết 95,6% và Flubendiamide 20% làm chết 88,9% ong ký sinh, cả hai đều có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) so với nghiệm thức đối chứng nước (0% chết).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hồng Sơn đã phản ánh chi tiết hiện trạng phân bố và mức độ gây hại của sâu đầu đen Opisina arenosella tại 3 xã thuộc huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, đồng thời ghi nhận sự phục hồi thực tế của các vườn dừa áp dụng biện pháp kiểm soát sinh học. Kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm chứng minh hoạt chất Flubendiamide 20% (0,4 g/L) tương đối an toàn hơn đối với ong ký sinh Bracon hebetor so với Emamectin benzoate 5% (0,5 g/L) – hoạt chất làm mất hoàn toàn khả năng sinh sản của ong khi tẩm lá dừa. Công trình cung cấp những luận cứ khoa học thực nghiệm có giá trị thực tiễn cao cho việc định hướng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) bền vững trên cây dừa tại Đồng bằng sông Cửu Long.