Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây dừa 1.1 Nguồn gốc và phân loại cây dừa 1.1 Nguồn gốc Cây dừa được phân bố ở các vùng nhiệt đới trên toàn thế giới và được phát triển rộng trong khu vực gồm bán đảo Malayan, quần đảo New Guinea và quần đảo Bismarck từ đó lan rộng khắp các vùng nhiệt đới. Ngày nay cây dừa phân bố ở khu vực bao gồm Tây Phi, Đông Phi, Đông Nam Á, các đảo Thái Bình Dương và Bắc Mỹ, Trung My và Nam Mỹ (Prades và ctv, 2016; Xiao và ctv, 2017). Dừa được xem là một trong 10 cây trồng hữu ích trên thế giới (Duke, 1983). La một trong những cây dùng để lấy dầu quan trọng nhất trong sản xuất công nghiệp.
Phân bố từ 20 vĩ độ Bắc đến 20 vĩ độ Nam (ICC, 2020). Được trồng trên 90 quốc gia từ các vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới (Laura và ctv, 2016). Đến năm 2020 diện tích trồng dừa trên toàn thế giới là 12,3 triệu ha, hàng năm sản xuất 61,4 triệu tấn trái. Là loại cây trồng thích nghi với mọi loại đất, môi trường sống tự nhiên thường là đất cát nghèo dinh dưỡng ven biển nhưng ngày nay nó được tìm thấy trên các loại đất khác nhau (Ignacio, 2021).2 Phan loai Dừa là loài thực vật thân gỗ, thuộc giới Plantae, thuộc họ Cau (Arecaceae), bộ Arecales, chi Cocos, loài Cocos nucifera.
Dừa sở hữu bộ gen lưỡng bội với 32 nhiễm sắc thé (Sujatha và Chalam, 2009). Phân loại giống dừa dựa vào các tính trạng của hoa, quả và cây. Nhưng sự phân loại theo đặc điểm tinh trạng di truyền bằng cách thụ phan hoa được sử dụng phô biến nhất. Theo cách phân loại này thì dừa được chia làm 2 giống: đừa cao và dừa lùn (Bourdeix và ctv, 1990).
Giống dừa cao: có đặc điểm là thụ phấn chéo, thân to khỏe và ra hoa muộn, số lượng quả ít, kích thước quả trung bình đến to, quả có cơm dày, hàm lượng dầu cao (65 - 70%), chất lượng xơ dừa tốt. Chiều cao cây từ 15 - 30 m, tính chống chịu tốt có thể sống từ 80 đến 90 năm. Giống dừa cao là nhóm phổ biến nhất cho ngành công nghiệp chế biến đầu nên được trồng và phát triển. Giống dia lùn: có đặc điểm là tự thụ phan với chiều cao tối đa từ 10 - 15 m, lá nhiều nhưng tàu lá ngắn.
Cây ra quả rất sớm khoảng 3 - 4 năm, ra nhiều buồng hoa nên cho nhiều quả, quả nhỏ và chín sớm. Quả đừa lùn thường có màu sắc đặc trưng cho từng giống khác nhau như: xanh lục, vàng, đỏ ở khu vực Chau Á (Swaminathan và ctv, 1961). Ngoài các nhóm dừa cao và lùn, một số nhóm dừa trung gian, đôi khi được gọi là nửa cao hoặc nửa lùn cũng được tìm thấy. Các giống dừa lai thường mang nhiều đặc điểm tốt hơn giống cao và lùn là cho quả sớm, năng suất cao chất lượng cơm dừa cao, hàm lượng đầu cao và tính chống chịu tốt đối với điều kiện môi trường khắc nghiệt (Sujatha và Chalam, 2009).2 Yếu cầu sinh thái Dừa là loại cây đa niên nên có thời gian kiến thiết cơ bản từ 1 - 3 năm.
Dừa thích nghi trên những nơi có khí hậu thích hợp từ 27°C đến 29°C, âm độ tương đối từ 60 - 90%. Dừa là cây thích ánh sáng, trung bình trên một năm nhận từ 2000 giờ trở lên, trong điều kiện thiếu ánh sáng cây ít cho quả. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1300 - 2300 mm phân bố đều trên năm thì dừa sinh trưởng tốt (Dương Tan Lợi, 2004). Cây dừa có sức sông mãnh liệt, phân bồ rộng, phát triển tốt ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bang ven biển, dừa cũng cho năng suất cao trên nhiều loại đất và cho năng suất thấp ở những đất nhiễm phèn và nhiễm mặn cao (Nguyễn Bảo Vệ va ctv, 2011).
Dừa chịu được đất kiềm đến pH 8 và đất chua có độ pH dưới 4.5; khoảng pH lý tưởng là 5 - 5,7. Sản xuất bắt đầu 4 - 5 năm đối với giống 4 lai va 6 - 10 năm sau khi trồng đối với giống địa phương. Một cây có thé cho năng suất 70 - 150 quả mỗi năm (Laura và ctv, 2016).3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa trên thế giới Ngày nay đừa là mặt hàng cơ ban ở các khu vực nhiệt đới trên toàn thế giới. Ngành sản xuất dừa đang kinh doanh và tăng giá trị của các sản phẩm làm từ diva mỗi năm, cây dừa là nguồn cung cấp các sản phẩm có thé sử dụng được như nước dừa, dầu dừa nguyên chất, cùi dừa và nước cốt dừa, bên cạnh đó cây đừa còn là một trong nguồn nguyên liệu cung cấp cho các ngành công nghiệp chế biến khác nhau.
Do đó ngành dừa dự kiến có giá tri 11,5 tỷ đô la và dự kiến sẽ đạt 31,5 tỷ đô vào năm 2026 (Ignacio va Miguel, 2021). Theo thống kê của Tổ chức Luong thực va Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), cây dừa được trồng trên 93 quốc gia và lãnh thô vùng nhiệt đới, với tổng diện tích gần 12 triệu ha vào năm 2019 tập chung tại các nước Châu Á - Thái Bình Dương, tăng 1,27% so với năm 2018, sản lượng đạt 62,45 triệu tấn giảm 2,05%. Trong đó đứng đầu về diện tích trồng dừa là Philippines 3,63 triệu ha, Indonesia với 3,25 triệu ha, An Độ với 2,10 triệu ha, Tanzania 0,80 triệu ha, Sri Lanka 0,46 triệu ha (FAO, 2020). Tổng sản lượng dừa thế giới đứng đầu là Indonesia 16,84 triệu tấn, Ấn Độ là nước có sản lượng dừa đứng thứ hai với 14,69 triệu tấn là ngành sản xuất dừa rất quan trọng đối với nông nghiệp ở Ấn Độ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, đứng vị trí thứ ba la Philippines 14,49 triệu tan (FAO, 2020).
Theo Sở Công Thuong Bến Tre (2020) giá dau dừa thé tăng ở Philippines va Indonesia nhưng giảm thấp ở Sri LanKa. Giá cơm dừa tăng cao ở Philippines và Sri Lanka nhưng thấp ở Indonesia. Trong đó giá com dừa ở Indonesia đạt 569 USD/tan trong tháng 8/2020, cao hơn so với giá tháng trước 553 USD/tan, dầu dừa tại châu Âu trong tháng 8/2020 tăng khoảng 93 USD/tan lên 981 USD/tan từ 888 USD/tan trong tháng 7/2020 cao hơn khoảng 38 USD/tan, com dừa giá bình quân trong tháng 8/2020 đạt 2.195 USD/tan cao hơn 5 USD/tan so với giá tháng 7 và cao hơn 538 USD/tan so với giá cùng kỳ năm trước. Ở Sri Lanka giá cơm dừa ở tháng 8/2020 là 2.548 USD/tan và cao hơn 82 USD/tấn so với giá tháng 7/2020.
Năm 2021 Indonesia đã xuất khẩu 611.448 tan dau dừa ra thị trường toàn cầu, các thị trường chính là Hoa Kỳ, Malaysia, Trung Quốc và Hà Lan sản lượng xuất khẩu chiếm 70%. Trong đó Hoa Kỳ nhập 771.495 tấn dầu dừa, các nước Châu Âu nhập khẩu dầu dừa suy yếu đến 1,2% trong giai đoạn tháng 8 năm 2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 (Hiệp hội Dừa Bến Tre, 2021).2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa ở Việt Nam Năm 2020 sản lượng dừa ở Việt Nam đứng thứ 6 thế giới sau các nước Indonesia, Ấn Độ, Philippines, Barazil, Sri Lanka (FAO, 2020). Theo Hiệp hội Dừa Bến Tre tổng hợp, Niên giám thống kê của các tỉnh và Niên giám thống kê của Cộng đồng Dừa Quốc tế (ICC), tổng diện tích trồng dừa năm 2020 trên 170.000 ha, tập trung tại Đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh duyên hải miền Trung với sản lượng 1,72 triệu tấn quả trong đó có khoảng 3.000 ha trồng dừa đạt chứng nhận hữu cơ, tập trung tại tỉnh Bến Tre. Ở ĐBSCL chiếm gần 80% diện tích dừa cả nước với diện tích trên 130.Trong đó diện tích trồng dừa của tỉnh Bến Tre là 77.232 ha chiếm 40%, Trà Vinh 23.698 ha chiếm 14%, Tiền Giang 20.087 ha chiếm 12%, Vĩnh Long 10.240 ha chiếm 6%, Cà Mau 7.218 ha chiếm 4%, Sóc Trăng 7.
Theo thống kê của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Bến Tre (2021) hiện có 77.232 ha trồng dừa, trong đó diện tích trồng mới là 1.193 ha, hiện đang cho quả 71.181 ha, sản lượng thu hoạch 672. Trong đó ty trọng xuất khâu dừa từ Việt Nam sang Thái Lan chiếm đến 36% tổng sản lượng dừa. Trung Quốc là nước nhập khẩu dừa Việt Nam cao nhất với 30,4%. Tuy nhiên tăng mạnh ở các nước như Tây Ban Nha, Qatar, Úc, Hàn Quốc lần lượt là 93,4%, 57,8%, 29,7%, 28%.
Trong tháng 6 năm 2020 Thái Lan nhập khâu dừa từ Việt Nam đạt 2.280 tấn, trị giá 4,5 triệu USD, tăng 212% về sản lượng và tăng 332% về trị giá. Theo Sở Công Thương Bến Tre (2022) Bến Tre hiện có trên 77.000 ha trồng dừa với sản lượng đạt 600 triệu trái mỗi năm, giá trị sản xuất chế biến đừa dat 3.500 tỷ 6 đồng, chiếm gần 10% so với giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm đạt 1.800 tỷ đồng, tăng 4,05% so với cùng kỳ, chiếm 10,32% so với giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tinh. Cụ thé cơm dừa nạo chiếm 11.023 tan, tăng 8,94% so với cùng kỳ năm trước, nước cốt dita 32.767 triệu lít, tăng 1,72% nước dita tươi 19.168 triệu lit, tang 22,86%.
Sản phẩm dừa Bến Tre đã có mặt trên thị trường của hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thé. Tỉnh Bến Tre xuất khâu được khoảng 2,7 triệu trái dừa tươi, giảm hơn 2/3 so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó giá xuất khẩu cũng giảm 15 - 20%, bên cạnh đó tình hình giá dừa khô hiện đang giảm mạnh do sự cạnh tranh về giá giữa các nước xuất khẩu dừa trên thế giới và phụ thuộc nhiều vào nhiều yếu tố như: cơm dita, vỏ dita, nước dừa trong 6 tháng đầu năm. Trước tình hình đó Bến Tre tập trung vào phát triển dừa hữu cơ phát triển hơn 2.890 ha dừa hữu cơ.
Đến nay tông diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ trên địa bàn tỉnh cũng đạt hơn 16.014 ha, chiếm 20,7% trên tổng diện tích dừa toản tỉnh, trong đó diện tích chứng nhận là 9.521 ha tập trung trên địa bản các huyện Giồng Trôm, Mo Cay Nam, Bình Đại, Thanh Phú, Ba Tri, Mỏ Cày Bắc.2 Tình hình sâu hại trên dừa Trên cây dừa nguyên nhân chính làm giảm năng suất đó là các loài sâu hại. Qua đó ghi nhận có hơn 150 loài côn trùng gây hại trên các bộ phận khác nhau trên cây dừa.