Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hu (tỉnh Thanh Hóa) sở hữu tổng diện tích tự nhiên 28.473,71 ha, trong đó diện tích đất có rừng đạt 27.747,97 ha (chiếm 97,45%), bao gồm 27.282,58 ha rừng tự nhiên với tính đa dạng sinh học cao. Vùng đệm của khu bảo tồn trải rộng trên 50.000 ha thuộc địa bàn 11 xã của hai huyện vùng cao Quan Hóa và Mường Lát. Đây là nơi sinh sống của hơn 15.000 nhân khẩu thuộc các dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Mông. Thực tế cho thấy, tình trạng thiếu lương thực kéo dài từ 2 đến 5 tháng mỗi năm tại các thôn bản vùng đệm đã tạo ra áp lực sinh kế nặng nề lên tài nguyên rừng. Người dân địa phương phụ thuộc lớn vào việc khai thác tự phát các loài cây lâm sản ngoài gỗ nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt và gia tăng thu nhập.

Tuy nhiên, các hoạt động khai thác thiếu quy hoạch, tập trung thu hái theo phương thức tận diệt đã làm suy giảm nghiêm trọng trữ lượng và môi trường sống của nhiều loài thực vật quý hiếm. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng của học viên Nguyễn Phương Đông, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Ngọc Hải tại Trường Đại học Lâm nghiệp (giai đoạn 2015–2017), đã tập trung nghiên cứu toàn diện hiện trạng các loài cây lâm sản ngoài gỗ tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hu.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm: đánh giá hệ thống thành phần loài, dạng sống, bộ phận sử dụng, giá trị công dụng, giá trị bảo tồn và đặc điểm phân bố của thảm thực vật lâm sản ngoài gỗ; đồng thời phân tích các tác động tiêu cực từ hoạt động nhân sinh để đề xuất các giải pháp bảo tồn nguồn gen kết hợp phát triển kinh tế vùng đệm bền vững. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy về 805 loài cây lâm sản ngoài gỗ, làm nền tảng cho công tác quản lý tài nguyên và định hướng sinh kế cho 565 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của các lý thuyết sinh thái học thực vật và quản lý rừng bền vững hiện đại:

  • Lý thuyết phân loại dạng sống của Raunkiaer (1934): Phân chia thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính dựa trên vị trí của chồi sinh dưỡng trong điều kiện môi trường bất lợi (Chồi trên - Phanerophytes, Chồi sát đất - Chamaephytes, Chồi nửa ẩn - Hemicryptophytes, Chồi ẩn - Cryptophytes và Chồi một năm - Therophytes). Mô hình này giúp xác lập phổ sinh thái và đánh giá khả năng thích nghi của hệ thực vật nhiệt đới.
  • Hệ thống phân loại thực vật học Takhtajan (1973): Chuẩn hóa cấu trúc phân loại của các bậc taxon từ ngành, lớp, bộ, họ, chi đến loài đối với toàn bộ thực vật bậc cao có mạch.
  • Khung lý thuyết khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ (Mendelsohn 1992, De Beer 1989): Định lượng giá trị tài nguyên phi gỗ, khẳng định việc khai thác hợp lý lâm sản ngoài gỗ có thể tạo ra chuỗi giá trị kinh tế ổn định mà vẫn duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái rừng tự nhiên.

Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi: Lâm sản ngoài gỗ (NTFPs), Phổ dạng sống sinh học (Spectrum of Biology - SB), Đa dạng sinh học thực vật và Quản lý rừng đặc dụng dựa vào cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa điều tra thực địa ngoại nghiệp và xử lý dữ liệu nội nghiệp:

  • Phương pháp điều tra tuyến: Thiết lập 5 tuyến điều tra thực địa điển hình với tổng chiều dài 22.700 m cắt ngang qua các sinh cảnh chính (Tuyến I: 3.500 m, Tuyến II: 4.200 m, Tuyến III: 5.000 m, Tuyến IV: 4.000 m, Tuyến V: 6.000 m). Trên mỗi tuyến, áp dụng phương pháp điều tra theo dải xương cá mở rộng 10 m sang hai bên để thu thập mẫu vật và ghi nhận dạng sống, công dụng.
  • Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (ÔTC): Bố trí 15 ÔTC điển hình diện tích 500 m2 (kích thước 20 m x 25 m) phân bố đều trên 3 đai cao và đại diện cho các trạng thái rừng chính (rừng phục hồi IIa-IIb, rừng nghèo IIIa1, rừng trung bình IIIa2, rừng giàu IIIa3, rừng tre nứa và rừng hỗn giao). Trong mỗi ÔTC, lập 5 ô dạng bản (ÔDB) diện tích 9 m2 (3 m x 3 m) tại 4 góc và tâm (tổng cộng 75 ÔDB, chiếm 10% diện tích ÔTC) để định lượng tầng cây tái sinh, cây bụi và thảm tươi.
  • Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ khu bảo tồn, kiểm lâm sở tại và người dân khai thác tại 11 xã vùng đệm; đối chiếu mẫu vật thực vật học với các tài liệu chuẩn quốc gia như Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ và Danh lục Thực vật Việt Nam.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Thiết kế mẫu phân tầng theo đai cao và trạng thái rừng đảm bảo tính đại diện thống kê cao cho địa hình phức tạp từ 200 m đến 1.458 m của khối núi Pù Hu, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa định lượng cấu trúc sinh thái và phân tích định tính kinh tế - xã hội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Đa dạng về thành phần phân loại học: Nghiên cứu đã xác định được 805 loài cây lâm sản ngoài gỗ thuộc 478 chi, 139 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hu. Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 117 họ (chiếm 84,17% tổng số họ), 448 chi (chiếm 93,72% tổng số chi) và 767 loài (chiếm 95,28% tổng số loài). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) đứng thứ hai với 15 họ (chiếm 10,79%) và 27 loài (chiếm 3,35%). Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có độ đa dạng loài cao nhất với 27 chi, 49 loài (chiếm 6,09% tổng số loài), tiếp theo là họ Cà phê (Rubiaceae) với 14 chi, 31 loài và họ Cúc (Asteraceae) với 23 chi, 26 loài. Chi Ficus (họ Moraceae) là chi phong phú nhất với 15 loài (chiếm 1,86% tổng số loài).
  • Cấu trúc phổ dạng sống sinh học: Phổ dạng sống của hệ cây lâm sản ngoài gỗ được thiết lập theo công thức: SB = 80,12%Ph + 3,11%Ch + 3,98%Hm + 5,47%Cr + 7,33%Th. Nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm tỷ lệ vượt trội với 645 loài (80,12%), trong đó cây gỗ vừa chiếm 19,13% (154 loài), cây gỗ nhỏ chiếm 18,14% (146 loài), dây leo thân gỗ chiếm 14,16% (114 loài), cây bụi chiếm 13,29% (107 loài) và cây gỗ lớn chiếm 7,33% (59 loài).
  • Đa dạng về giá trị sử dụng và bộ phận khai thác: Toàn bộ 805 loài được thống kê có 1.262 lượt công dụng (trung bình 1,57 công dụng trên mỗi loài). Nhóm cây làm thuốc chiếm tỷ trọng lớn nhất với 689 loài (chiếm 54,60% tổng lượt công dụng), nhóm cây làm thực phẩm có 252 loài (chiếm 19,97%), cây làm cảnh có 126 loài (chiếm 9,98%), cây cho tinh dầu có 53 loài (chiếm 4,20%) và cây cho sợi có 43 loài (chiếm 3,41%). Bộ phận bị thu hái nhiều nhất trong thực tế là lá và ngọn (489 loài), tiếp theo là toàn cây (473 loài) và rễ/thân rễ (411 loài).
  • Giá trị bảo tồn nguồn gen nguy cấp: Ghi nhận 36 loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị bảo tồn cao thuộc các danh mục quý hiếm. Cụ thể có 8 loài nằm trong Danh lục Đỏ IUCN (với 1 loài cực kỳ nguy cấp CR là Trầm hương Aquilaria crassna, 2 loài nguy cấp EN gồm Vù hương Cinnamomum balansae và Kim tuyến đá vôi Anoectochilus calcareus); 28 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (1 loài CR là Gù hương Cinnamomum parthenoxylon, 5 loài EN gồm Sến mật Madhuca pasquieri, Ba kích Morinda officinalis...); và 8 loài thuộc Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (1 loài nhóm IA là Kim tuyến đá vôi và 7 loài nhóm IIA).

Thảo luận kết quả

Các kết quả thống kê định lượng của luận văn được trực quan hóa thông qua hệ thống bảng cấu trúc taxon, bảng phân hạng công dụng và các biểu đồ phân bố phổ dạng sống. Phổ sinh học với 80,12% cây chồi trên đã phản ánh tính chất nhiệt đới gió mùa điển hình của hệ sinh thái vùng núi đất Pù Hu, nơi có lượng mưa và độ ẩm tạo điều kiện cho thảm thực vật thân gỗ và dây leo phát triển mạnh.

So sánh với các khu bảo tồn lân cận trong khu vực Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, tỷ lệ loài cây dược liệu tại Pù Hu (chiếm 54,60% tổng lượt công dụng) cao hơn mức trung bình 42% của nhiều vùng rừng tự nhiên khác. Tuy nhiên, việc người dân địa phương tập trung khai thác các bộ phận sống còn như rễ (411 loài) và toàn bộ cây (473 loài) đối với các loài thảo dược có giá trị thương phẩm cao (như Ba kích, Hoàng đằng, Bình vôi, Kim tuyến) đang gây ra nguy cơ suy thoái cục bộ nghiêm trọng. Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ tập quán thu hái tự do của 565 hộ đồng bào Mông tại 12 bản vùng đệm, việc thiếu liên kết thị trường khiến sản phẩm bị tư thương ép giá và người dân phải tăng cường độ khai thác để bù đắp thu nhập.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Quy hoạch và cắm mốc phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt: Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hu chủ trì thiết lập ngay 10 trạm quan trắc sinh thái cố định nhằm giám sát chặt chẽ quần thể của 36 loài cây lâm sản ngoài gỗ nguy cấp, quý hiếm (đặc biệt là Kim tuyến đá vôi, Trầm hương, Gù hương, Sến mật) tại các tiểu khu trọng điểm 98, 94, 102 và 71; hoàn thành việc xác lập ranh giới bảo tồn nghiêm ngặt trong thời gian 12 tháng.
  • Xây dựng mô hình nhân giống và canh tác dưới tán rừng: Hạt Kiểm lâm phối hợp cùng chính quyền địa phương triển khai 05 mô hình vườn ươm cộng đồng và phát triển trồng cây bản địa dưới tán rừng tự nhiên (tập trung vào Sa nhân tím, Ba kích, Song mật, Giổi lấy hạt và Trám đen) với quy mô tối thiểu 50 ha trong giai đoạn 2018–2022, hướng tới mục tiêu nâng cao thu nhập của các hộ tham gia từ 25% đến 30%.
  • Tổ chức tập huấn kỹ thuật thu hái bền vững và phát triển chuỗi giá trị: Sở Nông nghiệp và PTNT cùng UBND huyện Quan Hóa và Mường Lát tổ chức 15 lớp đào tạo kỹ năng thu hái không hủy diệt (không khai thác cạn kiệt rễ củ trong mùa sinh sản) cho 100% người dân tham gia thu hái; đồng thời bảo trợ thành lập 03 hợp tác xã chế biến dược liệu sạch liên kết tiêu thụ trực tiếp với doanh nghiệp để loại bỏ khâu trung gian ép giá.
  • Tăng cường tuần tra, thực thi pháp luật và chi trả dịch vụ môi trường rừng: Lực lượng Kiểm lâm tăng cường tần suất kiểm tra tại 5 tuyến điều tra huyết mạch, xử lý nghiêm các hành vi vận chuyển và khai thác trái phép lâm sản quý hiếm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và Thông tư số 21/2016/TT-BNNPTNT; đồng thời mở rộng diện tích giao khoán bảo vệ rừng gắn liền với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 565 hộ đồng bào Mông vùng đệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Cung cấp khung phương pháp luận điều tra thực địa chuẩn xác, phương pháp phân tích phổ sinh học và quy trình quản lý 805 loài cây lâm sản ngoài gỗ trong hệ sinh thái núi đất nhiệt đới.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Dược học: Nguồn dữ liệu thứ cấp giá trị về danh lục phân loại học thực vật, cấu trúc tầng thứ thảm rừng và danh mục 689 loài cây thuốc phục vụ nghiên cứu dược liệu học và bảo tồn nguồn gen.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp & PTNT, UBND cấp huyện/xã): Căn cứ thực tiễn vững chắc để xây dựng quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh, đề án phát triển sinh kế bền vững và chính sách giao khoán đất rừng tại vùng cao Thanh Hóa.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và doanh nghiệp phát triển dược liệu: Tài liệu định hướng khảo sát thị trường, đánh giá tiềm năng khai thác bền vững các loài cây đặc sản (Sa nhân, Giổi, Ba kích, Song mây) nhằm xây dựng dự án xóa đói giảm nghèo gắn liền với bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

  • Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hu ghi nhận bao nhiêu loài cây lâm sản ngoài gỗ? Luận văn đã thống kê chính xác 805 loài cây lâm sản ngoài gỗ thuộc 478 chi, 139 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối với 767 loài (chiếm 95,28% tổng số loài toàn khu hệ).

  • Nhóm công dụng nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong hệ cây lâm sản ngoài gỗ tại Pù Hu? Nhóm cây làm thuốc chiếm vị trí áp đảo với 689 loài, chiếm 54,60% trong tổng số 1.262 lượt công dụng được xác định. Điển hình là các loài dược liệu quý như Ba kích, Hà thủ ô đỏ, Bình vôi trắng, Hoàng đằng và Kim tuyến đá vôi.

  • Có bao nhiêu loài cây lâm sản ngoài gỗ thuộc diện nguy cấp, quý hiếm tại khu bảo tồn? Nghiên cứu đã ghi nhận 36 loài quý hiếm có giá trị bảo tồn cao, bao gồm 8 loài trong Danh lục Đỏ IUCN (như Trầm hương, Vù hương), 28 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (như Gù hương, Sến mật) và 8 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

  • Nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm tài nguyên lâm sản ngoài gỗ tại Pù Hu là gì? Nguyên nhân chủ yếu do 565 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại 12 bản vùng đệm chịu áp lực thiếu lương thực từ 2 đến 5 tháng mỗi năm, dẫn đến việc khai thác quá mức và tận diệt các bộ phận quan trọng như rễ (411 loài) và toàn cây (473 loài).

  • Phổ dạng sống sinh học của hệ cây lâm sản ngoài gỗ Pù Hu mang đặc điểm gì? Phổ dạng sống SB = 80,12%Ph + 3,11%Ch + 3,98%Hm + 5,47%Cr + 7,33%Th với 80,12% là nhóm cây chồi trên (cây gỗ vừa, nhỏ, dây leo và cây bụi), minh chứng cho tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa đặc trưng của thảm thực vật núi đất Pù Hu.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng danh lục toàn diện gồm 805 loài cây lâm sản ngoài gỗ thuộc 478 chi, 139 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hu.
  • Xác định được 689 loài cây làm thuốc (chiếm 54,60% tổng lượt công dụng) và 36 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ khẩn cấp.
  • Thiết lập công thức phổ dạng sống SB = 80,12%Ph + 3,11%Ch + 3,98%Hm + 5,47%Cr + 7,33%Th, phản ánh rõ nét cấu trúc sinh thái nhiệt đới gió mùa của khu vực.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp hoàn thiện chính sách giao khoán rừng và xây dựng mô hình sinh kế trồng cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng cho 565 hộ dân vùng đệm trong giai đoạn 2018–2022.
  • Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp phát triển dược liệu hãy khai thác ngay nguồn cơ sở dữ liệu chuyên sâu từ công trình này để triển khai các mô hình bảo tồn và liên kết chuỗi giá trị lâm sản bền vững trong thực tiễn.