Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 09 năm 2021 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thì “Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, thuộc danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ quy định.” Về thực vật nghị định 84/2021/NĐ-CP đã quy định nhóm IA gồm 15 loài và nhóm loài thực vật, nhóm IIA gồm Loài và nhóm thực vật được bảo vệ. Theo Sách đỏ Việt Nam (2007) hiện tại nước ta có 464 loài thực vật đang bị đe dọa ngoài tự nhiên. Đây là những căn cứ cho công tác bảo tồn và phát triển được những loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao trong tự nhiên, giúp các nhà quản lý luôn nắm chắc được loài nào cẩn nên quan tâm và bảo tồn.
Tình hình nghiên cứu về thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên, viết tắt là IUCN, từ năm 1990 tới tháng 3 năm 2008 còn được gọi bằng tên gọi khác là World Conservation Union – tức là Liên minh Bảo tồn Thế giới, là một tổ chức bảo vệ thiên nhiên, được biết đến qua việc công bố cuốn Sách đỏ hàng năm, nhằm cảnh báo thế giới về tình trạng suy thoái môi trường thiên nhiên trên toàn cầu, và những tác động của con người lên sự sống của Trái Đất. Liên minh này nhằm thể hiện những chính sách để cùng nhau bảo tồn các loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên và nhiều nước trên thế giới đã tham gia ký kết. IUCN (1994, 2001) đã đưa nêu ra được mức độ đê dọa đối với các loài thực vật trong tự nhiên, từ những việc bị mất đi những loài có số lượng cá thể ít nên đã phân ra các cấp để lựa chọn vào các tiêu chí bị đe dọa để đưa ra các phân hạng để bảo tồn.
3 Năm 2004 IUCN công bố văn bản đánh giá các loài động vật gọi là (Sách đỏ 2004) vào ngày 17 tháng 11 năm 2004. Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể.503 loài nằm trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật và có 2 nấm. Danh sách của IUCN cũng công bố 784 loài, loài tuyệt chủng được ghi nhận từ năm 1500. Như vậy đã có thêm 18 loài tuyệt chủng so với bản danh sách năm 2000.
Mỗi năm một số ít loài tuyệt chủng lại được phát hiện và sắp xếp vào nhóm DD. Ví dụ, trong năm 2002 danh sách loài tuyệt chủng đã giảm xuống 759 trước khi tăng lên như hiện nay. Tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO) đã có nhiều những cách để nhiều người cùng hưởng ứng để bảo tồn các loài bị đe dọa, tổ chức đã xuất bản hàng loạt sách liên quan tới đánh giá hiện trạng, hướng dẫn kỹ thuật của những loài bị đe đưa ra kế hoạch hành động bảo tồn đối vơi những thực vật rừng nhiệt đới. WWF (1990) đã nêu ra được những vấn đề liên quan đến tầm quan trọng của hệ sinh thái, đa dạng sinh vật.
Trước tình hình nhiều loài bị tuyệt chủng tổ chức đã xuất bản cuốn sách “Tầm quan trọng của đa dạng sinh vật” (The importance of biological diversity, 1990) IUCN, UNEP, WWF đã có nhiều hợp tác với nhau nhằm vì một mục đích là đưa ra những chiến lược bảo tồn toàn cầu (World conservation strategy, 1990), “Hãy quan tâm tới trái đất” (Caring for the earth, 1991),… Bên cạnh những việc hợp tác tổ chức quốc tế nhầm bảo tồn sinh thái, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về đa dạng sinh vật, bảo vệ hệ sinh thái được xuất bản. Trong những năm gần đây nhiều nhà khoa học nhà đã chú trọng rất nhiều về công tác bảo tồn các loài động, thực vật rừng có nguồn gen quý với số lượng cá thể còn rất ít trong tự nhiên. Nhiều nước trên thế giới đã thành lập nhiều tổ chức nhằm bảo tồn các loại có nguy cơ tuyệt chủng cao. Nhiều nghiên cứu về thực vật đã được tiến hành bởi nhiều tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội bảo tồn nhằm đưa ra được những số liệu về loài cần bảo tồn và đưa ra những phương án bảo vệ những loài có nguy cơ cao.
Trong đó nhiều sự kiện của các hiệp hội bảo tồn được tổ chức nhưng sự kiện nổi bật và đáng chú ý nhất là và tháng 6/1992 tại Rio de janeiro (Brazil) đã diễn 4 ra Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức nhầm đưa ra các giải pháp để bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên. Nhiều nước tham gia đều có một mục đích chung là bảo vệ môi vệ môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và công tác bảo tồn. Khi đó có khoảng 150 nước đã ký vào công ước về đa dạng sinh vật.Môrôdôp đã công bố tác phẩm học thuyết về rừng, lý luận cơ bản của học thuyết xoay quanh những vấn đề cơ bản của các kiểu rừng và hệ sinh thái rừng: Theo ông, rừng là một phần của hệ sinh thái trong tự nhiên và không thể thiếu được trong trái đất. Rừng được hiểu như là một quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu.
Các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác. Quần xã thực vật rừng luôn chịu tác động bởi những yếu tố bên ngoài và trực tiếp tác động vào sinh cảnh sống của rừng. Điều kiện tiền quyết để hình thành rừng là đặc điểm sinh thái học của các loại cây gỗ, cây tái sinh và các thảm thực vật để tạo thành một quần xã rừng hoàn chỉnh. Theo phụ lục II của Công ước CITES (2009), điều II, khoản 2 (a) của Công ước và Nghị quyết Conf.
Đoạn A cho thấy rằng, cây trắc (Dalbergia cochinchinensis Pierre) được liệt kê là loại A (tổng hợp hạn chế): Gỗ hạn chế số 53 của chương trình hành động vì rừng của Thái Lan, BE 2484. Tại Thái Lan, khai thác gỗ trắc của cây rừng tự nhiên đã bị cấm trên toàn quốc từ năm 1989. Thu hoạch loại này cũng bị cấm bởi Luật Lâm nghiệp của Campuchia 2002 số 35. Tại Lào, năm 2008 Thủ tướng cấm thu hoạch tất cả đối với loài Dalbergia trong nước.
Đối với loài Dalbergia cochinchinensis, nghiên cứu đánh giá biến dị di truyền của loài Trắc (Dalbergia cochinchinensis Pierre) của Thái Lan chỉ ra rằng những khoảng cách di truyền giữa các cá thể trong quần thể nghiên cứu ở mức vừa phải, hệ số Fst là 0,127 (hệ số chỉ sự khác nhau giữa các cá thể) (Soonhuae, Prachote, 1994). Theo Leadem et al, 1993 cho thấy rằng cây Trắc là loài cây chủ yếu tái sinh bằng nảy chồi và hạt, vì vậy sự nảy mầm của hát rất quan trọng. Năm 1993, Leadem, Bhodthipuks và Clark đã nghiên cứu về ảnh hưởng của sự phân tầng và nó đều phụ 5 thuộc vào những yếu tố bên ngoài như lượng mưa, anh sáng, độ ẩm …Của loài cây Trắc (Dalbergia cochinchinensis). Đặc biệt đối với loài cây Pơ mu được nghiên cứu khá kĩ lưỡng về mặt phân loài thực vật và phân bố trên thế giới: chi Pơ mu (danh pháp khoa học: Fokienia) là một chi trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae).
Trong đặc trưng nó chi Fokienia là trung gian của hai chi Chamaecyparis và Calocedrus, mặc dù về mặt di truyền nó gần gủi với chi thứ nhất hơn, chi này chỉ có một loài còn sống đó là cây Pơ mu (Fokienia hodginsii) (Dunn) A.Thomas), trong các tài liệu bằng tiếng nước ngoài cũng như trong tiếng Anh gọi là Fujian cypress (tạm dịch là bách phúc kiến) và một loài chỉ còn ở dạng hóa thạch là Fokienia avenscragensis. Loài hóa thạch này đã được miểu tả ở những thời kỳ đầu của thế Paleocen (60 – 65 Ma). Loài này có ở miền tây namSaskatchewan và vùng phụ cận Alberta, Canada. Về yêu câu sinh thái và gieo trồng cây pơ mu cũng được nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm, điển hình như là ở Trung Quốc, cần con phải yêu cầu đủ những yếu tố để có thể nãy mầm như: độ ẩm, ánh sáng, lượng nước, … ngay những ngày khá khô vào mùa xuân, cần làm những lưới che bóng khi cây còn ở giai đoạn cây non.
Các nhà nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái, phân bố của loài Cẩm lai vú (Dalbergia mimosa) được nghiên cứu ở các kiểu rừng rậm thường xanh và rừng nữa rụng lá bởi các nhà nghiên cứu như: Chanpaisang (1994), Shanhuanu (1995) và Cole (1999) các nhà nghiên cứu cho thấy điều kiện của kiểu rừng rất thích hợp cho cây Cẩm lai vú phát triển tốt nhất. Tại Việt Nam Sách đỏ Việt Nam (2007) được viết tắt là SĐVN (2007) là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ những loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao trong tự nhiên Cuốn sách thể hiện được tính nguy cấp của các loài có số lượng cá thể ít trong tự nhiên với những nguồn gen quý ở Việt Nam. Phần thực vật được xuất bản năm 1996 với 356 loài nằm trong danh mục nguy cấp, quý, hiếm. Cho đến năm 2004 tiếp tục bổ xung các loại có nguy cơ tuyệt chủng cao và các loài nguy cấp có su hướng tăng thực vật rừng bị đe dọa đã lên đến 450 loài thực vật.
6 Nghị định 84/2021/NĐ – CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 được sửa đổi, bổ sung, một số điều của Nghị định số 06/2019/NĐ - CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Luật đa dạng sinh học có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2009. Đây là trong những bước tiếp vô cùng quan trọng, là nền tảng pháp lý vững chắc cho việc bảo tồn, bảo vệ cũng như phát triển của các loài động, thực vật rừng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng khỏi tự nhiên. Trần Ngọc Hải có hai đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu thu thập bảo tồn nguồn gen thực vật rừng đặc hữu và quý hiếm tròng vùng lòng hồ thủy điện Sơn La 2007 – 2010” và “Bảo tồn loài Du sam đá vôi (Keteleeria davidianna (Bertrand) Beiss 1881) tại Bắc Kạn, 2009”.