Chương 1: Cơ sở lý luận hệ thống tài khoản kế toán 1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống tài khoản kế toán DN Kế toán là một công cụ hữu hiệu giúp cho không chỉ các nhà quản lý nắm được thực trạng tài chính nhằm hoạch định kế hoạch phát triển cho tương lai của công ty mà còn là mối quan tâm của các nhà đầu tư tài chính, các ngân hàng, Nhà nước… nhằm phục vụ cho những mục đích của mình. Hạch toán kế toán gắn liền với sản xuất do đó ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ người ta đã sử dụng hạch toán kế toán để ghi chép theo dõi quá trình sản xuất. Các bản ghi kế toán đã xuất hiện từ năm 8500 trước công nguyên ở Trung Á, viết bằng đất sét thể hiện các hàng hoá như bánh mỳ, dê, quần áo.
Bản ghi này được gọi là bullae, một dạng hoá đơn ngày nay. Bullae được gửi cùng với hàng hoá nhằm giúp người nhận kiểm tra lại chất lượng và giá cả của số hàng mình nhận được. Lúc này vẫn chưa có hệ số đếm khác nhau cho đến năm 850 trước công nguyên, hệ số đếm Hindus-Arabic ra đời và được sử dụng cho đến ngày nay. Việc giữ các bản ghi vẫn chưa được hình thức hoá cho tới mãi thế kỷ thứ 13, xuất phát từ các giao dịch kinh doanh và ngân hàng tại Florence, Venice and Genoa.
Tuy nhiên, các tài khoản không thực sự thể hiện được bản chất nghiệp vụ giao dịch và hiếm khi cân đối. Phải đến năm 1299 con người mới phát triển hệ thống thông tin tài chính gồm tất cả các yếu tố cấu thành của hệ thống kế toán kép. Vào năm 1494 Luca Pacioli tác giả cuốn Summa hệ thống kế toán kép mới được miêu tả một cách cụ thể và rõ nét. Sau đó 377 năm Josial Wedwood là người đầu tiên hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành.
Hệ thống kế toán từ đó đã ngày càng được hoàn chỉnh hơn với việc hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành hiện đại của Donaldson Brown- Giám đốc điều hành của General Motor. Tại Việt Nam hệ thống tài chính kế toán đã phát triển qua ba giai đoạn chính: Trước những năm 1990: Đây là giai đoạn mà nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế bao cấp, các thành phần kinh tế chỉ có quốc doanh, tập thể và cá thể mà giữ thành phần chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh và không có các hoạt động thương mại buôn bán tự do trên thị trường. Do đặc điểm này mà hoạt động nghề 45 nghiệp của các kế toán viên chủ yếu tuân thủ theo nội quy, quy định của Bộ Tài chính – cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm quản lý tài sản XHCN. Từ năm 1991 đến năm 1994: Đất nước ta chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Sự xuất hiện của nền kinh tế nhiều thành phần đã tác động đến bản chất và đặc thù của nghề kế toán. Nhiều thuật ngữ trong lĩnh vực kế toán ra đời như khái niệm lãi, lỗ, lợi nhuận… mà đối với nhiều kế toán viên chỉ quen làm trong nền kinh tế bao cấp là khá trừu tượng và khó hiểu. Do thực tế khách quan thay đổi nên giai đoạn từ năm 1995 đến nay chính là thời gian mà hệ thống kế toán tài chính nước ta có những bước phát triển cao nhất và hoàn thiện nhất. Đặc biệt là từ năm 1995 đến nay hệ thống kế toán tài chính nước ta đã hình thành và phát triển lĩnh vực kiểm toán.
Sự phát triển vượt bậc này được đánh dấu bởi sự ra đời của Luật kế toán Việt Nam do quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua cũng như các chuẩn mực về kế toán tài chính riêng của Việt Nam đã được ban hành. Kế toán tài chính tại Việt Nam không còn phát triển một cách đơn lẻ tự phát nội bộ mà đã có hệ thống và liên kết với thế giới. Đánh dấu bước phát triển quan trọng này là vào năm 1996 Hội kế toán Việt Nam (VAA) ra đời và trở thành thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cũng như là thành viên của Liên đoàn kế toán các nước ASEAN (AFA). Tính đến ngày 31/12/2004 ở Việt Nam đã có 78 công ty kiểm toán độc lập và 6 công ty kế toán.
Hệ thống kế toán nước ta gồm 3 lĩnh vực chủ yếu là kinh doanh, Nhà nước (luật quản lý ngân sách, kể từ năm 2004 đã bắt đầu nghiên cứu soạn thảo hệ thống các chuẩn mực kế toán công), kinh doanh tiền tệ, thị trường chứng khoán. (Nguồn: http://www.vn/so-luoc-ve-su-ra-doi-va-phat-trien-cua-he-thong-ke-toan- quoc-te-va-viet-nam) Cùng với sự thay đổi ngày càng nhanh của hệ thống kế toán tài chính hiện nay, hệ thống tài khoản kế toán cũng thay đổi theo từng quyết định, thông tư của Bộ tài chính, nhằm phục vụ đầy đủ và thích hợp với sự thay đổi đó. Hệ thống tài khoản kế toán càng về sau 45 không thay đổi mấy về bản chất so với lúc ban đầu mà nó chỉ sửa đổi, bổ sung để dần hoàn thiện hơn. Cơ sở xây dựng hệ thống tài khoản kế toán Hệ thống tài khoản kế toán DN Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tôn trọng bốn nguyên tắc bao gồm: (1) Hệ thống tài khoản phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm của đối tượng kế toán.
(2) Hệ thống tài khoản phải được thiết kế sao cho nó có thể ghi nhận và đáp ứng được nhu cầu thông tin cho quản lý. (3) Hệ thống tài khoản phải phù hợp cho việc xác định các chỉ tiêu khi lập báo cáo tài chính. (4) Hệ thống tài khoản phải thuận tiện cho công việc làm kế toán. Cơ sở kinh tế: Yếu tố kinh tế có tác động trực tiếp và nhiều nhất đối với kế toán, đó là nơi phát sinh các hoạt động kinh tế, yêu cầu quản lý cung cấp cho kế toán thước đo tiền tệ để đo lường tài sản và nguồn vốn.
Nói chung, mỗi biến đổi của nền kinh tế đòi hỏi phải có những thay đổi tương thích của hệ thống tài khoản kế toán đáp ứng yêu cầu ghi nhận xử lý và cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là nền kinh tế dựa trên cơ sở chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất. Nhà nước xây dựng và quản lý nền kinh tế theo một kế hoạch thống nhất từ trung ương đến cơ sở, các DN hoạt động dựa trên các chỉ tiêu kế hoạch cấp trên đề ra, hiệu quả hoạt động được đánh giá theo mức độ hoàn thành kế hoạch và kết quả thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế. Với đặc trưng như vậy đòi hỏi việc xây dựng tài khoản kế toán phải được tổ chức trên cơ sở các nguyên tắc đại chúng, công khai, đơn giản, rõ ràng và đầy đủ.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó quan hệ kinh tế giữa các chủ thể được biểu hiện qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Trong đó thái độ ứng xử của từng chủ thề kinh tế hướng vào lợi nhuận theo sự dẫn dắt của giá cả, thị trường, tất cả 45 quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hóa, các yếu tố nhân tài, vật lực đều là hàng hóa, tự do sở hữu, tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh trong khuôn khổ luật pháp, sản xuất và bán sản phẩm theo quan hệ cung cầu. Yêu cầu quản lý trong cơ chế thị trường đòi hỏi hệ thống tài khoản phải được xây dựng trên nguyên tắc linh hoạt, thiết thực và đầy đủ. Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước là nền kinh tế hỗn hợp vừa có cơ chế tự điều chỉnh của thị trường vừa có cơ chế quản lý điều tiết của nhà nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đảm bảo sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội.
Cơ chế tự điều chỉnh của thị trường thực hiện thông qua giá cả thị trường, cung cầu hàng hóa và cạnh tranh. Cơ chế quản lý điều tiết của nhà nước thực hiện thông qua luật pháp về lao động, tài sản, kinh tế, xã hội bằng công cụ kế hoạch ở tầm vĩ mô, bằng đòn bẩy tài chính, tiền tệ, tín dụng, giá cả và thuế. Yếu tố quản lý trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đòi hỏi hệ thống tài khoản phải được xây dựng trên nguyên tắc linh hoạt, ngắn gọn, đầy đủ và thống nhất. Cơ sở chính trị Hệ thống kế toán được xây dựng dựa trên cơ sở thể chế chính trị của một quốc gia.Tùy thuộc vào cách thức khác nhau trong sử dụng quyền lực, quan niệm khác nhau về lợi nhuận và chi phí ( CP ) cũng hình thành nên các hệ thống tài khoản khác nhau.
Chẳng hạn, chủ nghĩa tư bản Keyne (thế kỷ XX) nội dung tài khoản được xây dựng trong đó nội dung của CP không có thuế nhưng có CP vốn, chỉ tính siêu lợi nhuận so với lợi nhuận bình quân; Chủ nghĩa tư bản của nhà nước ( Liên Xô cũ) nội dung của CP không có thuế và các khoản lãi, mà đó là một phần lợi nhuận; Còn chủ nghĩa xã hội ở VN thì lợi nhuận chịu thuế thu nhập DN và lợi nhuận kế toán giống nhau, yếu tố CP không gồm thuế thu nhâp DN mà thuế này nằm trong lợi nhuận. Do đó hệ thống tài khoản cũng có sự khác biệt, phân rõ CP và thuế riêng để cho kế toán có tiến hành chính xác trong phân chia lợi nhuận và CP. Cơ sở pháp lý Tại các quốc gia có luật kế toán nằm trong luật pháp( chẳng hạn Việt Nam, Pháp, Trung Quốc,…) thì hệ thống tài khoản kế toán nói chung phải hoàn toàn tuân thủ các điều khoản ghi trong bộ luật, mọi vi phạm đều nằm trong công việc kế toán trở thành phi pháp. Việc 45 tuân thủ các điều luật sẽ làm cho hệ thống tài khoản kế toán thực sự hữu ích, có giá trị cho các đối tượng sử dụng.
Tại các quốc gia chưa có luật thuế kế toán do đó tính tuân thủ chưa nghiêm, điều này làm hạn chế giá trị của hệ thống tài khoản kế toán. Cơ sở văn hóa, giáo dục, xã hội Đây là yếu tố tác động đáng kể đến việc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán hiện nay. Yếu tố về văn hóa giáo dục xã hội được biểu hiện qua khả năng nhận thức, trình độ hiểu biết, khả năng vận dụng lý thuyết, chế độ kế toán, chế độ kế toán áp dụng vào công tác kế toán của từng quốc gia hoặc từng đơn vị kế toán.