Mở đầu - - Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về hành vi thao túng trên thi trường chứng khoán - _ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - _ Chương 4: Hành vi thao túng trên thị trường chứng khoán Việt Nam - _ Chương 5: Kết luận và kiến nghị CHƯƠNG2 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI THAO TÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2. Tổng quan nghiên cứu về hành vi thao túng trên thị trường chứng khoán 2. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài về hành vi thao túng trên thị trường chứng khoán Thao túng đã dần trở thành một chủ đề không còn xa lạ do đây là một trong những hoạt động lâu đời và để lại hậu quả nghiêm trọng nhất ở tất cả TTCK trên thế giới. Bằng nhiều cách thức, những kẻ thao túng đã gây thiệt hại cho các nhà đầu tư, làm xói mòn niềm tin của công chúng vào tính toàn vẹn của thị trường (Siering và cộng sự, 2017).
Thao túng làm tổn hại đến hiệu quả thị trường bằng cách làm ảnh hưởng lượng cung và cầu, tác động xấu đến tính thanh khoản của TTCK (Guiso và cộng sự, 2008; Punniyamoorthy và Thoppan, 2012). Tổng quan nghiên cứu nước ngoài cho thấy, các nhà khoa học thường tập trung vào 2 nhóm nghiên cứu chủ yếu về thao túng thị trường, bao gồm: (i) Nghiên cứu thực nghiệm về các vụ việc thao túng và (ii) Nghiên cứu về cách thức thực hiện hành vi thao túng. Nghiên cứu thực nghiệm về các vụ việc thao túng Gerace và cộng sự (2014) sử dụng hai phương pháp là phân tích tình huống và phân tích vi mô thị trường để đánh giá tác động của thao túng tới nền kinh tế Hồng Kông. Kết quả chỉ ra những kẻ thao túng thường tạo ra khối lượng giao dịch lớn nhằm tối đa lợi nhuận, làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thị trường cả khi thao túng và sau thao túng.
Kết quả tương tự cũng được đưa ra bởi Syed Qasim Shah và cộng sự (2019) khi phân tích thực nghiệm trên Sở giao dịch chứng khoán Nigeria. Thao túng có thể làm giảm tính thanh khoản, gây hậu quả trong thời kỳ hậu thao túng là giảm khả năng hồi phục của TTCK. Hơn nữa, thao túng khiến TTCK không được minh bạch, ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của các nhà đầu tư (Imisiker và Tas, 2013). Vì vậy, UBCK cần có những chính sách nhằm ngăn chặn và truy tố các hành vi giao dịch không công bằng hoặc các hoạt động khác trái với các quy tắc thị trường.
Laksomya và cộng sự (2018) lập luận rằng việc thao túng giá có thể dễ dàng hơn ở các thị trường mới nổi, nơi mà sự giám sát của cơ quan quản lý ít nghiêm ngặt hơn. Cùng phạm vi nghiên cứu tại thị trường mới nổi, Hilal Ok Ergun và cộng sự (2020) thu thập dữ liệu về các sự kiện thao túng dựa trên giao dịch tại Thổ Nhĩ Kỳ, nhằm xem xét mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố tới thị trường này. Kết quả cho rằng tính thanh khoản, lợi nhuận và biến động giá tăng lên trong suốt thời kỳ thao túng và giảm sau thao túng. Ngoài ra, 4 bằng cách sử dụng mô hình hồi quy, nghiên cứu cho rằng những kẻ thao túng thường chọn những cổ phiếu kém thanh khoản, hoạt động kém hiệu quả và ít biến động hơn so với các cổ phiếu khác.
Kết quả này có thể giúp cơ quan quản lý xác định các công cụ tài chính dễ bị thao túng và phân bổ nguồn lực phù hợp nhằm giám sát chặt chẽ các loại cổ phiếu có những đặc điểm trên. Nhiều nghiên cứu gợi ý một số chủ thể có động cơ thao túng dựa trên vị thế của họ với tư cách là bên có nhiều thông tin hơn. Contreras và Marcet (2021) cho rằng những người nội bộ của công ty có quyền tiếp cận thông tin về công ty của họ. Khi giao dịch cổ phiếu, những người nội bộ có kế hoạch rõ ràng để tác động một cách chiến lược đến giá trị cổ phiếu của công ty đó.
Dolgopolov và cộng sự (2004) ban đầu chỉ ra rằng các chuyên gia môi giới và nhà tạo lập thị trường cũng có thể tiếp cận được các thông tin độc quyền. Trong nghiên cứu thực nghiệm của Aggarwal và Wu (2006) về 142 trường hợp bị truy tố về thao túng TTCK Mỹ, có khoảng 47% các trường hợp liên quan đến người nội bộ là giám đốc điều hành; 64% liên quan đến người môi giới chứng khoán; 9% liên quan đến các nhà tạo lập thị trường và 32% liên quan đến các cổ đông lớn với ít nhất 5% quyền sở hữu vốn cổ phần của công ty. Các nghiên cứu về cách thức thực hiện các hành vi thao túng trên thị trường chứng khoán Các nghiên cứu trước đây phát hiện ra rằng cổ phiếu được bán bởi những người nội bộ thường là những cổ phiếu hoạt động kém (Tavakoli và cộng sự, 2012; Ahern, 2017; Bhattacharya và cộng sự, 2014; Mazza, 2022).Ryngaert (2013) cho rằng các giao dịch mua lại kết hợp với việc bán cổ phiếu nội bộ trong cùng một quý có xu hướng tạo ra ít dấu hiệu bất thường trong dài hạn. Do đó, trong dài hạn, các giao dịch nội gián tương tự thường gây khó khăn trong việc phát hiện gian lận trên thị trường.
Tuy nhiên, nhiều hành vi giao dịch nội gián có thể được dự báo trước (Chafen Zhu, 2014). Nó gắn liền với các hoạt động quan trọng của doanh nghiệp, ví dụ những người nội bộ thường tiến hành giao dịch có lãi trước khi nộp đơn phá sản; mua lại cổ phiếu; chào bán cổ phiếu; thông báo thu nhập và chia cổ tức (Chiang và cộng sự, 2017; David Hillier và cộng sự, 2015; May Hu và cộng sự, 2022). Tuy nhiên trước các hoạt động như sáp nhập doanh nghiệp thì giao dịch nội gián thường ít có khả năng xảy ra, thay vào đó là các dấu hiệu về việc làm giả hồ sơ tài liệu công ty (Rui Dai và cộng sự, 2017; Agrawal và Nasser, 2012). Yu Huang và Yao Cheng (2013) thu thập dữ liệu từ 472 trường hợp bị truy tố thao túng trên TTCK Đài Loan để xem xét hai cách thức thực hiện thao túng, đó là "Bơm giá và bán tháo gia" (Pump-and-dumb) và Bình ổn (Stabilization), sau đó so sánh tác động của 5 chúng trên thị trường trước, trong và sau giai đoạn thao túng.
Kết quả cho thấy các công ty bị thao túng thường có quy mô nhỏ và trình độ quản trị còn kém. Thao túng Pump-and- dump sẽ đẩy giá cổ phiếu lên cao với khối lượng giao dịch lớn, đồng thời mức giá sẽ tiếp tục tăng trong ngắn hạn và có sự đảo chiều trong dài hạn. Nam và David Skillicor (2023) cho rằng Pump-and-dump thường xảy ra với các cổ phiếu vốn hóa nhỏ, được thổi phồng giá bằng cách tung tin đồn sai sự thật trên mạng xã hội. Với Stabilization, việc thao túng có thể làm giá giảm và lợi nhuận bất thường trong giai đoạn sau thao túng thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước thao túng.
Tổng quan nghiên cứu trong nước về hành vi thao túng trên thị trường chứng khoán Trước tác động tiêu cực của hành vi thao túng, Việt Nam ngày càng nhận thức được tính cấp bách trong việc nhận diện, phòng chống, quản lý hành vi gian lận. Tuy nhiên, hiện nay, ở nước ta, những van đề về thao túng TTCK nói chung còn khá mới mẻ, có thé chia thành các nội dung nghiên cứu chính như sau: (ï) Hoạt động thanh tra, giám sát của các cơ quan quản lý đối với hành vi thao túng; (ii) Ảnh hưởng của một số yếu tố tới hành vi gian lận trên TTCK Nghiên cứu về hoạt động thanh tra, giám sát của cơ quan quản lý đối với các hành vi thao túng Thái Quỳnh Mai Dung (2021) và Nguyễn Thị Hải Hà (2017) đánh giá hệ thống giám sát trên TTCK Việt Nam qua việc phân tích tính ổn định của thị trường. Về mặt tích cực, giám sát đã phát hiện và xử lý được nhiều vi phạm; từng bước ứng dụng công nghệ khi triển khai hệ thống Giám sát Giao dịch chứng khoán (Hệ thống MSS) và Hệ thống công bố thông tin (IDS). Về mặt hạn chế, giám sát chưa đánh giá được các rủi ro hệ thống phức tạp; các hành vi thao túng vẫn diễn ra và chưa được xử lý triệt để; thiếu cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý; lực lượng giám sát còn mỏng trong khi ý thức tuân thủ pháp luật chưa cao; chưa có các điều khoản về bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư; đối tượng ngày càng có nhiều thủ đoạn tỉnh vi,.Do đó, khuôn khổ pháp lý cần tiếp tục được hoàn thiện, các quy định của nhà nước cần thực sự chặt chẽ để đảm bảo tính hiệu quả, công bằng và minh bạch trong giao dịch chứng khoán.
Nguyễn Thị Phương Dung (2017) phân tích kinh nghiệm của Hoa Kỳ để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phòng chống thao túng BCTC. Theo đó, tác giả chỉ ra rằng, mô hình kế toán điều tra (một loại hình dịch vụ ứng dụng chuyên môn về kế toán, kiểm toán kết hợp các kỹ năng điều tra của một điều tra viên nhằm phòng và chống các hành vi thao túng BCTC ); và các chứng chỉ điều tra thao túng của Hoa Kỳ là những điều 6 mà Việt Nam đang thiếu và rất đáng để học hỏi. Ngoài ra, cần tiếp tục hoàn thiện chuẩn mực kiểm toán số 240 về gian lận, thay đổi một số nguyên tắc và thủ tục liên quan tới trách nhiệm của kiểm toán viên khi phát hiện sai sót trong quá trình kiểm toán BCTC. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố tới hành vi gian lận trên TTCK Minh Khương và Đức Dũng (2022) thu thập dữ liệu BCTC của 254 công ty niêm yết trên sàn HoSE từ 2016 - 2020, nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của 6 nhân tố đến hành vi thao túng BCTC.
Tác giả tiến hành phương pháp hồi quy theo mô hình tác động cố định (FEM) cho thấy các biến: Chất lượng tài sản, chỉ số “Biến dồn tích kế toán/ Tổng tài sản”, Tỷ suất lợi nhuận gộp có mối tương quan đồng biến với khả năng thao túng BCTC, trong khi đó các biến chỉ số “Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp/Doanh thu”, Tổng nợ/Tổng tài sản, “Tuổi công ty” có mối tương quan nghịch biến. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất giải pháp cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC. Đối với Kiểm toán viên, cần tiếp tục nâng cao kiến thức nghiệp vụ.