CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THAO TÚNG CHỨNG KHOÁN VÀ PHÒNG NGỪA THAO TÚNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái quát về thao túng chứng khoán 1. Khái niệm thao túng chứng khoán Hiện nay, khái niệm thao túng chứng khoán và thao túng thị trường chứng khoán đôi khi bị đồng nhất về mặt nội hàm. Có những tác giả khi nghiên cứu về thao túng thị trường chứng khoán nhưng nội dung đề cập đến là các hoạt động thao túng các chứng khoán, cụ thể Tác giả Lương Hữu Hải có bài nghiên cứu “Tội thao túng thị trường chứng khoán trong Bộ luật Hình sự năm 2015 - Những hạn chế, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện”, Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Kiểm Sát TP.
Tạp chí khoa học Kiểm Sát, số 06. Hay công trình nghiên cứu “ Hành vi thao túng trên thị trường chứng khoán” của tác giả Nguyễn Minh Hoà nhưng nội dung lại đề cập đến hoạt động thao túng chứng khoán. Thực chất, khái niệm thao túng chứng khoán được hình thành bởi sự kết hợp của hai khái niệm: Thao túng và chứng khoán. Để làm rõ khái niệm này, nghiên cứu sử dụng phương pháp làm rõ nội hàm từng khái niệm cấu thành qua đó xây dựng lên khái niệm cần giải thích.
Dưới giác độ pháp lý, khái niệm thao túng được giải thích trong một số từ điển pháp lý: theo từ điển pháp lý Merriam- Webster.com: “Thao túng là kiểm soát hoặc lợi dụng bằng những thủ đoạn xảo quyệt, không công bằng hoặc quỷ quyệt, đặc biệt là để có lợi cho mình.” Còn trong từ điển pháp lý Tiếng Việt định nghĩa “thao túng” là “nắm, chi phối, bắt phải hành động theo ý mình” Như vậy, hành vi thao túng là hành động tạo sự kiểm soát, chi phối, điều khiển, gây ảnh hưởng tiêu cực đối với người khác, thông tin, tình huống,. theo ý của mình bằng những phương thức không lành mạnh, minh bạch và thủ đoạn gian trá, khôn khéo nhằm đạt được lợi ích và mục đích của mình. Các phương pháp được sử dụng làm bóp méo hoặc định hướng nhận thức của người khác về thực tế thông qua sự gợi ý, thuyết phục và sự phục tùng không tự nguyện hoặc đồng thuận. Với thuật ngữ “chứng khoán” là từ vựng thông dụng trong nền kinh tế hiện nay, theo Wayne Duggan đăng trên tạp chí U.
News (2023): “Chứng khoán là một thuật ngữ tài 10 chính rộng được sử dụng để mô tả một loạt các khoản đầu tư, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và lợi ích hợp tác hữu hạn.” Theo nhóm CFI (2024): “Chứng khoán là một công cụ tài chính, thường là bất kỳ tài sản tài chính nào có thể được giao dịch. Bản chất của những gì có thể và không thể được gọi là chứng khoán nói chung phụ thuộc vào khu vực pháp lý nơi tài sản đang được giao dịch.” Đặc biệt, tại Luật chứng khoán Việt Nam, trong điều 4 quy định: “1. Chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký; c) Chứng khoán phái sinh; d) Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định.” Như vậy, chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoắc dữ liệu điện tử.
Thứ nhất, chứng khoán có ba thuộc tính là tính sinh lời, tính rủi ro và tính thanh khoản. Trên TTCK, mỗi loại chứng khoán sẽ mang lại khả năng thu lợi khác nhau, trong đó các trái phiếu thường có mức lợi tức cố định nhưng thấp và tương đối chắc chắn. Còn đối với các cổ phiếu thì luôn hứa hẹn khả năng thu lợi lớn hơn khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả, tuy nhiên độ an toàn cũng thấp hơn vì nó còn phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó và cung cầu trên Thị trường chứng khoán. Đầu tư luôn gắn với rủi ro và đầu tư vào chứng khoán cũng có những rủi ro nhất định, thậm chí còn cao hơn một số loại hình đầu tư khác.
Có những rủi ro chung cho tất cả các chứng khoán và cũng có những rủi ro riêng gắn liền với từng loại chứng khoán nhất định. Khả năng thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền của chứng khoán, khả năng này có được do chứng khoán có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường. Thứ hai, xác nhận quyền hợp pháp của chủ sở hữu chứng khoán, bao gồm: Quyền sở hữu đối với chứng khoán vốn; Quyền chủ nợ đối với chứng khoán nợ ; Quyền về tài chính liên quan đến chứng khoán đối với các chứng khoán phái sinh. Về định nghĩa thao túng chứng khoán, có một số nhận định điển hình về thuật ngữ 11 trên.
Theo định nghĩa của Từ điển pháp lý Merriam- Webster.com: “Thao túng chứng khoán là hành vi bất hợp pháp tạo ra hoặc cố gắng tạo ra vẻ ngoài của hoạt động giao dịch chứng khoán đang diễn ra (để xúi giục người khác mua hoặc bán)” Còn tại Việt Nam, theo Đào Ánh Tuyết - Trường Đại học Luật Hà Nội (2022) đăng trên tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam số 3/2022: “thao túng chứng khoán là các hành vi gian lận nhằm ngăn cản việc xác định giá thực tế trên TTCK, tạo cung - cầu giả, ảnh hưởng đến giá chứng khoán để đánh lừa các nhà đầu tư, gây thiệt hại cho TTCK.” Tại Việt Nam hiện nay, pháp luật chưa đưa ra định nghĩa nào cụ thể về hành vi thao túng chứng khoán. Tuy nhiên tại khoản 3 Điều 12 Luật Chứng khoán năm 2019 đã đưa ra hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động về chứng khoán và TTCK. Theo đó, xác định các hành vi thao túng giá chứng khoán bao gồm: “(i) Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo; (ii) Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác mua, bán để thao túng giá chứng khoán; (iii) Kết hợp hoặc sử dụng các phương pháp giao dịch khác hoặc kết hợp tung tin đồn sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch ra công chúng để thao túng giá chứng khoán.” Dựa trên những căn cứ định nghĩa về thuật ngữ “thao túng” và “chứng khoán”, trên cơ sở tham khảo những nhận định trước đó về “thao túng chứng khoán”, có thể hiểu định nghĩa khái quát về hành vi thao túng chứng khoán như sau: Thao túng chứng khoán là tập hợp những hành vi tác động đến một mã chứng khoán xác định hay tác động đến một loạt mã chứng khoán trên diện rộng bằng các hành vi gian lận nhằm chi phối và đánh lừa cách nhà đầu tư, ngăn cản các nhà đầu tư xác định giá trị thực tế của chứng khoán. Khi nhìn nhận định nghĩa này trong mối tương quan với các thuật ngữ liên quan tại Việt Nam, khái niệm “thao túng chứng khoán” theo định nghĩa trên là một hướng triển khai mới mẻ và có một góc nhìn khác biệt so với những gì đang diễn ra hiện nay.
Cụ thể, hiện nay, thuật ngữ xuất hiện phổ biến liên quan đến hành vi gian lận chứng khoán được gọi tên là “thao túng thị trường chứng khoán”. Theo định nghĩa từ Investopedia (2022) cho rằng: “Thao túng thị trường là hành vi nhằm đánh lừa nhà đầu tư bằng cách kiểm soát hoặc tác động giả tạo đến giá chứng khoán. Thao túng là bất hợp pháp trong hầu 12 hết các trường hợp, nhưng các cơ quan quản lý và cơ quan chức năng khác có thể khó phát hiện và chứng minh. Đặc điểm của hành vi thao túng chứng khoán: Thứ nhất, Chủ thể thực hiện hành vi thao túng chứng khoán: Căn cứ vào tình hình thao túng chứng khoán thực tế hiện nay, có thể phân loại chủ thể thực hiện hành vi thao túng chứng khoán thành hai nhóm bao gồm: Nhóm 1: chủ thể cá nhân: (1) Cá nhân có chức vụ, quyền hạn: Những chủ thể này có đặc điểm là nắm quyền hạn nhất định trong việc quản lý chứng khoán.
Họ là lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước có thẩm quyền tham gia vào việc quản lý, thanh tra, giám sát hoạt động liên quan đến đối tượng là chứng khoán nói chung và đi kèm là những hoạt động trên thị trường chứng khoán, hoạt động điều phối bơm đẩy chứng khoán của doanh nghiệp, thông tin liên quan đến chứng khoán trong xã hội. Người có liên quan đến hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán. Những người này có quyền truy cập và thực hiện các hoạt động chấp thuận chứng khoán niêm yết trên thị trường. Người có quyền truy cập vào thông tin nội bộ của doanh nghiệp.
Phạm vi loại chủ thể này tương đối rộng lớn, bao gồm những cá nhân, tổ chức nằm trong doanh nghiệp cùng các loại chủ thể thực hiện xâm phạm vào thông tin doanh nghiệp trái phép. Nhờ những thông tin đánh cắp được, chúng thực hiện việc tung thông tin giả gây nhiễu loạn thị trường. (2) Nhóm nhà đầu tư cá nhân: Thông qua việc phân tích tài chính hay thông tin thị trường, một hay một nhóm nhà đầu tư cá nhân có thể thực hiện hành vi thao túng chứng khoán của mình. Nhóm 2: Chủ thể là tổ chức: (1) Công ty chứng khoán: Với quyền hạn của một đơn vị trung gian kết nối giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp, công ty chứng khoán có thể thực hiện các hành vi thao túng chứng khoán thông qua các hành vi liên quan đến niêm yết, phát hành chứng khoán, làm môi giới chứng khoán hay thực hiện việc lưu ký, … Nhìn chung, trong những nghiệp vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình, công ty chứng khoán đều có những nguy cơ thể hiện hành vi thao túng lên chứng khoán nhất định.
(2) Công ty đại chúng: Nó có thể thực hiện việc thao túng lên chính mã cổ phiếu của 13 mình hay thậm chí là thực hiện việc thao túng lên một mã cổ phiếu của một doanh nghiệp khác nhằm mục đích nhất định. (3) Nhóm tổ chức khác: Có bao gồm tổ chức quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư. Nhìn chung, những chủ thể có thể thực hiện hành vi thao túng chứng khoán tương đối rộng, có thể rơi vào bất kỳ những đối tượng nào tham gia vào chu trình trao đổi chứng khoán. Tuy nhiên, theo những quyền hạn của mình, những cá nhân có quyền hạn nghĩa vụ và những doanh nghiệp sẽ là những chủ thể có ảnh hưởng và nguy cơ lớn nhất tác động đến hành vi thao túng chứng khoán hiện nay.