Chương 1: Những vấn đề lý luận về chào bán chứng khoán ra công chúng và pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng. Chương 2: Thực trạng pháp luật chào bán chứng khoán ra công chúng ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng ở việt nam. 5 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG 1.
Những vấn đề lý luận về chào bán chứng khoán ra công chúng 1. Khái niệm, đặc điểm chào bán chứng khoán ra công chúng 1. Khái niệm chào bán chứng khoán ra công chúng Chứng khoán lần đầu tiên xuất hiện ở Châu Âu vào giữa thế kỷ XV tại Bruges (Bỉ). Tại các thành phố trung tâm buôn bán ở Châu Âu, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi việc mua bán các vât phẩm hàng hóa.
Lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, dần dần sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ XV, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc họ thống nhất các quy ước. Phiên chợ đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại tư dinh của một thương gia người Bỉ tên là Van De Buerzo. Đến năm 1531 chợ này chuyển về Artwerpas và phát triển sôi động.
Đến giữa thế kỷ XVI, một quan đại thần của Anh Quốc đã đến quan sát và quay về nước để thiết lập một thị trường mậu dịch tại London, nơi mà sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán London. Ngày nay, thị trường chứng khoán (TTCK) đã xuất hiện và phát triển trên khắp thế giới, trong đó có thể kể đến những thị trường chứng khoán (TTCK) lớn nhất như TTCK New York (Mỹ), TTCK Tokyo (Nhật), TTCK Frankfurt (Đức), TTCK London (Anh). Ở Việt Nam, cụm từ chứng khoán đã xuất hiện khá lâu ngay từ thời Pháp thuộc do hiện tượng du nhập của các mô hình tổ chức kinh tế từ Pháp, Anh và sau đó là Hoa Kỳ[28,tr. Tùy từng quốc gia, việc định nghĩa về chứng khoán có thể khác nhau.
Theo Black Law’s Dictionary, chứng khoán (security) được hiểu là công cụ chứng minh quyền sở hữu công ty (ví dụ như cổ phiếu), mối quan hệ chủ nợ đối với công ty hoặc Chính phủ (ví dụ như trái phiếu) hoặc các quyền khác của người nắm giữ (ví dụ như quyền chọn - option)[110,tr. Trong khi đó, tại phần 2(a) 6 z Luật Chứng khoán Hoa Kỳ năm 1933 (Securities Act of 1933) lại định nghĩa chứng khoán theo nghĩa rộng “được hiểu là mọi loại giấy tờ, cổ phiếu, cổ phiếu quỹ, chứng khoán tương lai, hợp đồng hoán đổi, trái phiếu, giấy nợ, bằng chứng về công nợ, chứng nhận về quyền lợi hoặc sự tham gia vào bất cứ thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận nào, chứng chỉ tín thác-thế chấp, đăng ký hoặc chứng nhận thành lập tổ chức, cổ phiếu chuyển đổi, hợp đồng đầu tư, chứng nhận quyền biểu quyết, chứng nhận đặt cọc đối với chứng khoán, lợi ích không thể phân chia (đối với dầu, khí hay bất cứ quyền đối với khoán sản khác), mọi quyền mua, bán, hợp đồng chứng khoán hai chiều, quyền chọn hoặc đặc quyền đối với chứng khoán, chứng nhận tiền gửi, hoặc nhóm các chỉ số hoặc chỉ số chứng khoán (bao gồm bất kỳ lợi ích liên quan hoặc dựa trên cơ sở các giá trị đó), hoặc bất cứ quyền mua, bán, hoặc đồng chứng khoán hai chiều, quyền chọn hoặc đặc quyền về chứng khoán quốc gia liên quan tới ngoại tệ, hoặc, nói chung là mọi lợi ích và công cụ nào được hiểu là chứng khoán, hoặc bất cứ chứng nhận lợi ích hay sự tham gia, kể cả tạm thời, dưới dạng giấy biên nhận, giấy bảo lãnh, hay chứng quyền, quyền mua hay quyền đặt mua những công cụ nói trên”[119,Phần 2(a)]. Tóm lại, có thể hiểu chứng khoán là công cụ pháp lý do một tổ chức phát hành theo quy định của pháp luật để ghi nhận quyền tài sản và các lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư[96,tr. Từ định nghĩa về chứng khoán, chúng ta có thể hiểu chào bán chứng khoán là hoạt động chào bán chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán[96,tr.
Có hai phương thức phát hành chứng khoán chủ yếu là: Chào bán chứng khoán ra công chúng (public offering) và chào bán chứng khoán riêng lẻ (private placement). Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức phát hành chào bán chứng khoán cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet (Điều 6 Luật Chứng khoán). Hay có thể nói, chào bán chứng khoán riêng lẻ là hoạt động chào bán chứng khoán của tổ chức phát hành cho các khách hàng đặc biệt, thường là các nhà đầu tư có tổ chức[96,tr. Do chào bán chứng 7 z khoán riêng lẻ không thuộc phạm vi nghiên cứu nên luận văn sẽ tập trung nghiên cứu vào phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng.
Trên thế giới cụm từ “Chào bán chứng khoán ra công chúng” (public offering) được định nghĩa tương đối khác nhau giữa các quốc gia. Tại Mỹ, chào bán chứng khoán ra công chúng không hề được định nghĩa trong Luật Chứng khoán năm 1933 (Securities Act of 1933) mà cũng không được tòa án Mỹ định nghĩa[28,tr. Tuy nhiên, theo Ủy ban Chứng khoán và thị trường chứng khoán Mỹ (Securities and Exchange Commission gọi tắt là SEC) đã định nghĩa chào bán chứng khoán ra công chúng được hiểu là hoạt động chào bán chứng khoán trong đó tất cả những người được phát hành cần được bảo vệ thông qua việc đăng ký chào bán của tổ chức phát hành với cơ quan quản lý chứng khoán[109]. Như vậy, chào bán chứng khoán ra công chúng phân biệt với chào bán chứng khoán riêng lẻ ở việc phải đăng ký chào bán với cơ quan quản lý có thẩm quyền trước khi thực hiện phân phối chứng khoán.
Tại Trung Quốc, chào bán chứng khoán được hiểu là những đợt chào bán đáp ứng các điều kiện theo luật định và phải được báo cáo với cơ quan quản lý chứng khoán trực thuộc Hội đồng Nhà nước để xem xét, xác minh và phê chuẩn[118,Điều 10]. So với Mỹ, chào bán chứng khoán ra công chúng ở Trung Quốc không chỉ yêu cầu đăng ký chào bán mà còn yêu cầu các điều kiện để thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng. Theo cuốn từ điển thuật ngữ pháp lý nổi tiếng của Mỹ Black’s Law Dictionary, chào bán chứng khoán ra công chúng là hoạt động chào bán chứng khoán rộng rãi cho công chúng đầu tư[110,tr. Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia, chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán của một công ty hoặc một tổ chức tương tự tới công chúng[120].
Tại Việt Nam, quan điểm một số học giả cho rằng: chào bán chứng khoán ra công chúng là hoạt động chào bán của doanh nghiệp đủ điều kiện nhằm hướng tới số đông nhà đầu tư[54,tr. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chào bán chứng khoán ra công chúng và khó có thể khẳng định định nghĩa nào chuẩn mực hơn do mỗi quốc gia, nhà 8 z nghiên cứu đều có những cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ theo Khoản 12 Điều 6 Luật Chứng khoán của Việt Nam có thể định nghĩa chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây: a) Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; b) Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; c) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định. Đặc điểm của chào bán chứng khoán ra công chúng Từ các định nghĩa về chào bán chứng khoán ra công chúng đã nêu ở trên rút ra một số đặc điểm của chào bán chứng khoán ra công chúng như sau: Thứ nhất, việc chào bán chứng khoán ra công chúng chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành đã đăng ký chào bán với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý thị trường chứng khoán.
Theo pháp luật Việt Nam, tổ chức phải hành thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán nhà nước (gọi tắt là UBCKNN) (Điều13 Luật Chứng khoán). Đặc thù của hàng hóa trên thị trường chứng khoán là sự tách rời giá trị thực của chứng khoán ra khỏi bản thân chứng khoán[28,tr. Bởi vậy, việc chào bán chứng khoán ra công chúng rất dễ xảy ra các hành vi lừa đảo, lũng đoạn, giả mạo thông tin và hoạt động kiếm lời không chính đáng khác. Khi có các hành vi tiêu cực trên xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn cho cá nhân, tổ chức và cả thị trường bởi tính chất đại chúng của hoạt động chào bán chứng khoán kể trên.
Từ bài học thực tiễn của các nước trên thế giới trong việc để TTCK phát triển một cách tự phát, việc thành lập các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán là cần thiết. Các cơ quan này quản lý và giám sát thị trường chứng khoán thông qua việc thực thi các đạo luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán[28,tr. Thứ hai, trên thế giới việc chào bán chứng khoán thường được tiến hành thông qua tổ chức trung gian là các công ty bảo lãnh phát hành hoặc đại lý phát hành chứng khoán. Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh giúp 9 z tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết.
Tương tự, đại lý phát hành chứng khoán là các công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng nhận bán chứng khoán cho tổ chức phát hành trên cơ sở thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành. Việc chào bán chứng khoán ra công chúng có khả năng làm tăng uy tín của công ty phát hành và đem lại nhiều thuận lợi cho công ty trong kinh doanh cũng như trong huy động vốn sau này[96,tr. Bởi vậy, các tổ chức phát hành thường lựa chọn một đơn vị trung gian có khả năng, chuyên môn và kinh nghiệm trong hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng nhằm đảm bảo khả năng thành công của các đợt chào bán chứng khoán, nhất là đối với những đợt chào bán lần đầu ra công chúng (IPO) mà không tự tiến hành phân phối.