CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU 1. Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu 1. Khái niệm rủi ro cổ phiếu Rủi ro (Risk): Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.
Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn: Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.
Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.
Trong đầu tư cổ phiếu, rủi ro chính là sự thay đổi liên tục của giá cổ phiếu. Nói cách khác khi đầu tư vào TTCK, nhà đầu tư không thể chắc chắn về lợi nhuận thu được. 4 Rủi ro xảy ra ngay cả khi con người ta không quyết định đầu tư mà dùng số tiền mình có thể tiết kiệm. Ví dụ khi cất tiền trong nhà thì vẫn xảy ra khả năng mất trắng do nhà bị cháy; hoặc khi gửi tiền vào ngân hàng thì người gửi có thể đối đầu với khả năng sức mua của cộng đồng đô la bị giảm do ảnh hưởng của lạm phát khiến giá trị thực tế của đồng đô la nhận được thấp hơn khi gửi tiền.
Khi đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hoặc quỹ tương hỗ cũng có những rủi ro ở nhiều mức độ khác nhau. Đại đa số các nhà đầu tư đều mong muốn kiếm được càng nhiều tiền càng tốt trên khoản đầu tư của họ. Tuy nhiên, hầu như tất cả các khoản đầu tư đều mang theo một sự không chắc chắn. Một thực tế mà người đầu tư phải chấp nhận khi đầu tư cổ phiếu, đó là sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận.
Không có gì ngạc nhiên khi những khoản đầu tư tiết kiệm ít rủi ro hơn những ngược lịa tiền lãi nhận được không đáng kể. Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu là không thể tránh khỏi, nhưng vẫn có thể kiểm soát nó. Kiểm soát rủi ro tức là việc có thể tăng lợi nhuận tối đa trong khi vẫn giảm thiểu được rủi ro. Làm được như vậy nghĩa là người đầu tư đã có một lợi nhuận hợp lý với mức rủi ro có thể chấp nhận được.
Mỗi nhà đầu tư có thái độ khác nhau đối với rủi ro, nhưng có ba loại thái độ phổ biến là ưa thích rủi ro (risk seeker), trung dung với rủi ro (risk neutral), và không thích rủi ro (risk a verse). Phân loại rủi ro Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu nói chung là rất đa dạng nhưng xét ở phạm vi rộng có thể phân làm hai loại là rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống. Rủi ro hệ thống Rủi ro hệ thống do toàn bộ thị trường quyết định và người đầu tư không thể tác động lên rủi ro này. Nó bao gồm những rủi ro nằm ngoài công ty, không thể kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi.
Nhưng thay đổi về kinh 5 tế, chính trị, xã hội là nguồn của rủi hệ thống. Tác động của nó khiến cho đa số các loại cổ phiếu riêng lẻ dao động theo cùng một hướng. Bình quân khoảng một nửa tổng sổ rủi ro của cổ phiếu phổ thông là rủi ro hệ thống. Những công ty chịu ảnh hưởng lớn của rủi ro hệ thống là những công ty mà doanh số, lợi nhuận, giá cả chứng khoán theo sát các diễn biến kinh tế và những diễn biến trên TTCK; và thường là các công ty trong các ngành công nghiệp cơ bản và khai khoáng.
Một số rủi ro chính trong rủi ro hệ thống: - Rủi ro thị trường - Rủi ro lãi - Rủi ro về sức mua Rủi ro không hệ thống Ngược lại với rủi ro hệ thống, những yếu tố nội tại có thể kiểm soát được và chỉ tác động đến một ngành hay một công ty như khả năng quản lý, thị hiếu tiêu dùng hay những yếu tố khác gắn với thu nhập của công ty được gọi là rủi ro không hệ thống tương đối cao; và doanh số, lợi nhuận, giá cả cổ phiếu của những công ty này không phụ thuộc nhiều vào các diễn biến kinh tế hay tình hình TTCK. Rủi ro không hệ thống bao gồm một số rủi ro chính như sau: - Rủi do kinh doanh - Rủi ro tài chính Ngoài ra, rủi ro không hệ thống còn có thể tính đến rủi ro hoạt động phi pháp, tức khả năng chủ sở hữu, người quản lý, nhân viên công ty chứng khoán hay các công ty niêm yết hoặc khách hàng cố ý vi phạm các quy định về ngăn ngừa các giao dịch không công bằng, hoạt động lừa đảo dẫn đến các khoản lỗ cho người đầu tư, hay công bố những thông tin không đầy đủ và chính xác trái với quy định gây hiểu lầm cho người đầu tư. Đo lường rủi ro trong đầu tư cổ phiếu Các nhà đầu tư khi đầu tư vào chứng khoán đều muốn đạt tới mức lợi nhuận cao nhất với mức rủi ro thấp nhất. Muốn làm được điều này nhà đầu tư cần phải nắm được một số hệ số thông dụng để đánh giá mức độ an toàn của chứng khoán.
Đối với cổ phiếu, có rất nhiều chỉ số tài chính đánh giá mức độ rủi ro cũng như cơ hội đầu tư cổ phiếu. Ở đây, chúng ta chỉ tập trung vào các phép đo lường rủi ro cổ phiếu riêng lẻ và danh mục cổ phiếu và các chỉ số như beta… Phép đo lường rủi ro cổ phiếu bao gồm: Rủi ro đối với một cổ phiếu riêng lẻ, thông qua lợi nhuận kỳ vọng, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến đổi; và rủi ro đối với một danh mục cổ phiếu Rủi ro đối với một cổ phiếu riêng lẻ: Phương sai (δ2) là thước đo độ phân tán trong đó phản ánh những khoản chênh lệch giữa những mức lợi nhuận có thể nhận được với mức lợi nhuận kỳ vọng. Dải các mức lợi nhuận có thể nhận được càng rộng, hay độ phân tán các ước tính xác suất càng lớn thì giá trị của phương sai sẽ càng lớn. Một khoản đầu tư có phương sai bằng 0 thì chỉ có một khả năng lợi nhuận, một lợi nhuận chắc chắn, và không có rủi ro.
Bất kỳ một giá trị phương sai nào khác (phương sai luôn là số dương) cũng đều hàm ý một mức độ rủi ro nhất định; phương sai càng lớn thì rủi ro cũng càng lớn. Độ lệch chuẩn (δ) cũng là một thước đo hay được sử dụng, đơn giản là căn bậc hai của phương sai. Nó không chứa đựng nhiều thông tin hơn phương sai, nhưng nó cho phép xác định những ước tính xác suất về những sự kiện trong tương lai. Cần phải tính độ lệch chuẩn để tính toán được hệ số biến đổi.
Hệ số biến đổi (C) hay còn gọi là hệ số độ lệch chuẩn (δ ratio) là hệ so sánh độ lệch chuẩn để so sánh khi hai cổ phiếu có lợi nhuận kỳ vọng bằng 7 nhau. Trong thực tế ít có trường hợp như vậy nên sử dụng hệ số biến đổi đem lại cái nhìn chính xác hơn. Cần lưu ý rằng cho dù rủi ro của các cổ phiếu riêng lẻ có lớn đến đâu đi nữa, song nếu kết hợp các cổ phiếu lại với nhau trong một danh mục đầu tư theo một cách nào đó, thì rủi ro tổng thể của danh mục giảm đi những lợi nhuận kỳ vọng thì không nhất thiết giảm. Để tìm hiểu vấn đề này chúng ta cần xem xét cách lượng hóa rủi ro với một danh mục cổ phiếu.
Rủi ro đối với một danh mục cổ phiếu: Hệ số tích sai (Covariance) được tính bằng cách cộng tất cả tích của hai độ lệch chuẩn của hai cổ phiếu trong từng tình trạng khác nhau của nền kinh tế và chia trung bình. Trong đó độ lệch chuẩn bằng căn bậc hai của phương sai, và phương sai từng cổ phiếu là trung bình của tổng bình phương các độ lệch. Nếu hệ số tích sai dương, điều đó có nghĩa là hai cổ phiếu có mối quan hệ cùng chiều và trong cùng một tình trạng kinh tế, lợi nhuận của hai cổ phiếu đều cùng cao hơn hoặc thấp hơn lợi nhuận kỳ vọng. Còn nếu hệ số tích sai âm, lợi nhuận của hai cổ phiếu có mối quan hệ ngược chiều và trong cùng một tình trạng kinh tế nếu lợi nhuận của cổ phiếu này trên mức lợi nhuận kỳ vọng thì lợi nhuận của cổ phiếu kia sẽ thấp hơn lợi nhuận kỳ vọng.
Tuy nhiên, hệ số tích sai chưa chỉ ra được mức độ liên hệ theo một chuẩn mực dễ hình dung nên chúng ta tính thêm hệ số tương thích. Hệ số tương thích (Correlation) được tính bằng cách chia hệ số tích sai cho tích hai độ lêch chuẩn của hai cổ phiếu; và lúc đó, thước đo được giới hạn từ -1 đến +1. Hệ số tường thích dương thể hiện lợi nhuận hai cổ phiếu có quan hệ cùng chiều nhau, và hệ số tương thích dương càng lớn thì hai cổ phiếu đó càng có dao động giống nhau, bằng +1 tức là hai cổ phiếu hoàn toàn có dao động giống nhau. Hệ số tương thích âm chỉ sự dao động ngược chiều và càng lớn thì dao động ngược chiều đó càng nhiều.
8 Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là trung bình trọng số của lợi nhuận kỳ vọng của các cổ phiếu riêng lẻ nằm trong danh mục Phương sai của danh mục đầu tư hai cổ phiếu bao gồm phương sai của từng cổ phiếu và hệ số tích sai giữa hai cổ phiếu.