CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI CHƠI LÔ ĐỀ 1. Lý luận về hành vi 1. Khái niệm về hành vi 1. Hành vi theo quan điểm của các nhà tâm lý học hành vi Nhân vật hàng đầu của Tâm lý học hành vi là J.
Các luận điểm của ông là nền tảng lý luận của hệ thống tâm lý học này. Ông cho rằng tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể. Ở con người cũng như ở động vật, hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó. Toàn bộ hành vi, phản ứng của con người và con người phản ánh bằng công thức: S–R (Stimulant - Reaction) Kích thích - Phản ứng Với công thức trên, J.Watsơn đã nêu lên một quan điểm tiến bộ trong tâm lý học: coi hành vi là do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thể quan sát được, nghiên cứu được một cách khách quan, từ đó có thể điều khiển hành vi theo phương pháp “thử - sai”.
Nhưng chủ nghĩa hành vi đã quan niệm một cách cơ học, máy móc về hành vi, đánh đồng hành vi của cong người với hành vi của con vât, hành vi chỉ còn là những phản ứng máy móc nhằm đáp lại kích thích, giúp cơ thể thích nghi với môi trường xung quanh. Chủ nghĩa hành vi đồng nhất phản ứng với nội dung tâm lý bên trong làm mất tính chủ thể , tính xã hội của tâm lý con người, đồng nhất tâm lý con người với tâm lý động vật, con người chỉ hành vi phản ứng trong thế giới một cách cơ học, máy móc. Sự phát triển tiếp theo của hướng tiếp cận hành vi sau J. Watson đã dẫn đến phân hoá trường phái tâm lí học này thành 3 nhánh: 12 Một là, tâm lí học hành vi bảo thủ, trung thành với các luận điểm ban đầu, có tính cơ giới về hành vi trí tuệ con người của J.
Watson (thuyết kích thích – phản ứng: S – R), đại biểu là Skinner. Skinner đổi mới thuyết hành vi cũ của Watson, hình thành thuyết hành vi tạo tác của mình, thực nghiệm trong cái hộp chứ danh đã khiến ông “hành vi hóa” được quan niệm về con người và hành vi người. Một phần đó đã tạo nên thuyết hành vi xã hội của Skinner. Ông đã hình thành tư tưởng “công nghệ hành vi”, ông đưa ra triết lý “hãy vứt bỏ tự do và nhân phẩm” và nó đã trở thành cơ sở của toàn bộ thuyết hành vi xã hội của ông.
Hai là, Tâm lí học hành vi mới, các đại biểu xây dựng lên thuyết hành vi mới là E. Thuyết hành vi mới ở chỗ, trong công thức S-R truyền thống, những nhà hành vi mới đưa thêm vào các biến số trung gian làm khâu gián tiếp dẫn đến các kích thích và phản ứng. Theo Tolman, hành vi được xem xét trong mối quan hệ nhân quả trực tiếp “thông số độc lập – thông số phụ thuộc”. Điều này phản ánh trong sơ đồ hành vi do dộng vật tạo ra dưới góc độ lựa chọn: Thông số độc lập – thông số trung gian – thông số phụ thuộc – hành vi Các thông số này được đưa vào với tư cách là các kiến tạo lý luận để giải thích các sự kiện thấy được bằng quan sát trực tiếp.
Hệ thống của Tomal hạn chế ở chỗ, nó hoàn toàn tập trung chú ý vào ý định và nhận thức, và quẳng mất các quá trình thần kinh diễn ra trong não và không do quan sát mà thấy được. Tolman đã sinh vật hóa toàn bộ hoạt động của con người, giải thích tất cả các động cơ của hoạt động này bằng các loại nhu cầu khác nhau, và các loại nhu cầu cuối cùng được quy về nhu cầu cơ thể, bản năng. Theo ông, con người có bốn nhu cầu: “cái trung tính”, “cái tôi”, “cái siêu tôi”, “cái tôi mở rộng”. Hull đưa các phương pháp diễn dịch – toán học vào tâm lý học hành vi, hệ thống của Hull là hệ thống bao gồm một loạt định đề và hệ quả.
Cũng như Tolman, Hull cũng đưa vào các yếu tố trung gian trong sơ đồ S-R truyền thống, ông dùng thao tác để giải thích hành vi; mặt khác, dùng nguyên lý cung phản xạ với tư cách là nguyên lý làm việc của não bộ làm nguyên lý giải thích kinh nghiệm tự tạo trong học tập và kinh nghiệm này nằm trong cơ thể nằm trong hành vi. Trong học thuyết của Hull, con người hoàn toàn không có chỗ đứng, hành vi con người chỉ là hành vi xã hội, tức là chức năng của một cơ chế tự vệ hay “một máy liên hợp vật lý”. Ba là, tâm lí học hành vi chủ quan (thuyết “TOTE” – chữ đầu của các từ tiếng Anh. T: Test, O: Operate; T: Test, E: Exit, tức là thuyết thử - thao tác - thử - thoát ra).
Đại diện thuyết TOTE là O. Mille, Galanter, Pribram. Thuyết này là tổng hợp của thuyết hành vi với tâm lý học nội quan, giữ hành vi lại làm đối tượng của tâm lý học. Công thức trên bắt đầu từ sự tác động là cơ thể; hành vi nói chung tuân thủ sự kiểm tra của kế hoạch và biểu tượng, tức là của hoạt động tượng trưng.
Theo thuyết này, bên trong cơ thể là các cơ chế, các quá trình gián tiếp giữa phản ứng với kích thích. Cho rằng, hình ảnh và kế hoạch là hai yếu tố liên kết kích thích với phản ứng. Hình ảnh là tri giác được tích lũy, được tổ chức trong cơ thể về bản thân về thế giới mà cơ thể đang tồn tại trong đó. Còn kế hoạch là quá trình được xây dựng kiểu thứ bậc của cơ thể, có khả năng kiểm tra các trật tự của thao tác.
Hình ảnh mang tính chất thông tin, còn kế hoạch đề cập đến các thuật toán của hành vi. Hành vi chỉ là một loạt các cử động, còn con người là một cái máy vi tính phức tạp. Chiến lược của kế hoạch được xây dựng trên các lần thử, tiến hành trong các điều kiện đã được định sẵn. Thử nghiệm là sơ sở của quá trình hành vi trọn vẹn, từ đó mà các thao tác diễn ra một cách chính xác.
Như vậy, hệ thống TOTE bao hàm cả tư tưởng 14 liên hệ ngược, vì vậy mỗi một thao tác của cơ thể diễn ra thường xuyên được điều chỉnh bởi kết của của các thử nghiệm khác nhau. Hành vi chủ quan coi hành vi của con người một cách phi xã hội, quan niệm về con người phi lịch sử - đặc trưng đã làm cho hành vi chủ quan không phát hiện ra thực chất về tâm lý con người và chức năng thực sự của tâm lý trong cuộc sống, trong hoạt động của con người. Tóm lại, tâm lý học hành vi đã đồng hóa hành vi người và hành vi động vật. Phương pháp tiếp cận chỉ là quan sát được từ bên ngoài làm dữ liệu duy nhất.
Bên cạnh đó lại vứt bỏ ý thức ra ngoài phạm vi tâm lý và tách biệt một cách máy móc ý thức ra khỏi hành vi.Thuyết hành vi đã coi con người như một cơ thể phản ứng, “một cái máy liên hợp vật lý”, họ xóa mọi ranh giới có tính nguyên tắc giữa hành vi con vật và con người. Hành vi theo quan điểm Tâm lý học Macxit Theo X.Rubinstein thì “Hành vi là kết quả của những hành động tích cực của chủ thể đối với các đối tượng chủ thể gặp trong một hoàn cảnh nào đó”. Hành vi ở đây là hành động tích cực, có nghĩa là cơ thể không hoàn toàn thụ động phản ứng kích thích của môi trường; cái hành động tích cực ở đây dường như đã phần nào loại bỏ tính trực tiếp trong công thức S-R của thuyết hành vi cổ điển mà thay vào đó là tính gián tiếp.Rubinstein cho rằng: với cơ chế gián tiếp, hành động không phải chỉ bị quy định bởi các kích thích đi từ hoàn cảnh hiện có trực tiếp, mà còn quy định bởi mục đích và nhiệm vụ nằm ngoài hoàn cảnh ấy, nghĩa là còn nhiều yếu tố khác dẫn đến sự xuất hiện của hành vi chứ không phải chỉ duy nhất có kích thích từ môi trường bên ngoài. Nhờ nguyên tắc gián tiếp mà con người thoát khỏi tác động trực tiếp của dòng kích thích, hành vi của con người không chỉ đơn thuần là hành vi phản ứng mà trở thành hành vi tích cực.Leochiev, hành vi không phải là những phản ứng máy móc của một cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động.
Vưgotxki, hành vi động vật và hành vi người có cấu trúc hoàn toàn khác nhau. Ở động vật, các dạng hành vi chủ yếu được hợp thành bởi hai nhóm phản ứng. Đó là nhóm phản ứng bẩm sinh – không điều kiện ( Hành vi tiết nước bọt ở chó chờ được ăn trong thực nghiệm của I. Nói cách khác, hành vi động vật là kinh nghiệm di truyền, di truyền kinh nghiệm cá thể.
Trong khi đó, cấu trúc hành vi ở người bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm kép. Vì vậy, Vưgôtxki viết “ý thức hóa ra là một cấu trúc rất phức tạp của hành vi, nếu nói riêng, thì là cấu trúc rất phức tạp của quá trình phân đôi của hành vi. Hành vi được hiểu ngầm là hoạt động của con người. Và cả ý thức với tư cách là một bộ phận cấu thành của hành vi, ý thức được coi là một thực tại khách quan có chức năng điều chỉnh đối với hành vi, và cùng hành vi, ý thức là một thành phần của hoạt động.
74-75] Các nhà tâm lý học Macxit đã phê phán các luận điểm có khuynh hướng xóa nhòa ranh giới giữa hành vi của động vật với hành vi của con người vì chúng dẫn đến nhận thức sai lầm , lẫn lộn giữa sinh vật học với xã hội học và giữa sinh lý học với tâm lý học. Các tác giả trên cho rằng, cả ý thức và hành vi đều tồn tại khách quan, tham gia một cách tích cực vào quá trình tác động của con người đối với thế giới xung quanh. Hành vi của con người được xem như hoạt động, tuy ít nhiều mang những yếu tố bẩm sinh, nhưng chủ yếu chịu sự chi phối từ phía xã hội thông qua ngôn ngữ và các hệ thống tín hiệu ý nghĩa khác. Khái niệm về hành vi của các nhà Tâm lý học Việt Nam Theo tác giả Phạm Minh Hạc, hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ và mục đích.