ĐẶT VẤN ĐỀ Cây đậu tương hay đỗ tương, đậu nành [Glicinemax (L) Merill] là cây công nghiệp được trồng rộng rãi ở Việt Nam và các nước trên thế giới. Đây là loại cây họ Đậu giàu hàm lượng chất đạm protein, còn là cây thực phẩm quan trọng cho người và gia súc. Cây đậu tương còn là cây có thời gian sinh trưởng ngắn và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Sản phẩm từ cây đậu tương được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành.
Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao với hàm lượng protein từ 38-40 , lipit từ 15 - 20 , hydrat các bon từ 15 - 16 cùng nhiều loại sinh tố và muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S quan trọng cho sự sống ( Phạm Văn Thiều, 2006). Hạt đậu tương chứa gần như đầy đủ các acid amin cơ bản như insoleucin, leucin, methyonin, phenylalanin, tryptophan, valin… Cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất các cây trồng khác. Điều này có được là do hoạt động cố định nitơ khí quyển của vi khuẩn Rhizobium Japonicum cộng sinh trên rễ cây họ Đậu. Rễ đậu tương ăn sâu, phân nhánh nhiều làm cho đất tơi xốp.
Thân, lá đậu tương có thể làm phân bón, một ha trồng đậu tương có thể để lại trong đất 300 - 400 kg đạm sun phát. Do vậy, cây đậu tương còn là cây trồng để lại một lượng đạm đáng kể cho cây trồng vụ sau (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs. Ở Việt Nam cây đậu tương có thể gieo trồng quanh năm. Mỗi vùng khác nhau đều có những vụ trồng đậu tương chính.
Do nhiều yếu tố khác nhau nên thời vụ của các giống, các vụ, các vùng khác nhau không thể giống nhau ở các địa phương. Ngoài ra, bón phân chứa những nguyên tố dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ và hoạt động của vi khuẩn nốt sần cây đậu tương. Trong các biện pháp tăng năng suất đậu tương, biện pháp bón phân rất được coi trọng. Bát Xát là một huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Lào Cai.
Là một huyện có nền kinh tế thuần nông nên sản xuất nông nghiệp được tỉnh quan tâm và chú trọng đầu tư. Cây đậu tương ở huyện Bát Xát có nhiều lợi thế để 1 phát triển và mở rộng diện tích như điều kiện tự nhiên, khí hậu rất thuận lợi. Bên cạnh đó huyện lại luôn đặt mục tiêu đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp tập trung vào các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, trong đó có cây đậu tương. Nhưng do người dân tại đây vẫn sản xuất theo tập quán chưa áp dụng những kỹ thuật canh tác mới vào sản suất nên năng suất còn thấp chưa phát huy hết được giá trị kinh tế của cây đậu tương, đặc biệt chưa đưa giống năng suất cao vào sản suất và quy trình kỹ thuật bón phân của người dân còn chịu ảnh hưởng nhiều của tập quán canh tác.
Do đó việc xác định được bộ giống và liều lượng phân bón thích hợp cho một số giống đậu tương để góp phần mở rộng diện tích, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng đậu tương và giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác đang là một yêu cầu cần thiết đối với sản xuất đậu tương của huyện Bát Xát trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu xác định giống và liều lượng kali bón cho đậu tương vụ Hè thu tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” 1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu đề tài nhằm xác định được một số giống đậu tương sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao và liều lượng kali hợp lý cho đậu tương tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu trên đất Bát Xát, Lào Cai. - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali đến sinh trưởng phát triển, năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh hại của giống đậu tương D140 và ĐT26 trong điều kiện vụ hè thu trên đất Bát Xát, Lào Cai. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học - Việc xác định được một số giống đậu tương năng suất cao cũng như liều lượng Kali bón thích hợp cho đậu tương vụ Hè thu là cơ sở khoa học phục vụ cho những nghiên cứu về đậu tương tiếp theo.
2 - Kết quả nghiên cứu đề tài đã xác định được giống đậu tương có năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện Bát Xát và liều lượng Kali bón phù hợp cho giống trong vụ Hè thu tại Bát Xát, Lào Cai là tài liệu khoa học để các nhà nghiên cứu về nông nghiệp, giảng viên và sinh viên các trường nông nghiệp tham khảo. Ý nghĩa thực tiễn -Đề tài đã xác định được các yếu tố hạn chế và triển vọng phát triển sản xuất đậu tương tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. - Xác định được một số giống đậu tương có khả năng sinh trưởng tốt cho năng suất cao và liều lượng kali bón phù hợp trong vụ Hè thu tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. - Sử dụng giống đậu tương mới năng suất cao (ĐT26) và liều lượng Kali bón thích hợp (60kg K2O/ha) đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, tăng thu nhập cho nông dân sản xuất đậu tương, kích thích sản xuất đậu tương phát triển ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI - Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng chống chịu của 7 giống đậu tương tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. - Đề tài giới hạn chỉ nghiên cứu 3 liều lượng kali cho hai loại giống đậu tương D140 và ĐT26. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐIỀU KIỆN SINH TRƢỞNG CỦA CÂY ĐẬU TƢƠNG 2.
Yêu cầu về nhiệt độ Đậu tương là một cây trồng có khả năng thích ứng rộng nên được phân bố ở khắp các châu lục, tuy nhiên đậu tương có nguồn gốc ôn đới, không phải là cây chịu rét, khi nghiên cứu về vấn đề này nhiều tác giả cho rằng đậu tương là cây ưa o ấm. Cây sinh trưởng bình thường ở 10 - 38 C, trên và dưới giới hạn đó cây phát o triển không tốt.Nhiệt độ thích hợp 18 - 25 C., nhưng tùy nguồn gốc của giống, tùy theo giống chín sớm hay muộn mà lượng tích ôn tổng số cũng biến động (Ngô Thế Dân và cs. Tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau mà đậu tương yêu cầu một khoảng nhiệt độ khác nhau có bảng nhu cầu nhiệt của đậu tương. Nhu cầu nhiệt độ của cây đậu tƣơng Giai đoạn sinh Nhiệt độ Nhiệt độ Nhiệt độ trƣởng 70-120 thích hợp giới hạngiới hạn Tổng tích ôn 0C cao ngày nhất nhất thấp nhất 1.000 chịu Toàn giai đoạn 18-26 >10 <40 nóng lạnh Mọc 18-26 >6-8 <35 Sinh trưởng 20-27 >8-10 <38 - 40 Ra hoa 22-25 >15 <38 Hình thành quả hạt 21-26 >15 <38 Chín 19-26 >15 <38 Nguồn: Theo Mai Quang Vinh và Ngô Phương Thịnh (2005) Chú ý: o Thời kỳ ra hoa - làm quả, dưới 18 C có khả năng làm cho quả không đậu, o nhiệt độ cao trên 40 C ảnh hưởng sâu sắc đến hoàn thành đốt, sinh trưởng lóng và phân hóa hoa.
o Ở nhiệt độ 10 C ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ vươn dài của trục dưới lá mầm. Sự vận chuyển các chất trong cây càng chậm khi nhiệt độ càng thấp và ngừng o lại khi nhiệt độ ở 2 - 3 C (Lê Song Dự và cs. 4 Nhiệt độ còn ảnh hưởng rõ rệt đến sự cố định nitơ của đậu tương.Vi khuẩn o o Rhizobium japonicum bị hạn chế bởi nhiệt độ trên 33 C, nhiệt độ 25 - 27 C hoạt o động của vi khuẩn tốt nhất. Nhiệt độ thích hợp cho quang hợp là từ 25 - 30 C (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs.
Yêu cầu về độ ẩm Lượng mưa và độ ẩm là yếu tố hạn chế chủ yếu đối với sản xuất đậu tương. Giữa lượng chất khô tích lũy của đậu tương Đông và bốc thoát hơi nước từ lá có liên quan tuyến tính rất chặt (r = 0,89 - 0,98). Nhu cầu nước của đậu tương thay đổi tuỳ theo điều kiện khí hậu, kĩ thuật canh tác và thời gian sinh trưởng của đậu tương. Đậu tương cần lượng mưa từ 350mm đến 600mm cho cả 3 quá trình sinh trưởng.
Hệ số sử dụng nước từ 1.500m cho việc hình thành một tấn hạt (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996) Thời kì mọc: Đậu tương yêu cầu đất đủ ẩm, nếu khô hạn kéo dài thì hạt không nảy mầm được dẫn đến bị thối, trong thời kì nảy mầm hạt cần hút một lượng nước bằng 100 - 150% khối lượng hạt, nhu cầu nước của đậu tương tăng dần khi cây lớn. Thời kì cây con trước khi ra hoa đậu tương chịu úng tốt nhất khi cây bị ngập nước hoàn toàn trong một thời gian ngắn dưới 12 giờ, ngập ngang cây 2 - 3 ngày thì cây vẫn có khả năng phục hồi. Đậu tương còn chịu hạn tốt hơn giai đoạn trước. Thời kì đậu tương ra hoa và thời kì quả mẩy là thời kì mà đậu tương cần nhiều nước nhất.
Hạn hán vào thời kỳ ra hoa và bắt đầu có quả gây rụng hoa, rụng quả nhiều, hạn vào lúc này làm giảm năng suất lớn nhất (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs. Yêu cầu độ ẩm, lƣợng mƣa các giai đoạn Yêu cầu độ ẩm, lƣợng mƣa Giai đoạn Độ ẩm (%) Lƣợng mƣa (mm) Nảy mầm 75-80 Cây con 50-60 350 - 600 Ra hoa, kết quả 70-80 Giai đoạn chín 35-80 Nguồn: Theo Mai Quang Vinh và Ngô Phương Thịnh (2005) Thực tế cho thấy, việc xác định thời vụ hợp lý là điều kiện cung cấp đủ nước cho cây. Đối với đậu tương cần bố trí thời vụ sao cho có mưa từ giai đoạn ra hoa đến làm quả và sau đó chấm dứt mưa 2 - 3 tuần trước khi thu hoạch để tiện 5 thu hoạch và nâng cao phẩm chất hạt, tránh ảnh hưởng tới năng suất. Yêu cầu về ánh sáng Đậu tương là cây ngày ngắn điển hình.
Ánh sáng là yếu tố quyết định sự quang hợp của lá, sự cố định nốt sần của rễ từ đó ảnh hưởng đến hình thái cây do nó làm thay đổi thời gian nở hoa và chín, từ đó ảnh hưởng đến chiều cao cây, diện tích lá và nhiều đặc tính khác của cây bao gồm cả năng suất hạt.