Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VÀ GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CHO SINH VIÊN 1. Lý luận chung về chủ nghĩa yêu nước 1.1 Khái niệm “chủ nghĩa yêu nước” Theo từ điển tiếng Việt: Chủ nghĩa yêu nước là “Lòng yêu thiết tha đối với Tổ quốc của mình, thường biểu hiện ở tinh thần sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc” [56, tr. Có thể hiểu, yêu nước là gắn bó, yêu mến thiết tha của con người đối với quê hương xứ sở, non sông, với cộng đồng các dân tộc đã và đang cùng sinh sống, dựng xây, bảo vệ trên phạm vi lãnh thổ, quốc gia. Nội dung chính của chủ nghĩa yêu nước là truyền thống nhân ái, cố kết cộng đồng dân tộc, tình yêu và lòng trung thành với Tổ quốc, biết sống cùng Tổ quốc, khi cần dám hi sinh cho Tổ quốc tồn tại vững bền.
Chủ nghĩa yêu nước là sự chuyển hóa về chất từ tình cảm yêu nước thành tư tưởng, quan niệm yêu nước. Bởi lẽ nội hàm của khái niệm “chủ nghĩa” là chủ trương và lý luận có hệ thống về các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa. Nó là tư tưởng, quan niệm, hoặc hệ quan niệm có tính triết học, chính trị, xã hội,. bắt nguồn từ những lợi ích của một chủ thể nào đó, đã được hệ thống hóa mang tính hướng dẫn nhận thức và hành động cho con người trong ứng xử đời sống.
Khái niệm “nước” trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong quá trình phát triển của dân tộc ngày càng được mở rộng, nó bao gồm nhiều nội dung nhưng nằm trong mối quan hệ mật thiết với nhau: Thứ nhất, nước chỉ biên giới, lãnh thổ, lĩnh vực, bờ cõi để phân biệt các nước trên lĩnh vực tự nhiên địa lý. Thứ hai: nước còn bao hàm những con người, nhân dân, các dân tộc, các giai cấp, tầng lớp cùng sinh sống và thiết lập mối quan hệ của họ với nhau trên một vùng lãnh thổ nhất định. Thứ ba: nước còn bao gồm làng xã, quê hương, Tổ quốc và những chế độ chính trị nhất định trong mỗi thời kỳ lịch sử. Cơ sở hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước là "nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc".
Chúng ta có thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị truyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, "là tiêu điểm của mọi tiêu điểm". Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm bình dị, đơn sơ của mỗi người dân. Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan tâm đến những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành tình yêu Tổ quốc.
Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm sinh, mà là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước nhất định. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là sự kết tinh của tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, cốt cách con người Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Truyền thống bản sắc đó được thể hiện thành vô số giá trị văn hóa tiêu biểu và việc nghiên cứu, khái quát những giá trị ấy cho đến hiện nay dường như vẫn chưa có điểm dừng. Mặc dù vậy, hầu hết các học giả, các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử, chính trị… và cả Đảng ta đều thống nhất khẳng định, yêu nước là giá trị hàng đầu trong truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII đã nhấn mạnh: “Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc …”. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã trở thành hệ tư tưởng chủ đạo, giữ vai trò định hướng và chi phối toàn bộ quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta 7 qua các thời kỳ. Hơn nữa, chủ nghĩa yêu nước còn trở thành giá trị văn hóa mang tính phổ biến và được xã hội hóa sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, được các thế hệ người Việt Nam xác định như một trong những tiêu chí, giá trị cao nhất quy định phương châm sống và hành động của mình.
Từ đó, tạo thành động lực tinh thần to lớn, thúc đẩy những hành động tích cực vì đất nước của con người và cộng đồng người Việt Nam. Nội dung của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam 1. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Dân tộc Việt Nam trải qua hàng năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc truyền thống yêu nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm, ý thức cố kết cộng đồng dân tộc do phải thường xuyên đương đầu với các thế lực ngoại bang xâm lăng hoặc có ý đồ đồng hoá, kể cả đồng hoá cưỡng bức. Trong tiềm thức mỗi người dân Việt Nam, dù thuộc tộc người đa số hay thiểu số, đều chứa đựng tình yêu quê hương đất nước nồng nàn kết tinh thành ý thức của dân với nước, được thể hiện sinh động trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ của thiết chế Gia đình - Làng - Nước, thành sắc thái độc đáo của văn hoá Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ngợi ca truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi sục, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước". Lòng yêu nước, tình cảm gắn bó máu thịt và trách nhiệm của "con dân" với Nước đã đúc kết thành truyền thống và hơn thế trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Một đánh giá rất có sức thuyết phục mang tính khoa học - thực tiễn phản ánh tính quy luật hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là truyền thống yêu nước của người Việt Nam. Đó không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất tinh thần, mà đã phát triển thành một chủ nghĩa - chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính thành dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam, xuyên suốt lịch sử dân tộc. Cái dòng chủ lưu ấy - chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống - có thể 8 hình dung trên những nét tiêu biểu là: - Tình cảm, ý thức hướng về cội nguồn, tổ tiên như một yếu tố tâm linh của người Việt Nam: "Dù ai đi ngược về xuôi - Nhớ ngày giỗ tổ mồng Mười tháng Ba". - Ý thức ngưỡng mộ, tôn sùng, ghi ơn những anh hùng có công với nước, với dân.
- Gắn bó vận mệnh đất nước với tồn tại của từng gia đình: "Nước mất, nhà tan". - Ý thức cố kết cộng đồng trong xây dựng quê hương đất nước, trong đấu tranh chống thiên nhiên khắc nghiệt và chống ngoại xâm. - Ý thức về tinh thần độc lập, tự chủ về lãnh thổ, chủ quyền quốc gia v. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống là sức mạnh tư tưởng Việt Nam - một nguồn sức mạnh to lớn được kết tinh hun đúc qua trường kỳ lịch sử.
Đó chính là tiền đề tư tưởng-văn hoá, nguồn gốc trực tiếp hình thành nên chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh - bộ phận, nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nội dung của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam rất phong phú, được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản sau: Trước hết là tình yêu quê hương, xứ sở, làng xóm. Trong quan niệm cổ truyền: đất nước = đất + nước là hai yếu tố cơ bản của nền nông nghiệp lúa nước lấy Nhà (gia đình) làm đơn vị kinh tế, lấy làng, xóm làm cộng đồng cơ sở. Nước gắn liền với Nhà và Làng xóm: việc nước, việc làng, việc nhà.
Thứ hai, sự gắn bó, cố kết cộng đồng hướng về dân, lấy dân làm gốc. Nước được coi là tập hợp của nhiều làng và vùng liên bang. Nước hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng gắn bó với nhau trong lịch sử, trong cuộc sống, trong vận mệnh chung. Trong nước có nhiều tầng lớp, đẳng cấp xã hội khác nhau, thường được gọi là “tứ dân” gồm sĩ, nông, công, thương; trong đó đông nhất là “nông”, “dĩ nông vi bản”, “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”.
Do đó, dân được ví như nước và nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền. Thứ ba, có lịch sử và văn hoá chung ý niệm lịch sử và văn hoá chung có 9 vai trò rất quan trọng trong nhận thức và tình cảm của chủ nghĩa yêu nước. Huyền thoại, truyền thuyết, truyện lịch sử, lễ hội dân gian. là những biểu hiện của sự thống nhất ấy.
Nguyễn Trãi đã xác định sự tồn tại của Đại Việt là trên cơ sở văn hiến, bờ cõi, phong tục của Đại Việt. Nguyễn Huệ xác định mục tiêu cao nhất của đánh giặc giữ nước là để bảo vệ văn hoá, dân tộc, bảo vệ phong tục tập quán của nhân dân. Trong quan niệm về bảo vệ văn hoá dân tộc chủ yếu là bảo vệ bản lĩnh bản sắc dân tộc gắn liền với độc lập, chủ quyền quốc gia, không mang tính bảo thủ, cố chấp. Thứ tư, ý thức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
Bước trưởng thành của tinh thần yêu nước, yêu quê hương xứ sở và nâng lên thành ý thức bảo vệ non sông đất nước, giang sơn, tổ quốc, sơn hà, xã tắc – nghĩa là ý niệm sâu sắc về lãnh thỗ quốc gia. Thế kỷ XV, Lê Thánh Tông đã ra lệnh: “Một thước núi, một tấc sông của ta không thể vứt bỏ. Ai dám đem một thước núi, một tấc sông của vua Thái Tổ để làm mồi cho giặc thì tội phải tru di”.