Tổng quan luận án
Theo các báo cáo thống kê dịch tễ học, trên thế giới có hơn một tỉ người mắc các bệnh lý tuyến giáp và tỉ lệ này ngày càng có xu hướng gia tăng. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 9 đến 10 triệu người nằm trong nhóm nguy cơ thiếu hụt iod, trong đó tỷ lệ mắc bướu tuyến giáp địa phương tại một số khu vực chiếm từ 15% đến 30%. Phẫu thuật tuyến giáp là phương pháp điều trị ngoại khoa phổ biến, bao gồm cả mổ hở truyền thống và phẫu thuật nội soi (như báo cáo tổng kết 2.194 ca phẫu thuật nội soi tuyến giáp trong 8 năm tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương).
Hai tai biến và biến chứng nghiêm trọng thường gặp nhất trong phẫu thuật tuyến giáp là biến chứng chảy máu (tỉ lệ khoảng 1% - 1,1%) và tổn thương hệ thống thần kinh thanh quản gây ảnh hưởng trực tiếp đến dây thanh âm (tỉ lệ từ 3% - 8%, trong đó có 0,3% - 3% là tổn thương vĩnh viễn không hồi phục). Bên cạnh đó, trong các thủ thuật mở khí quản ra da, đặc biệt là mở khí quản cấp cứu tại phòng cấp cứu hoặc khoa hồi sức tích cực (ICU), tỉ lệ chảy máu sau mổ được ghi nhận lên tới 4,8%. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc phẫu thuật viên chưa kiểm soát được các biến thể giải phẫu của mạch máu và thần kinh vùng cổ.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định rõ: Các giáo trình giảng dạy, sách giáo khoa giải phẫu học và tài liệu tham khảo ngoại khoa bằng tiếng Việt hiện nay chưa mô tả đầy đủ, chi tiết các thông số nhân trắc học giải phẫu về hệ thống mạch máu (động mạch giáp trên, động mạch giáp dưới, động mạch giáp dưới cùng, tĩnh mạch giáp trên, tĩnh mạch giáp giữa, tĩnh mạch giáp dưới) cũng như thần kinh (thần kinh thanh quản quặt ngược, nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên) trên cơ thể người Việt Nam trưởng thành.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Mô tả các dạng, kích thước, liên quan của mạch máu tuyến giáp.
- Xác định các dạng, đường đi và liên quan của thần kinh thanh quản quặt ngược và nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên với tuyến giáp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Thi thể người Việt Nam trưởng thành được xử lý và bảo quản phục vụ công tác nghiên cứu - giảng dạy.
- Địa điểm: Bộ môn Giải phẫu học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chuyên ngành: Giải phẫu người (Mã số: 62720104), năm hoàn thành: 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp hệ thống y văn chuyên sâu về phôi thai học, hình thái giải phẫu học và các biến thể mạch máu, thần kinh tuyến giáp:
1. Phôi thai học và giải phẫu mô tả tuyến giáp
Tuyến giáp là tuyến nội tiết hình thành sớm nhất trong phôi thai (sau ngày thứ 24 sau thụ thai), xuất phát từ lá nội bì sàn họng (khe túi thanh quản thứ 1 đến thứ 2). Quá trình di chuyển của mầm giáp xuống vùng cổ trước gắn liền với ống giáp lưỡi. Vào tuần thứ 8 - 10, ống giáp lưỡi thoái triển (nếu tồn tại sẽ tạo nang giáp lưỡi hoặc ống giáp lưỡi theo mô tả của Lê Văn Cường, 2013). Tuyến giáp người trưởng thành có hình chữ H hoặc chữ U, gồm hai thùy nối nhau qua eo tuyến giáp (ngang mức sụn khí quản 1 đến 4), cân nặng trung bình 40 - 42 g; mỗi thùy có chiều dài 5 - 8 cm, rộng 2 - 4 cm, dày 1 - 2,5 cm.
2. Các nghiên cứu về mạch máu tuyến giáp
Lưu lượng máu qua tuyến giáp rất lớn (khoảng 1,2 ml/phút/1 g mô). Các công trình nghiên cứu trước đây chỉ ra tính đa dạng về nguyên ủy và phân nhánh của các mạch máu:
- Động mạch giáp trên (ĐMGT): Won (2016) nghiên cứu trên 30 xác người Hàn Quốc ghi nhận nguyên ủy ĐMGT từ ĐM cảnh ngoài (20%), nơi chia đôi ĐM cảnh chung (40%) và ĐM cảnh chung (40%). Shivaleela phẫu tích 42 xác người Ấn Độ ghi nhận 88,9% ĐMGT xuất phát phía trên bờ trên sụn giáp. Joshi (2014) khảo sát 33 xác ghi nhận ĐMGT xuất phát từ ĐM cảnh ngoài chiếm 66,67%, nơi chia đôi chiếm 31,81% và ĐM cảnh chung chiếm 1,51%.
| Tác giả |
ĐM cảnh ngoài (%) |
Nơi phân chia ĐM cảnh (%) |
ĐM cảnh chung (%) |
ĐM cảnh trong (%) |
| Anitha |
59 |
21 |
19 |
- |
| Banna |
68 |
10 |
22 |
- |
| Lê Văn Cường |
30,3 |
13,7 |
55,8 |
- |
| Gupta (Phải / Trái) |
71,5 / 72,5 |
21,5 / 0 |
7 / 18,5 |
0,04 / 9 |
| Joshi |
66,67 |
31,81 |
1,51 |
- |
| Lucev |
30 |
47,5 |
22,5 |
- |
| Ozgur |
25 |
35 |
40 |
- |
| Shivaleela (Phải / Trái) |
78,57 / 73,8 |
2,38 / 2,38 |
19,04 / 23,8 |
- |
| Won |
20 |
40 |
40 |
- |
- Động mạch giáp dưới (ĐMGD) và Động mạch giáp dưới cùng: Roshan (2014) khảo sát 50 xác cho thấy 100% ĐMGD trái và 96% ĐMGD phải xuất phát từ thân giáp cổ (4% bên phải xuất phát từ ĐM dưới đòn). ĐM giáp dưới cùng (được Johann E. Neubauer mô tả năm 1772) xuất hiện với tỉ lệ khoảng 10%, có thể xuất phát từ thân cánh tay đầu, cung ĐM chủ hoặc ĐM cảnh chung (theo Doris G. Yohannan, 2019; Yilmaz).
- Hệ thống tĩnh mạch: Wafae (2008), Krausen, Belli, Dionigi, Chevrel mô tả sự biến thiên của TMGT (đổ về TM cảnh trong, TM mặt, TM lưỡi), TMGG (hiện diện từ 29% - 62%, dẫn máu trực tiếp về TM cảnh trong) và TMGD (đám rối tĩnh mạch trước khí quản, đổ về TM cánh tay đầu phải, trái hoặc tạo thân chung tĩnh mạch giáp dưới cùng).
| Tác giả |
1 nhánh nguyên thủy (%) |
2 nhánh nguyên thủy (%) |
3 nhánh nguyên thủy (%) |
$\ge$ 4 nhánh nguyên thủy (%) |
| Belli |
38 |
33 |
16 |
3 |
| Krausen |
10 |
10 |
40 |
40 |
| Wafae |
62,1 |
27,6 |
3,4 |
3,4 |
3. Các nghiên cứu về thần kinh thanh quản
- Nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên (NNTKTQT): Là nhánh tận của TK thanh quản trên (bắt nguồn từ hạch nút của TK X, cung mang thứ 4), vận động cho cơ nhẫn giáp giúp làm căng dây thanh âm. Phân loại Cernea (1992) chia làm 3 dạng dựa trên khoảng cách từ điểm bắt chéo ĐMGT đến mặt phẳng ngang cực trên tuyến giáp: Dạng 1 (> 1 cm), Dạng 2a (0 - 1 cm), Dạng 2b (bắt chéo dưới cực trên tuyến giáp, nguy cơ tổn thương cao nhất từ 14% - 54%). Các phân loại khác gồm Kierner, Selvan (2009), Friedman (2002).
- Thần kinh thanh quản quặt ngược (TKTQQN): Hình thành từ cung mang thứ 6; bên phải quặt ngược dưới ĐM dưới đòn, bên trái quặt ngược dưới quai ĐM chủ; đi trong rãnh khí quản - thực quản và liên quan chặt chẽ với ĐMGD và dây chằng Berry (John B., 2004).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng lý thuyết giải phẫu học định khu và giải phẫu ngoại khoa vùng đầu cổ, kết hợp phôi thai học hệ tim mạch và các dây thần kinh sọ. Phân tích hình thái dựa trên các hệ thống phân loại giải phẫu quốc tế chuẩn mực (phân loại Cernea, Selvan, Friedman đối với NNTKTQT; phân loại nguyên ủy mạch máu và các dạng tương quan TKTQQN - ĐMGD).
2. Thiết kế và quy trình nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng kỹ thuật phẫu tích giải phẫu học trên xác người.
- Dụng cụ và phương tiện: Bộ dụng cụ phẫu tích chuyên dụng (dao mổ, kéo vi phẫu, kẹp phẫu tích), dụng cụ đo lường tiêu chuẩn (thước đo khoảng cách, compa đo đường kính và chiều dài mạch máu/thần kinh).
- Quy trình phẫu tích:
- Rạch da và bộc lộ diện rộng vùng cổ và lồng ngực trước.
- Phẫu tích cắt bỏ nhóm cơ dưới móng và cơ ức đòn chũm để làm lộ toàn bộ tuyến giáp.
- Mở lồng ngực bộc lộ cung ĐM chủ, thân ĐM cánh tay đầu, ĐM dưới đòn và các thân tĩnh mạch lớn.
- Phẫu tích tỉ mỉ cực trên tuyến giáp, bộc lộ ĐMGT, TMGT và NNTKTQT trong tam giác Joll và khoang Reeves.
- Phẫu tích mặt sau bên tuyến giáp, rãnh khí quản - thực quản, bộc lộ ĐMGD, TMGG, TMGD và TKTQQN đến tận vị trí đi vào dây chằng Berry và sụn thanh quản.
- Đo đạc các thông số: đường kính, chiều dài, khoảng cách đến các mốc mốc giải phẫu cố định (bờ trên sụn giáp, cực trên tuyến giáp, đường giữa cổ).
3. Xử lý số liệu và Đạo đức nghiên cứu
- Số liệu được thu thập thống nhất theo Bảng thu thập số liệu định sẵn, mã hóa và xử lý bằng các thuật toán thống kê y học mô tả (tần số, tỉ lệ phần trăm, giá trị trung bình $\pm$ độ lệch chuẩn).
- Đề tài được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y Sinh học - Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh xét duyệt và cấp giấy chấp thuận đạo đức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở phôi thai học và giải phẫu mô tả của tuyến giáp, hệ thống mạch máu (động mạch, tĩnh mạch) và các dây thần kinh liên quan (NNTKTQT, TKTQQN). Điểm lại các mốc lịch sử nghiên cứu như sự kiện ca sĩ opera Amelita Galli Curci bị mất giọng do tổn thương NNTKTQT, làm thay đổi nhận thức ngoại khoa về tầm quan trọng của nhánh thần kinh này bên cạnh TKTQQN. Phân tích chi tiết ba vị trí TKTQQN có nguy cơ tổn thương cao nhất trong phẫu thuật tuyến giáp: (1) vùng dây chằng Berry, (2) vùng bắt chéo các nhánh ĐMGD, và (3) vùng lỗ trên lồng ngực.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày chi tiết phương pháp luận, tiêu chuẩn chọn mẫu thi thể người Việt Nam trưởng thành, địa điểm thực hiện tại Đại học Y Dược TP.HCM và các biến số giải phẫu đo đạc. Quy trình phẫu tích từng bước được chuẩn hóa từ đường rạch da ngoài, bộc lộ cơ, phẫu tích vi phẫu các nhánh mạch máu nhỏ và các sợi thần kinh, ghi hình tư liệu và đo đạc kích thước bằng dụng cụ chính xác. Chương này cũng nêu rõ quy trình kiểm soát sai số đo lường và các cam kết về đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ phẫu tích thực nghiệm, được chia thành hai nhóm cấu trúc chính:
1. Mạch máu tuyến giáp
- Động mạch giáp trên (ĐMGT): Ghi nhận tính đa dạng về vị trí nguyên ủy (từ ĐM cảnh ngoài, nơi phân chia ĐM cảnh chung, hoặc trực tiếp từ ĐM cảnh chung), kích thước đường kính, chiều dài từ nguyên ủy đến cực trên tuyến giáp và các dạng phân nhánh tận (nhánh trước, nhánh sau).
- Động mạch giáp dưới (ĐMGD): Xác định tỉ lệ nguyên ủy xuất phát từ thân giáp cổ, kích thước mạch máu, chiều dài thân chính và số lượng các nhánh tuyến đi vào cực dưới thùy tuyến giáp.
- Động mạch giáp dưới cùng: Xác định số trường hợp xuất hiện, vị trí nguyên ủy (từ thân cánh tay đầu, cung ĐM chủ), đường đi trước khí quản và vùng cấp máu cho eo tuyến giáp hoặc cực dưới.
- Hệ thống tĩnh mạch:
- TM giáp trên: Kích thước, vị trí tận cùng đổ về TM cảnh trong hoặc thân TM mặt - lưỡi; mối tương quan không gian với ĐMGT tại cực trên.
- TM giáp giữa: Tỉ lệ hiện diện một bên và hai bên trên cùng một thi thể, chiều dài thân tĩnh mạch và vị trí đổ trực tiếp về TM cảnh trong.
- TM giáp dưới: Số lượng các nhánh nguyên thủy tạo thành thân tĩnh mạch, tính chất đa dạng của đám rối trước khí quản và vị trí tận cùng (đổ về TM cánh tay đầu phải, TM cánh tay đầu trái hoặc thân chung tĩnh mạch giáp dưới cùng).
2. Thần kinh liên quan tuyến giáp
- Nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên (NNTKTQT): Xác định chiều dài, số nhánh phân chia, đường đi song song và bắt chéo ĐMGT, khoảng cách từ điểm bắt chéo đến cực trên tuyến giáp; phân loại tỉ lệ các dạng theo hệ thống Cernea (Dạng 1, Dạng 2a, Dạng 2b).
- Thần kinh thanh quản quặt ngược (TKTQQN): Nguyên ủy tách từ TK X, đường đi trong rãnh khí quản - thực quản, số lượng nhánh tận trước khi chui vào thanh quản; mối liên quan không gian với ĐMGD (TKTQQN đi trước ĐM, đi sau ĐM, hoặc đi xen giữa các nhánh tận của ĐMGD) và tính đối xứng giữa hai bên cổ trên cùng một thi thể.
Chương 4: BÀN LUẬN
Chương 4 tập trung phân tích, so sánh các phát hiện giải phẫu trên người Việt Nam với y văn quốc tế:
- So sánh mạch máu: Phân tích sự khác biệt về tỉ lệ nguyên ủy ĐMGT giữa người Việt Nam với các nghiên cứu của Won (Hàn Quốc), Shivaleela (Ấn Độ), Joshi, Gupta, Lucev, Ozgur; lý giải sự biến thiên do yếu tố nhân chủng học. Bàn luận về nguy cơ chảy máu từ TMGD và ĐM giáp dưới cùng trong phẫu thuật mở khí quản cấp cứu.
- So sánh thần kinh và liên quan giải phẫu: Đối chiếu tỉ lệ phân bố các dạng NNTKTQT theo phân loại Cernea, phân tích mức độ nguy hiểm của dạng 2b trong các thì phẫu thuật giải phóng cực trên tuyến giáp. Đánh giá mối liên quan giữa TKTQQN và ĐMGD, so sánh sự bất đối xứng hai bên cổ với kết quả của Campos và Joshi.
- Ứng dụng phẫu thuật: Đưa ra các khuyến cáo ngoại khoa cụ thể nhằm bảo tồn NNTKTQT trong tam giác Joll/khoang Reeves, kiểm soát tĩnh mạch giáp giữa để tránh rách TM cảnh trong, và phẫu tích an toàn TKTQQN tại vùng dây chằng Berry.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt dữ liệu khoa học: Luận án cung cấp hệ thống số liệu nhân trắc giải phẫu hoàn chỉnh, khách quan và chi tiết đầu tiên về kích thước, nguyên ủy, phân nhánh và tương quan không gian của hệ thống động mạch, tĩnh mạch tuyến giáp và các dây thần kinh thanh quản chuyên biệt trên người Việt Nam trưởng thành.
- Xác định các dạng biến thể mạch máu và thần kinh: Luận án làm rõ tỉ lệ hiện diện của các cấu trúc không hằng định nhưng có nguy cơ gây tai biến ngoại khoa cao như Động mạch giáp dưới cùng, Tĩnh mạch giáp giữa (TM giáp thứ tư), các biến thể nguyên ủy của ĐMGT/ĐMGD, cũng như các dạng liên quan nguy cơ cao của NNTKTQT theo phân loại Cernea và TKTQQN với các nhánh ĐMGD.
- Đóng góp ứng dụng thực tiễn: Cung cấp cơ sở giải phẫu học định khu tin cậy phục vụ công tác giảng dạy y khoa, đồng thời cung cấp các mốc giải phẫu an toàn cho phẫu thuật viên ngoại khoa trong phẫu thuật tuyến giáp (mổ mở, mổ nội soi) và thủ thuật mở khí quản cấp cứu, góp phần làm giảm thiểu tỉ lệ biến chứng chảy máu và tổn thương giọng nói vĩnh viễn cho người bệnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu xác ướp (thi thể bảo quản bằng hóa chất giải phẫu), do đó các đặc tính về độ co giãn mô mềm, áp lực mạch máu và khẩu kính mạch có thể có sự khác biệt nhất định so với cơ thể sống trong điều kiện phẫu thuật thực tế; cỡ mẫu nghiên cứu phụ thuộc vào số lượng thi thể hiến cho giải phẫu học.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối chứng hình thái giải phẫu trên phẫu trường lâm sàng sống thông qua phẫu thuật nội soi tuyến giáp; kết hợp ứng dụng hệ thống giám sát điện sinh lý thần kinh trong mổ (Intraoperative Neuromonitoring - IONM) để đối chiếu chức năng với giải phẫu; ứng dụng chẩn đoán hình ảnh mạch máu (siêu âm Doppler màu, chụp cắt lớp vi tính đa dãy) để đánh giá trước mổ các biến thể mạch máu tuyến giáp.
Giá trị tham khảo
- Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Giải phẫu người, Phẫu thuật đầu cổ: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên khảo chuẩn mực, cung cấp số liệu nhân trắc học giải phẫu người Việt Nam phục vụ công tác biên soạn giáo trình và bài giảng y khoa.
- Bác sĩ phẫu thuật Ngoại Tai Mũi Họng, Ngoại Ung Bướu, Ngoại Lồng ngực - Tuyến giáp: Nắm vững các mốc giải phẫu định khu quan trọng (tam giác Joll, khoang Reeves, dây chằng Berry, rãnh khí - thực quản), nhận diện các dạng liên quan nguy cơ cao giữa NNTKTQT với ĐMGT và TKTQQN với ĐMGD để phẫu tích an toàn trong cắt tuyến giáp bán phần, gần toàn phần hoặc toàn phần.
- Bác sĩ Hồi sức cấp cứu và Ngoại tổng quát: Tham khảo đặc điểm phân bố của đám rối tĩnh mạch giáp dưới và động mạch giáp dưới cùng để phòng ngừa tai biến chảy máu nghiêm trọng khi tiến hành thủ thuật mở khí quản cấp cứu ra da.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án ghi nhận những biến chứng ngoại khoa nghiêm trọng nào thường gặp trong phẫu thuật tuyến giáp?
Hai biến chứng hay gặp nhất là biến chứng chảy máu sau mổ (chiếm tỉ lệ khoảng 1% - 1,1%) và tổn thương thần kinh thanh quản ảnh hưởng đến dây thanh âm gây khàn tiếng hoặc mất giọng (tỉ lệ 3% - 8%, trong đó 0,3% - 3% là tổn thương vĩnh viễn không hồi phục). Ngoài ra, thủ thuật mở khí quản cấp cứu có tỉ lệ chảy máu sau mổ lên tới 4,8%.
2. Động mạch giáp trên có thể có những dạng nguyên ủy nào?
Theo y văn và các khảo sát giải phẫu, ĐMGT có nguyên ủy rất thay đổi, có thể xuất phát từ: (1) Mặt trước Động mạch cảnh ngoài; (2) Ngay tại chỗ phân chia (chỗ chẽ đôi) của Động mạch cảnh chung; hoặc (3) Trực tiếp từ thân Động mạch cảnh chung.
3. Phân loại Cernea về tương quan giữa nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên (NNTKTQT) và động mạch giáp trên gồm những dạng nào?
Phân loại Cernea (1992) dựa trên khoảng cách từ điểm bắt chéo giữa NNTKTQT và ĐMGT so với mặt phẳng ngang đi qua cực trên tuyến giáp:
- Dạng 1: Điểm bắt chéo nằm phía trên mặt phẳng cực trên tuyến giáp trên 1 cm.
- Dạng 2a: Điểm bắt chéo nằm cách mặt phẳng cực trên từ 0 đến 1 cm.
- Dạng 2b: Thần kinh đi võng xuống dưới mặt phẳng cực trên tuyến giáp trước khi đi vào cơ nhẫn giáp (dạng có nguy cơ tổn thương ngoại khoa cao nhất, từ 14% - 54%).
4. Ba vị trí giải phẫu nào trên đường đi của thần kinh thanh quản quặt ngược (TKTQQN) có nguy cơ tổn thương cao nhất trong mổ tuyến giáp?
Ba vị trí hay bị tổn thương nhất được xác định gồm:
- Vùng dây chằng Berry (nơi TKTQQN chuẩn bị đi vào thanh quản).
- Vùng bắt chéo và tiếp xúc với các nhánh của Động mạch giáp dưới khi thắt mạch máu.
- Vùng lỗ trên lồng ngực (nơi TKTQQN bắt đầu đi vào nền cổ).
5. Động mạch giáp dưới cùng (ĐM Neubauer) có đặc điểm và vai trò giải phẫu gì?
ĐM giáp dưới cùng là một động mạch không hằng định (xuất hiện trong khoảng 10% các trường hợp), được Johann E. Neubauer mô tả năm 1772. Động mạch này thường xuất phát từ thân cánh tay đầu, cung ĐM chủ hoặc ĐM cảnh chung, chạy thẳng lên phía trước khí quản để cấp máu bù trừ cho vùng eo hoặc cực dưới tuyến giáp, đặc biệt khi có sự khiếm khuyết của ĐM giáp dưới.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Y học "Nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành" là công trình nghiên cứu hình thái học phẫu tích chuyên sâu thuộc chuyên ngành Giải phẫu người tại Đại học Y Dược TP.HCM. Luận án đã mô tả chi tiết các thông số nhân trắc học, nguyên ủy, phân nhánh và mối tương quan không gian phức tạp của hệ thống động - tĩnh mạch tuyến giáp và các nhánh thần kinh thanh quản (NNTKTQT, TKTQQN). Kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung dữ liệu giải phẫu học cơ bản mang tính đặc thù cho người Việt Nam mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các phẫu thuật viên nâng cao độ an toàn, hạn chế tối đa tai biến chảy máu và liệt dây thanh trong phẫu thuật đầu cổ.