MỞ ĐẦU Tính cấp thiết Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Từ việc xác định con người là chủ thể của sự phát triển đòi hỏi nền giáo dục phải đổi mới nhận thức với mục tiêu thay đổi từ “học để biết” sang nhấn mạnh “học để làm”, “học để tồn tại và chung sống”, có nghĩa là “khuyến khích sự phát triển đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi con người” vì lợi ích của bản thân, vì tương lai của dân tộc. GDĐT nhằm xây dựng nguồn lực con người thành động lực cho sự phát triển bền vững [5]. Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" đã nêu “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học; Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Trong Nghị quyết 29-NQ/TW cũng chỉ ra định hướng: “Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học.
Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ 2 đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” [4]. Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục là định hướng đúng đắn để ngành Giáo dục đào tạo nói chung, trong đó có các Trường Đại học và các Khoa của các nhà trường nói riêng xây dựng chiến lược, tầm nhìn và kế hoạch phát triển trong tình hình mới. Ngoài ra, cũng tại Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 đã nêu rõ mục tiêu: “Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường CSVC, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT; đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh, SV đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ CSVC thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyện của nhân dân; …” [2].
Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, ngành TDTT đã đề ra 6 nhiệm vụ và giải pháp lớn, trong đó đề cập tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả GDTC và hoạt động thể thao. TDTT trường học là bộ phận quan trọng của phong trào TDTT, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, SV, cần được quan tâm đầu tư đúng mức. Vì vậy, việc đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của học sinh, SV. Qua phân tích các quan điểm của Đảng và Nhà nước về Giáo dục nói chung và Giáo dục thể chất, thể thao trường học nói riêng cho thấy các Khoa Giáo dục thể chất của các Trường Đại học cần có các chiến lược, tầm nhìn, giải pháp và kế hoạch để nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng các mục tiêu, sứ mạng của các Trường Đại học nói chung và nhu cầu của người học nói riêng.
Do vậy, việc nâng 3 cao hiệu quả hoạt động của Khoa giữa vai trò rất quan trọng để thực hiện được các mục tiêu đề ra. Qua nghiên cứu cho thấy, trong các trường đại học có nhiều Khoa khác nhau. Song đều có những quy định chung về chức năng nhiệm vụ và hoạt động theo Điều 15 và Điều 16 tại Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Điều lệ trường ĐH [53]). Tùy vào đặc thù của từng Khoa, mà mỗi Khoa có thể bổ sung thêm các mục tiêu, định hướng trong việc phát triển Khoa.
Đối với Khoa Giáo dục thể chất, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Khoa cần bám sát các chức năng, nhiệm vụ của một Khoa đào tạo, song cũng cần dựa trên đặc thù của hoạt động đào tạo trong lĩnh vực TDTT. Từ đó có những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đáp ứng công tác giáo dục thể chất, tạo ra phong trào TDTT để rèn luyện thân thể cho sinh viên, đào tạo đội ngũ cán bộ TDTT có chất lượng. Nghệ An là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, là địa phương có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, giàu truyền thống cách mạng và tinh thần hiếu học. Trong đó, Thành phố Vinh là đô thị loại 1, là trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh và khu vực Bắc Trung bộ; Hiện nay Thành phố Vinh đang được Đảng và nhà nước chỉ đạo đầu tư phát triển mạnh mẽ về mọi mặt để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Chiến lược phát triển về số lượng và nâng tầm chất lượng của các trường ĐH trên địa bàn thành phố là một phần trong việc phát triển Thành phố Vinh nói chung. Thành phố Vinh có 5 trường ĐH đó là: Trường ĐH Vinh, Trường ĐH sư phạm Kỹ thuật Vinh, Trường ĐH Y khoa Vinh, Trường ĐH Công Nghiệp Vinh, Trường ĐH Kinh tế Nghệ An. Trường ĐH Vinh là cơ sở giáo dục ĐH đa ngành, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao; là trung tâm nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Trường ĐH Vinh là trường ĐH trọng điểm quốc gia, là thành viên của Mạng lưới các trường ĐH Đông Nam Á.
Ngày 16 tháng 7 năm 1959, Bộ trưởng Bộ Giáo 4 dục ký Nghị định số: 375/NĐ thành lập Phân hiệu ĐH Sư phạm Vinh [8]. Ngày 28 tháng 8 năm 1962, Bộ trưởng Bộ Giáo dục ký Quyết định số: 637/QĐ đổi tên Phân hiệu ĐH Sư phạm Vinh thành Trường ĐH Sư phạm Vinh [9]. Ngày 25 tháng 4 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ kí Quyết định số: 62/2001/QĐ-TTg đổi tên Trường ĐH Sư phạm Vinh thành Trường ĐH Vinh [45]. Ngày 11 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn số: 1136/TTg-KGVX về việc bổ sung Trường ĐH Vinh vào danh sách xây dựng thành trường ĐH trọng điểm [50].
Hiện nay, Nhà trường đang quyết tâm thực hiện tuyên bố sứ mạng: Trường ĐH Vinh là cơ sở giáo dục ĐH đa ngành, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao; là trung tâm nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ với tầm nhìn: Trường ĐH Vinh là trường ĐH trọng điểm quốc gia, là thành viên của Mạng lưới các trường ĐH Đông Nam Á. Năm học 2016 - 2017, Trường có 50 ngành đào tạo ĐH, 35 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, 15 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ. Nhà trường có Trường THPT Chuyên với 6 môn chuyên, Trường TH Sư phạm với 4 cấp học chất lượng cao với quy mô gần 48.000 học sinh, SV, học viên đến từ 54 tỉnh, thành trong cả nước. Ngoài ra, Trường còn liên kết với các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước đào tạo các trình độ ĐH và sau ĐH nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước.
Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên của Trường ĐH Vinh không ngừng lớn mạnh. Nhà trường đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ với hơn hơn 1.000 người; trong đó có 62 giáo sư, phó giáo sư, hơn 200 tiến sĩ, gần 500 thạc sĩ. Ngoài ra, còn có hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia đào tạo ĐH và sau ĐH tại Trường ĐH Vinh. Chương trình giáo dục của Trường ĐH Vinh được xây dựng trên cơ sở chương trình khung của Bộ GD&ĐT, tiếp thu kinh nghiệm các chương trình tiên tiến trên thế giới, đáp ứng nhu cầu xã hội, đảm bảo tính linh hoạt, liên thông.
5 Trong quá trình xây dựng và phát triển, ở mỗi giai đoạn, Nhà trường đều xây dựng chương trình và phương thức đào tạo phù hợp. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã nêu: "Đào tạo theo học chế tín chỉ là một bước đi quan trọng trong lộ trình đổi mới giáo dục ĐH giai đoạn 2006-2020" [46]. Trường ĐH Vinh đã và đang tiến hành tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ theo quy định của Bộ GD&ĐT đề ra đối với tất cả các bậc học, loại hình đào tạo. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Trường lần thứ XXXI với tinh thần "Nuôi dưỡng say mê - Khuyến khích sáng tạo - Tôn trọng khác biệt - Thúc đẩy hợp tác", xây dựng Trường ĐH Vinh là thành viên của mạng lưới các trường ĐH Đông Nam Á, là thành viên của hiệp hội CDIO quốc tế, Nhà trường xây dựng và phát triển chương trình đào tạo tiếp cận CDIO (triển khai áp dụng từ khóa tuyển sinh năm 2018).
Khoa GDTC của Trường ĐH Vinh được thành lập ngay từ những ngày đầu thành lập trường.