Chương 1 TONG QUAN NGHIEN CUU 1. Nghiên cứu ở trên thế giới Hệ thực vật ở trên thế giới vô cùng đa dạng và phong phú trong đó thực vật hạt kín là nhóm đa dạng nhất với khoảng 250. Trong đó họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật rất phong phú với 750 chỉ và khoảng 20.Takhtajan (1987), chiếm vị trí thứ 2 sau họ Cúc (Asteraceae) trong ngành thực vật hạt kín'(Magnoliophyta) và là họ lớn nhất trong lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida): Chính vì vậy đã làm cho đặc điểm hình thái cũng như hệ thống phân loại của họ này hết sức đa đạng và phức tạp.[19] i b c Theo nghiên cứu của R. Pressler (1981) về Phong lan ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ có khoảng 306 chỉ.và 8266 loài; vùng nhiệt đới Châu Á có tới 250 chỉ và 6800 loài.
Ở các vùng khác tuy. Số chỉ và loài ít hơn nhưng xuất hiện loài đặc hữu như Châu Phi, Malayxia. ` Cây Lan biết đến đầu tiên ở Trúng Hoa là Kiến lan, đó là Cymbidium ensijfonymum là một loài:bán dja lan,© châu Âu bắt đầu để ý đến Phong lan từ thế kỷ 18 sau Trung Quốc đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy giờ mà Phống lan đã đi khắp các miền của địa cầu, lúc đầu là Vanny sau đó đến Bạch Cập, Hạc cựnh rồi Kiến Lan, lan chính thức gia nhập vào ngành hoa cây cảnh trên thé giới 400 năm nay. hi ve họ Lan đã diễn ra từ rất sớm, cây Lan đầu tiên được thế giới biết đến Wao! nin 1731, tiếp đó năm 1750 lần đầu tiên Amabile đã khám phá ra lan HS điệp và sau này một nhà thực vật học người Hà Lan có tên là Blume đã định danh lại và lan Hồ điệp có tên khoa học là Phalaenpisis amabilis Blume và được dùng cho đến ngày nay.
Pñitzer (1982) Phong lan có hai loại thân, mà đa số đều thuộc loại sinh trưởng hợp trục. Thân này gồm một hệ thống với nhiều nhánh 3 lâu năm, với bộ phận nằm ngang bò trên giá thể hoặc ân sâu dưới lòng đất gọi là thân rễ và một phần trên mọc thăng là thân khí sinh.[7] Hầu hết họ Lan bao gồm những loài cây thân thảo, sống lâu năm, môi trường sống rất đa dạng, có thể sống bám vào cây, bám vào hốc đá, sống phụ sinh hoặc sống hội sinh, thân ngắn hoặc kéo dài, đôi khi phi nhánh, có thể mang lá hoặc không mang lá.[7,9] Các loài Phong lan đều là cây tự dưỡng đo a nó. phittiên đầy đủ hệ thống, lá mềm mại, lá mọc đơn hoặc xếp dày đặc ở 'gốc hay sip xếp x cách đều đặn trên thân. Hình dạng lá rất đa đạng từ loại lá thông, đài.
mềm, xanh bóng đậm hay nhạt hoặc hai màu khác nhau, mặt dưới màu Xanh đậm. Nhiều loài lan có màu hồng, nâu hồng và nổi trên mặt các đường vẽ trắng hoặc theo các đường gân rất đẹp nhất là các loài trong chỉ 4noectocbilus.[7] Hoa Phong lan có cấu trúc cơ bản của hoa mẫu 3 là kiểu hoa đặc trưng của lớp một lá mầm nhưng đã biến đổi rất nhiễu để hoa đối xứng qua một mặt phẳng. Hoa phong lan thuộc loại hoa lưỡng -lnh rất ít các loại đơn tính, tạp tính. ,/ Theo Metchikov (1903) đã coi sự thụ phần của Phong lan là một trong những mẫu mực kì lạtrong” hiện tượng hài hòa của tự nhiên.
Do đó cấu tạo của hoa Phong lan cực kì phức tạp. Quả Phong lan thuộc dang quả nang, khi nở nứt theo 3 - 6 đường nứt đọc, có dạng quả đài đài đ dang hinh trụ ngắn phìn to ở giữa. Quả chín tự nứt và mảnh ô bồn lại dính với nhau ở phía đỉnh và phía gốc, hạt nhỏ và nhiều nên trước đây |thường gọi là vi tử-[7] Khoa ọe nghiến cứu và phát triển ngành lan diễn ra mạnhở khắp nơi trên thế giới nhưng cho đến năm 1946 phương pháp gieo hạt không cộng sinh trong phòng thí nghiệm đã được Tiến sỹ S. Knudson người Mỹ nghiên cứu thành công thì ngành trồng Lan mới thực sự có chuyển biến rõ rệt.
Sau đó năm 1976 hai nhà khoa học thuộc trường Đại học Yoneo Sagawa là T. Shiji đã nghiên cứu thành công cấy cây bằng phương pháp mô phân sinh 3 đỉnh và mô phân sinh bên mở ra tương lai sáng cho việc trồng lan. Nhưng phải đến năm 1970 M. Vajrabhaya mới nuôi cấy mô thành công loài Lan đơn thân đầu tiên.
Việc đưa các loài Lan vào trồng rộng khắp với những phương pháp nhân giống tiên tiến để ngành trồng Lan phát triển thì quả là một công việc khó khăn, đỏi hỏi khoa học kỹ thuật cao và vốn đầu tư lớn. Chỉ Lan kim tuyến — 4noecrochiius là một chí thực.vật có hoa thuộc họ Lan — Orchidaceae với những đường gân trên phiến: lárat dadang và đẹp, trên thế giới có khoảng 50 loài phân bố ở các "Vũng địa lý khác nhau, từ vùng Himalaya đến Đông Nam Á, miền Nam Trung “Hoa, Úc, Papua New Guinea và một số hải đảo thuộc quần đảo Thái Bình. Phần lớn chúng là các thực vật sinh sống trên nền đất có kích thước nhỏ, tuy nhiên một vài loài sinh sống trên các bờ đá, với bộ lá màu xanh lục hoặc mang các màu sắc khác nhau có bề mặt mịn như nhung và mang một mạng lưới gân lá phức tạp. Cụm hoa ở ngọn trung tâm mang một vai hoa mọc chúc xuống đất và bao phủ bởi lông với một cánh môi rất lớn và nị bat.
Trang hoa cùng với đài hoa ở mặt lưng tạo thành một cấu. trúc giống như chiếc mũ trùm đầu. Mỗi hoa có hai nhụy và hai nhị. Trong chỉ Lan kim tuyến.
Anoectochilus, loài Lan kim tuyến - Anoectochilus setaceus, apm là loài điển hình nhất. Cái tén Anoectochilus setaceus Blume duge sử dụng lần đầu tiên năm 1790 bởi Carlron Blume, nhưng sau đó mãi đến năm 1825 nhà thực vật học người Hà Lan này mới định danh lại một số Lan trong đó có Lan kim tuyến. Loài Lan kifn thyển — Anoecfochilus calcareus Aver, 1996 đã được nhà thực vật học Giáo sư Leorid — Averagonov chuyên gia viện Hàn lâm khoa học Nga mô tả khoa học đầu tiên vào năm 1996 sau khi lấy mẫu ở khu vực núi đá vôi tỉnh Hòa Bình, Việt Nam. Lan Kim tuyến có tên khoa học là Anoectochilus setaceus Blume, 1825 đã được đưa vào nhiều sách đỏ của nhiều quốc gia như: Malaixia, Srilanca, 4 Việt Nam,.
loài có nguy cơ tuyệt chủng cao, cùng với một số loài khác như - Lan kim tuyến dé véi — Anoectochilus calcareus.[2,3] Theo các tài liệu nghiên cứu của Đài Loan thì Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume, 1825) la loai cây nổi tiếng quý giá được sử dụng rộng rãi trong nhân dân, các hiệu thuốc. Toàn bộ thân cây tươi hoặc khô được đun sôi lên với nước dùng đẻ chữa đau bên trong ngực và bụng ( Hu. 1971), trị cảm, cao huyết áp, rối loạn gan tì ( Kan. 1986), trị t ú đường, viêm thận ( Chiu và Chang.
1995), người ta thí nghiệm nhận thấy lan Kim tuyến chứa chất ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất bao ebm chức năng của hệ tim mach ( Mak et al.1990), chống viêm và chức năng bảo vệ gan (Lin et al. 1993), hơn nữa người ta còn phát hiện ra khả năng chống ung thư của loại thảo được này. Á Theo Tạp chí về Dược liệu và Sức khỏe cộng đồng — Cây thuốc quý số ra 93, tháng 10 năm 2007 có đẻ cập đến một số giá trị y học của loài lan Kim tuyến theo một số học giả như sau - Ông Tả Mộc Thuấn hoo giá người Trung Quốc khi nghiên cứu về Trung y công bố năm 1924 có viết Kim tuyến liên là một trong những cây thuốc quý trong dân gian được dùng để tăng cường sức khỏe, chủ trị bệnh phổi, có tác dụng bổ máu, giải nhiệt. - Ông Sơn Điều Kim Trị trong một tác phẩm công bố năm 1932 của mình có viết người đân tộc ciiền núi thường dùng Kim tuyến liên để trị đau ruột, đau bụng; sốt Cáo, đắp ởở bên ngoài những chỗ sưng.
| thao gia đình tư liệu Pháp của ông Trần Đào Thích có c dùng Kim tuyến sắc uống sẽ khỏi. - Sách Khoa Học Quốc Dược quyển 1 kỳ II năm 1958 của ông Tạ A Mộc và Trần Kiến Đào được đang tải trên tạp chí Đài Loan: “ Dân Gian Dược Dụng Thực Vật” có nói đến Kim tuyến liên như là một trong những thảo dược quý giá, giúp bỏ máu, dưỡng âm, chữa trĩ nóng phổi và nóng gan. - Trong báo cáo điều tra năm 1964 của mình ông Can Vĩ Tùng phát biểu: Kim tuyến liên là một vị thuốc hết sức quý giá trong các Đài Loan, nó có vị mát và ngọt, thanh nhiệt, thanh huyết, bỗ phôi, giải trừ u uất, thông trung khí, bồi dưỡng sức khỏe. - Theo Trung y sư Lâm Minh Quyền dược tính của Kim tuyến liên giống như cây Nhất điểm hoàng có công dụng: hạsốt, giải nhiệt, trừ u uất, ho khan, đau ngực, đau họng sắc uống với nước đường (4218] ` 1.
Nghiên cứu ở Việt Nam. ⁄/⁄v Việt Nam được coi là 1 trong 16 trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới giới động thực vật ở đây vô cùng đa dạng và phong phú, trong đó có họ Lan - Orchidaceae. Có lẽ người đầu tiên Khảo sát Về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro — nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, ong đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis” goi tén các cây lan trong cuộc hành trình đến Nam Việt Nam 1a Aerides, Phaius va Šarcopodium mà đã được Ben Tham va Hooker ghi lai trong cuốn “Genera plante rum” (1862 — 1883) (Nguyễn Hữu Huy, Phan Ngọc Cấp — 1995) [6], chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu được công bố đáng kể là F. /Gi ng Pain va A.
Gui Ilaumin mô tả 70 chỉ gồm 101 loài cho cả 3 nước.Đông Duong trong bài “Thực vật Đông Duong” (Flora Genera Indochine) do-H. Lecgnte chủ biên xuất bản từ những năm 1932 — 1934. `7 e ] Cho đến Bay. đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về nhiều loài trong họ Lan như Trần Hợp.
(EQN: sự đã bước đầu xác định trong Phong lan có 137 — 144 chỉ với trên800 loài, trong đó có nhiều loài mới trong hệ thống phân loại thực vật toàn cầu. Nhưng có lẽ con số này còn khác xa so với thực tế về sự đa dạng và phong phú của phong lan ở vùng nhiệt đới Việt Nam.