MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Gà Sao (Numida meleagris) đã được chứng minh là loài vật nuôi có thể mang lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới [96]. Thịt của cũng là đối tượng có tiềm năng thương mại hóa cao. Trước đó, Phillips và Ayensu (1991) cũng cho rằng gà Sao có thể nuôi theo mô hình công nghiệp giống như các giống gia cầm khác mặc dù tốc độ sinh trưởng của giống gà này tương đối chậm so với các giống gà nuôi lấy thịt khác [107].
Ở nhiều nơi trên thế giới, gà Sao được nuôi chủ yếu để lấy thịt và trứng. Thịt gà Sao có hương vị tương tự như thịt của các loài gia cầm hoang dã khác. Ngoài ra, thịt gà Sao có nhiều ưu điểm mà các giống gia cầm khác không có. Tỷ lệ thịt xẻ cao, trong thịt giàu acid béo thiết yếu, hàm lượng cholesterol thấp, hương vị thơm ngon [28][93].
Ở Việt Nam, gần đây gà Sao đã được chuyển giao nuôi rộng rãi ở nhiều địa phương, nhất là ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. G đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi [2]. Đặc biệt, gà Sao có nhiều ưu điểm như sức đề kháng cao, dễ nuôi, thích nghi với nhiều vùng sinh thái, có thể nuôi nhốt hoặc thả vườn [28]. Gà Sao mới được đưa vào nuôi với quy mô nhỏ ở Việt Nam, đây là giống gia cầm có tiềm năng di truyền tốt do có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn, khả năng chuyển hóa thức ăn tốt [28].
Gà Sao sẽ là một trong những giống tốt đóng góp cho ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam phát triển bền vững, đa dạng và phong phú [2]. Đồng bằng Sông Cửu Long có diện tích rộng lớn, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản phát triển. Do đó tạo ra một lượng lớn thức ăn và phụ phẩm nông nghiệp có thể nuôi gà. Năm 2012, toàn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đã đưa trên 4,1 triệu lượt ha đất vào trồng lúa đạt 24,6 triệu tấn 2 lúa/năm [3].
Như vậy ước tính có 2,46 triệu tấn cám gạo hàng năm (nếu tính 10 kg lúa nguyên liệu cho 1 kg cám gạo). Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam [26], năm 2011, Đồng bằng Sông Cửu Long đã đưa khoảng 5,14 nghìn ha mặt nước vào nuôi cá tra, sản lượng đạt trên 1,1 triệu tấn, nhiều nhất tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long. Theo Cục Chế biến thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2008) hàng năm nước ta xuất khẩu khoảng 1,2 triệu tấn cá tra, như vậy có 700 nghìn tấn phụ phế phẩm cá tra mỗi năm nếu tính 2,6 kg cá nguyên liệu cho 1 kg thành phẩm [8]. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch - đầu tư [5], năm 2011 V có khoảng 350 cơ sở sản xuất bia có trụ sở ở hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước và tiếp tục tăng về số lượng.
Trong số này, có hơn 20 nhà máy đạt công suất trên 20 triệu lít/năm, 15 nhà máy có công suất lớn hơn 15 triệu lít/năm, và có tới 268 cơ sở có năng lực sản xuất dưới 1 triệu lít/năm. , có hàng triệu tấn bã bia được sản xuất hàng năm. Ng các l phụ phẩm kể trên Đ S , mặc dù cây môn nước (Colocasia esculenta) rất phát triển. Tuy vậy nông dân thường chỉ thu hoạch củ, phần còn lại của cây (lá và thân cây) rất ít được sử dụng.
Một số nghiên cứu cho thấy giá trị dinh dưỡng của lá và thân cây môn nước có thể được sử dụng [64]. Như vậy, có thể thấy rằng tiềm năng nguồn thức ăn để chăn nuôi gà Sao ở Đồng bằng Sông Cửu Long rất lớn. Tuy nhiên, Đ S việc , “Nghiên cứu giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn trong chăn nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng ở Đồng bằng Sông Cửu Long”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định giá trị dinh dưỡng và khả năng thay thế của một số loại thức ăn ở Đồng bằng Sông Cửu Long trong chăn nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng,.
(1) So sánh khả năng sử dụng năng lượng trong thức ăn của gà Sao với một số giống gà khác được nuôi phổ biến hiện nay. (2) bột phụ phẩm cá tra. (3) Xác định khả năng thay thế bột cá nhạt bằng bột phụ phẩm cá tra trong khẩu phần nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng. (4) Xác định khả năng thay thế thức ăn hỗn hợp bằng bã bia trong khẩu phần nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng.
(5) Thăm dò khả năng sử dụng môn nước ủ chua trong khẩu phần nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU Thí nghiệm được thực hiện tại Phòng Nghiên cứu Gia cầm, Khoa Chăn nuôi - thú y, Trường Đại học Nông Lâm - , Quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 01 năm 2013. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. 1 THIỆU CHUNG VỀ GÀ SAO 1.1 Phân loại của gà Sao Gà Sao (Helmeted Guineafowl) thuộc lớp Aves, bộ Gallformes, họ Phasianidae, giống Numididae [28][93].
Gà Sao có tên khoa học là Numida meleagris, có nguồn gốc ở châu Phi [49][58][65] và được người Ai Cập cổ đại thuần hóa [58][103]. Chúng có trên 20 loại hình và màu lông [28]. Năm 1939 tại triển lãm gia cầm Quốc tế ở Cleveland, Ohio, 7 giống gà Sao đã được giới thiệu gồm gà Sao Cilla (hồng nhạt), Fulvette (màu lông bò), Bluette (xanh san hô), Bianca (màu trắng), Bzzurre (xanh da trời), Violette (đỏ tía) và Pearled (xám ngọc trai) [28]. Hiện nay gà Sao đã được thuần hóa và nuôi ở nhiều nơi trên thế giới.1: Một số giống gà Sao được nuôi phổ biến hiện nay Loài Tên phổ biến Phân bố N.
meleagris Gà Sao mũi hếch Hồ Char và Sudan N. sabyi Gà Sao cổ dài Morocco N. galeata Gà Sao xám ngực Cameroon, Senegal và Nigeria N. marungensis Gà Sao có mũ sừng DRC và Zambia N.
damarensis Gà Sao Namibian Namibia và Đông Botswana N. coronata Gà Sao có mũ sừng RSA Botswana N. mitrata Gà Sao Mitred Mozambique, Zimbabwe và Zambia N. reichnowi Gà Sao của Reichnowi Uganda, Kenya và Tanzania (DRC= Democratic Republic of Congo; RSA= Republic of South Africa); N.m: Numida meleagris) Nguồn: Moreki, (2006) [93] 1.2 Đặc điểm ngoại hình Gà Sao trưởng thành có bộ lông màu xám đen điểm những đốm tròn nhỏ màu trắng.
Đầu không có lông và mào nhưng có mũ sừng, mũ sừng này tăng 5 sinh qua các tuần tuổi, ở giai đoạn trưởng thành, mũ sừng cao khoảng 1,5 - 2 cm. Mào tích của gà Sao màu trắng hồng, thường có 2 loại là hình lá dẹt áp sát vào cổ và hình lá hoa đá rủ xuống [28]. Da mặt và cổ gà Sao không có lông, lớp da trần này có màu xanh da trời, dưới cổ có yếm thịt mỏng. Thân có hình thoi, lưng hơi gù, đuôi cúp xuống [28].
Lông đuôi ngắn và thường dốc xuống. Gà Sao con có ngoại hình giống chim cút con, lông có những sọc màu nâu đỏ chạy dài từ đầu đến cuối thân [28][106]. Mỏ và chân màu hồng, chân có 4 ngón và có 2 hàng vảy. Chân gà Sao khô, đặc biệt con trống không có cựa [28].
Một số loài có màu lông thay đổi tím hoàng gia, tím, đá, xanh, san hô, chocolate, trắng, da bò và xám ngọc trai [48]. a b c d Hình 1: (a) gà Sao mái; (b) gà sao trống (c) Lỗ huyệt gà Sao mái; (d) lỗ huyệt gà Sao trống Nguồn: Phùng Đức Tiến và cs. (2008) [30] Rất khó phân biệt giới tính vì con trống và con mái có ngoại hình khá giống nhau. Thông thường, có thể phân biệt giới tính của gà Sao khi được khoảng 2 tháng tuổi qua một số đặc điểm tiếng kêu, mũ sừng, tích và đầu.
6 Con trống 12 - 15 tuần tuổi có tích lớn, trong khi con mái phải đến 15 - 16 tuần tuổi mới có tích như con trống. Tích của gà trống thường có cạnh dày hơn những con mái [73]. Con trống trưởng thành có mũ sừng, tích lớn hơn con mái và đầu thô hơn. Tiếng kêu của con trống và con mái đều có âm tiết giống như “buckwheat, buck-wheat”, “put-rock, putrock” hoặc "quatrack, qua-track", nhưng con trống chỉ kêu được một tiếng.
Khi hưng phấn hay hoảng loạn cả con trống và con mái đều kêu 1 tiếng nhưng không bao giờ con trống kêu được 2 tiếng như con mái [62][93]. Để chính xác giới tính của gà Sao khi chọn giống thường phân biệt qua lỗ huyệt khi gà đến giai đoạn trưởng thành [28].3 Tập tính của gà Sao Trong tự nhiên gà Sao tìm kiếm thức ăn trên mặt đất, thức ăn chủ yếu là côn trùng và thực vật. Thông thường chúng di chuyển theo đàn khoảng 20 con. Về mùa đông, chúng tách ra sống từng đôi trống mái trong tổ.
Gà Sao mái có thể đẻ 20 - 30 trứng và làm ổ đẻ trên mặt đất, sau đó tự ấp trứng. Thời gian ấp nở khoảng 26 - 28 ngày [93]. Gà Sao mái nuôi con không giỏi và thường bỏ lạc đàn con khi dẫn con đi vào những đám cỏ cao. Vì vậy trong tự nhiên, tỷ lệ gà con sống đến khi trưởng thành chỉ đạt khoảng 25% [28].
Tỷ lệ trống mái trong đàn nuôi sinh sản 1 trống cho 4 - 5 mái [93]. Trong tự nhiên, gà Sao ăn nhiều loại thức ăn khác nhau nhưng quan trọng nhất là các hạt cỏ và các loại ngũ cốc. Một số loại thức ăn phổ biến cho gà Sao hạt ng cốc, cỏ, nhện, côn trùng, giun, động vật thân mềm và cả ếch. Một trong những nguồn thức ăn chính của gà Sao là côn trùng, việc sử dụng gà Sao để làm giảm các quần thể côn trùng trong vườn và xung quanh nhà đã trở nên phổ biến.
Đặc biệt, chúng không cào bới đất làm thiệt hại đến hoa màu trong vườn. Để tiêu hóa thức ăn tốt hơn, chúng thường ăn thêm sỏi. Ở một số trang trại ở châu Phi, gà Sao được dùng như con vật trông coi trang trại, vì chúng có tầm nhìn tốt, tiếng kêu lớn khi có tiếng động hoặc kẻ lạ xâm nhập 7 [86][107]. Ngoài ra, chúng cũng được sử dụng để kiểm soát rắn, chuột, bắt ve cho hươu nhằm phòng bệnh Lyme, diệt sâu bọ và cỏ dại [59].
Gà Sao có tính bầy đàn cao và rất nhạy cảm với các tiếng động như mưa, gió, sấm, chớp, tiếng rơi vỡ của đồ vật. Đặc biệt, gà Sao nhỏ rất sợ tối, những lúc tối trời chúng thường nằm chồng lên nhau đến khi có ánh sáng gà mới trở lại hoạt động bình thường. Chính vì vậy, trong quá trình nuôi gà cần hết sức chú ý để tránh những tác động bất lợi có thể xảy ra [28].