Tổng quan luận án
Công trình khoa học "Nghiên cứu giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn trong chăn nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng ở Đồng bằng Sông Cửu Long" được nghiên cứu sinh Phạm Tấn Nhã thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cán bộ hướng dẫn 1 là Hồ Trung Thông và cán bộ hướng dẫn 2 là Nguyễn Thị Kim Đông, bảo vệ tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế vào năm 2014, chuyên ngành Chăn nuôi (mã số 62.05).
Về tính cấp thiết, gà Sao (Numida meleagris) là loài gia cầm có tiềm năng thương mại cao nhờ thịt thơm ngon, tỷ lệ thịt xẻ cao, hàm lượng cholesterol thấp và giàu các acid béo thiết yếu. Loài gia cầm này có sức đề kháng cao, thích nghi tốt với nhiều vùng sinh thái, có thể nuôi nhốt hoặc thả vườn và chịu đựng tốt các điều kiện thức ăn kham khổ. Tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, điều kiện tự nhiên tạo ra nguồn thức ăn và phụ phẩm nông nghiệp - thủy sản dồi dào: sản lượng lúa hàng năm đạt khoảng 24,6 triệu tấn (tương đương khoảng 2,46 triệu tấn cám gạo và tấm), lượng phụ phẩm từ chế biến cá tra xuất khẩu ước tính khoảng 700 nghìn tấn mỗi năm, cùng hàng triệu tấn bã bia từ các cơ sở sản xuất bia và nguồn sinh khối cây môn nước (Colocasia esculenta) mọc hoang dã phong phú. Tuy nhiên, việc ứng dụng các nguồn phụ phẩm này vào khẩu phần ăn của gà Sao giai đoạn sinh trưởng chưa được đánh giá đầy đủ về mặt giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($ME_N$), tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất cũng như tỷ lệ thay thế tối ưu trong khẩu phần ăn thực tế.
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định giá trị dinh dưỡng và khả năng thay thế của một số loại thức ăn ở Đồng bằng Sông Cửu Long trong chăn nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng. Để đạt được mục tiêu này, luận án đề ra 5 mục tiêu cụ thể được đánh số theo văn bản:
- So sánh khả năng sử dụng năng lượng trong thức ăn của gà Sao với một số giống gà khác được nuôi phổ biến hiện nay.
- Xác định giá trị năng lượng trao đổi và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của một số loại thức ăn phổ biến ở Đồng bằng Sông Cửu Long cho gà Sao giai đoạn sinh trưởng.
- Xác định khả năng thay thế bột cá nhạt bằng bột phụ phẩm cá tra trong khẩu phần nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng.
- Xác định khả năng thay thế thức ăn hỗn hợp bằng bã bia trong khẩu phần nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng.
- Thăm dò khả năng sử dụng môn nước ủ chua trong khẩu phần nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là gà Sao giai đoạn sinh trưởng (từ 5 đến 13 tuần tuổi, trong đó Thí nghiệm 1 so sánh với gà Lương Phượng và gà Cobb 500 ở 5 tuần tuổi; Thí nghiệm 2 thực hiện trên gà Sao 35 - 42 ngày tuổi; Thí nghiệm 3 trên gà Sao 5 - 13 tuần tuổi; Thí nghiệm 4 trên gà Sao nuôi thịt; Thí nghiệm 5 trên gà Sao 6 - 13 tuần tuổi). Các loại nguyên liệu thức ăn và phụ phẩm gồm: bột phụ phẩm cá tra, bã bia, cám gạo, cám trích ly, tấm gạo và môn nước ủ chua. Thí nghiệm được thực hiện tại Phòng Nghiên cứu Gia cầm, Khoa Chăn nuôi - Thú y, địa điểm đặt tại Quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ, trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 01 năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước liên quan đến gà Sao cùng các nguồn thức ăn phụ phẩm:
Về tình hình nghiên cứu trên thế giới, các tác giả Moreki (2006) và Phillips và Ayensu (1991) đã mô tả nguồn gốc châu Phi của gà Sao và khả năng nuôi thâm canh theo quy mô công nghiệp. Hughes (1980) nghiên cứu về tốc độ sinh trưởng của gà Sao lúc 12 tuần tuổi đạt khoảng 76,8 - 76,9% khối lượng trưởng thành. Batty (2009) theo dõi tăng khối lượng, lượng ăn vào và hệ số chuyển hóa thức ăn ($FCR$) của gà Sao từ 0 đến 13 tuần tuổi (FCR tích lũy đạt 3,39). Agwunobi và Ekpenyong (1990, 1991) so sánh khả năng sản xuất của gà Sao với gà thịt khác, chỉ ra thịt gà Sao có hàm lượng protein, canxi và phospho cao hơn nhưng mỡ thấp hơn ($P < 0,05$), đồng thời đề xuất mức dinh dưỡng tối ưu giai đoạn khởi đầu là 22% protein thô ($CP$) và 12,6 MJ $ME$/kg thức ăn. Viện Nghiên cứu Katki, Hungary (2002) công bố khối lượng cơ thể gà Sao 12 tuần tuổi đạt 1209 - 1570 g/con, tiêu tốn thức ăn từ 2,6 - 2,8 kg/kg tăng trọng. Viện INRA Pháp (1989) khuyến cáo nhu cầu $ME$ từ 2800 - 2900 kcal/kg, $CP$ từ 12 - 20% cùng các chỉ tiêu acid amin và khoáng qua các giai đoạn. Tewe (1983), Leeson và Summers (1997), Ikani và Dafwang (2004), Fani và cs. (2004), Tunde (2006), Miloud và cs. (2010) cung cấp các thông số chi tiết về nhu cầu năng lượng, protein, acid amin, khoáng và các chỉ tiêu sinh sản.
Ở trong nước, gà Sao được Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương nhập từ Hungary năm 2002 gồm 3 dòng: dòng lớn, dòng trung và dòng nhỏ. Phùng Đức Tiến và cs. (2006, 2008) đã công bố các kết quả nghiên cứu toàn diện về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng, năng suất thịt và sinh sản qua 3 thế hệ chọn lọc; lúc 12 tuần tuổi dòng lớn đạt 1880 - 1891 g, dòng trung đạt 1380 - 1420 g, dòng nhỏ đạt 1368 - 1415 g, tỷ lệ mỡ bụng thấp (0,6 - 1,1%). Nguyễn Đức Hùng (2008) theo dõi gà Sao nuôi tại Thái Nguyên; Nguyễn Đình Thái (2009) đánh giá gà Sao tại Bình Định; Đoàn Xuân Trúc và cs. (2008) ghi nhận tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng giai đoạn 0 - 12 tuần là 2,64 kg; Đặng Hùng Cường (2011) nghiên cứu năng suất sinh sản tại Đồng bằng Sông Cửu Long.
Về các nguyên liệu thức ăn và phụ phẩm: Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001) gợi ý tỷ số $ME/CP$ cho gà; Du Thanh Hang và Preston (2010) chứng minh việc ủ chua thân lá cây môn nước với 3% rỉ mật giúp giảm hàm lượng oxalate 50% (từ 760 mg/100g xuống 350 mg/100g DM), hạn chế tính gây ngứa; Nguyen Thi Kim Dong (2005) ghi nhận bã bia có $CP$ 23 - 28% và có thể thay thế 50 - 75% thức ăn hỗn hợp trong khẩu phần ngan sinh trưởng; Nguyễn Thanh Vũ (2005), Trần Thị Thúy Hằng (2010), Nguyen Thi Thuy và cs. (2007) xác định bột phụ phẩm cá tra có hàm lượng $CP$ trên 50%, có khả năng thay thế bột cá trong chăn nuôi vịt và gia cầm khác; Trương Nguyễn Như Huỳnh (2011), Nguyễn Hữu Lợi (2009), Tôn Thất Thịnh (2010), Nguyễn Thị Thùy Linh (2010, 2012) và Nguyễn Thanh Nhàn (2012) công bố thành phần dinh dưỡng của tấm, cám gạo, ngô và khô dầu đậu nành.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trong nước đã làm rõ tính thích nghi và năng suất của 3 dòng gà Sao nhập nội, nhưng các dữ liệu sinh học cơ bản về giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($ME_N$) và tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của các loại phụ phẩm nông nghiệp - thủy sản đặc thù tại Đồng bằng Sông Cửu Long (bột phụ phẩm cá tra, bã bia, cám gạo, cám trích ly, tấm, môn nước) trên gà Sao vẫn chưa được công bố. Việc sử dụng trực tiếp các số liệu năng lượng từ gà thịt chuyên dụng (như Ross, Cobb) để tính khẩu phần cho gà Sao có thể dẫn đến sai lệch do khác biệt về đặc tính tiêu hóa giữa các loài. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng phương pháp thực nghiệm biến dưỡng trực tiếp và thử nghiệm nuôi dưỡng thay thế trên gà Sao giai đoạn sinh trưởng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về cân bằng năng lượng và chuyển hóa dưỡng chất ở gia cầm. Do phân và nước tiểu của gia cầm được bài tiết đồng thời qua lỗ huyệt, giá trị năng lượng sinh học của thức ăn được đánh giá thông qua chỉ số năng lượng trao đổi ($ME$) và năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($ME_N$) để loại trừ ảnh hưởng của sự tích lũy hoặc thoái hóa protein mô bào. Nhu cầu dinh dưỡng của gà trong các thí nghiệm đối chứng được thiết lập theo khuyến cáo của NRC (1994), Viện Chăn nuôi - TCVN (1994, 2001) và INRA (1989).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm định lượng gồm hai nhóm phương pháp: phương pháp trao đổi chất trong lồng biến dưỡng và phương pháp nuôi dưỡng so sánh.
Hệ thống chuồng trại thí nghiệm được xây dựng kiểu hai mái, lợp tôn, lắp quạt thông gió. Chuồng lồng biến dưỡng bằng khung sắt, sàn và vách bằng lưới kẽm, kích thước mỗi ngăn 40 x 60 x 50 cm, đáy có khay inox hứng chất thải riêng biệt, máng ăn và máng uống bố trí bên ngoài.
Phương pháp xác định $ME$, $ME_N$ và tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất:
- Sử dụng phương pháp chỉ thị gián tiếp với chất chỉ thị là khoáng không tan trong acid chlorhydric (Acid Insoluble Ash - AIA) có bổ sung Celite với tỷ lệ 1,5% vào khẩu phần thức ăn để tăng nồng độ AIA.
- Thí nghiệm biến dưỡng tiến hành trong 7 ngày: 4 ngày đầu nuôi thích nghi chuồng lồng và khẩu phần, 3 ngày sau thu gom mẫu chất thải định kỳ 2 lần/ngày (lúc 8 giờ và 16 giờ). Mẫu chất thải từng ô được thu riêng, bảo quản ở nhiệt độ -20°C, sau đó rã đông, trộn đều mẫu gộp 3 ngày, sấy khô ở 60°C trong 24 giờ và nghiền qua sàng 0,5 mm để phân tích.
Phương pháp phân tích hóa học trong phòng thí nghiệm:
- Vật chất khô ($DM$): sấy ở 100 - 105°C đến khối lượng không đổi theo tiêu chuẩn TCVN 4326 - 86.
- Năng lượng tổng số ($GE$): phân tích bằng hệ thống Bomb calorimeter bán tự động PARR 6300.
- Hàm lượng Nitơ ($N$): xác định bằng phương pháp Kjeldahl trên thiết bị Kjeltex - 2200 (Foss Tecator), protein thô tính bằng $CP = N \times 6,25$.
- Hàm lượng khoáng không tan trong acid ($AIA$): xác định theo phương pháp của Vogtmann và cs. (1975), Keulen và Young (1977). Mẫu khô được thủy phân bằng dung dịch HCl 4N đun sôi 30 phút dưới ống sinh hàn, lọc qua giấy lọc không tro Whatman số 41, rửa sạch bằng nước nóng 85 - 100°C, khoáng hóa tro trong lò nung ở 650°C qua đêm, cân cốc tro và tính tỷ lệ $AIA = [(W_f - W_e) / W_s] \times 100$.
Các công thức tính toán chỉ tiêu năng lượng và tích lũy:
- Lượng nitơ tích lũy ($N_r$, g/kg thức ăn):
$$N_r = \left(N_d - N_e \times \frac{AIA_d}{AIA_e}\right) \times \frac{1000}{100}$$
- Năng lượng trao đổi của khẩu phần ($ME_d$, kcal/kg DM):
$$ME_d = GE_d - GE_e \times \frac{AIA_d}{AIA_e}$$
- Năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($ME_N$, kcal/kg DM):
$$ME_N = ME_d - 8,22 \times N_r$$
(với $N_d, N_e$ là hàm lượng nitơ trong khẩu phần và chất thải; $GE_d, GE_e$ là năng lượng tổng số; $AIA_d, AIA_e$ là tỷ lệ khoáng không tan trong khẩu phần và chất thải; hệ số 8,22 là đương lượng năng lượng của nitơ niệu theo Lammers và cs., 2008, Scott và Hall, 1998).
Phương pháp xử lý thống kê:
Số liệu được nhập và xử lý sơ bộ trên phần mềm Microsoft Excel 2007. Phân tích phương sai theo mô hình tuyến tính tổng quát (General Linear Model - GLM) trên phần mềm Minitab phiên bản 13 / 13.21. So sánh sự sai khác giữa các giá trị trung bình nghiệm thức bằng phép thử Tukey với mức ý nghĩa thống kê được xác định ở ngưỡng $P < 0,05$. Kết quả biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình cộng hoặc trừ sai số chuẩn ($\text{Mean} \pm \text{SE}$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu chuyên sâu về gà Sao cùng nguồn nguyên liệu thức ăn:
- Phân loại học: Gà Sao (Numida meleagris) thuộc bộ Galliformes, họ Phasianidae, giống Numididae, có nguồn gốc từ châu Phi, được phân loại thành nhiều phân loài như N. m. galeata, N. m. sabyi, N. m. meleagris, N. m. mitrata...
- Đặc điểm sinh học: Con trưởng thành có lông xám đen đốm trắng tròn, mấu sừng nhô cao 1,5 - 2 cm, mào tích trắng hồng dạng lá dẹt hoặc hoa đá rủ, da mặt xanh lơ, thân hình thoi, chân không cựa. Khó phân biệt trống mái ở giai đoạn non; khi trưởng thành phân biệt qua tiếng kêu (trống kêu một tiếng, mái kêu hai tiếng), độ dày của mào tích và kiểm tra lỗ huyệt.
- Tập tính và thích ứng: Gà Sao có tập tính sống bầy đàn cao, sợ bóng tối, hiếu động, bay giỏi (bay cao 6 - 12 m), thích tắm nắng rúc cát; khả năng đề kháng bệnh tốt, ít nhiễm các bệnh truyền nhiễm thường gặp ở gà như Marek, Gumboro hay Mycoplasmosis.
- Nhu cầu dinh dưỡng: Tổng hợp các khuyến cáo của INRA (1989), NRC (1994) và Leeson - Summers (1997) về mức $CP$ từ 20 - 25% (giai đoạn khởi động 0 - 4 tuần), 18 - 20% (giai đoạn sinh trưởng 5 - 8 tuần) và 15 - 18% (giai đoạn kết thúc), cùng các yêu cầu về năng lượng trao đổi $ME$ từ 2700 - 3200 kcal/kg.
- Nguồn phụ phẩm Đồng bằng Sông Cửu Long: Phân tích tiềm năng sản xuất của ngô, tấm lúa, cám gạo, khô dầu đậu nành, bột cá, môn nước, bã bia, bột phụ phẩm cá tra và rau muống. Đáng chú ý, các phương pháp xử lý lá và thân cây môn nước (sấy, nấu, ngâm, ủ chua) được điểm lại qua nghiên cứu của Du Thanh Hang và Preston (2010), chỉ ra phương pháp ủ chua với rỉ mật 3% giúp giảm oxalat từ 760 mg/100g xuống 350 mg/100g DM.
| Phương pháp xử lý môn nước |
Oxalate (mg/100g DM) |
DM (%) |
CP (%) |
CF (%) |
Ash (%) |
| Lá tươi |
760 |
13,7 |
25,3 |
11,4 |
10,5 |
| Phơi khô |
600 |
88,4 |
25,6 |
11,3 |
13,3 |
| Ngâm nước (3 giờ) |
570 |
17,2 |
25,6 |
11,5 |
10,5 |
| Nấu sôi (4 - 5 phút) |
360 |
9,60 |
25,6 |
11,3 |
10,4 |
| Ủ chua (với 3% rỉ mật) |
350 |
17,0 |
25,3 |
11,0 |
10,5 |
(Nguồn: Du Thanh Hang và Preston, 2010, trích dẫn trong Chương 1 của luận án)
Chương 2. Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp tổ chức và thiết kế của 5 thí nghiệm:
- Thí nghiệm 1: Xác định ảnh hưởng của giống gà đến giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($ME_N$). Bố trí 48 con gà 5 tuần tuổi thuộc 3 giống: Lương Phượng (645,75 g/con), Cobb 500 (654,56 g/con) và gà Sao (347,81 g/con). Thí nghiệm gồm 24 cũi trao đổi chất (2 con/cũi, tỷ lệ trống/mái 1/1, 8 lần lặp lại cho mỗi giống), sử dụng khẩu phần đối chứng chuẩn (20% CP, 3050 kcal ME/kg, bổ sung 1,5% Celite) để so sánh khả năng trao đổi năng lượng giữa các giống bằng phương pháp AIA.
| Thông số thí nghiệm 1 |
Gà Lương Phượng |
Gà Cobb 500 |
Gà Sao |
| Tuổi gà thí nghiệm |
5 tuần |
5 tuần |
5 tuần |
| Khối lượng gà ban đầu (g/con) |
$645,75^a \pm 1,00$ |
$654,56^a \pm 1,86$ |
$347,81^b \pm 0,74$ |
| Số lượng gà mỗi ô |
2 con |
2 con |
2 con |
| Tỷ lệ trống / mái |
1 / 1 |
1 / 1 |
1 / 1 |
| Số lần lặp lại (ô cũi) |
8 |
8 |
8 |
| Chế độ cho ăn |
Tự do |
Tự do |
Tự do |
| Phương pháp chỉ thị |
Gián tiếp (AIA) |
Gián tiếp (AIA) |
Gián tiếp (AIA) |
- Thí nghiệm 2: Xác định giá trị $ME$, $ME_N$ và tỷ lệ tiêu hóa toàn phần các chất dinh dưỡng của 5 loại thức ăn (bột phụ phẩm cá tra, bã bia, tấm gạo, cám gạo và cám trích ly) trên 60 con gà Sao 35 - 42 ngày tuổi (khối lượng trung bình 437 g/con) phân bố vào 30 lồng biến dưỡng, gồm khẩu phần cơ sở và các khẩu phần thử nghiệm kết hợp.
- Thí nghiệm 3: Đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế bột cá nhạt bằng bột phụ phẩm cá tra đến sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, chất lượng thịt và hiệu quả kinh tế của gà Sao giai đoạn 5 - 13 tuần tuổi theo 5 mức độ thay thế: 0% (BCT0), 25% (BCT25), 50% (BCT50), 75% (BCT75) và 100% (BCT100).
- Thí nghiệm 4: Đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế thức ăn hỗn hợp bằng các mức bã bia khác nhau trong khẩu phần đến lượng ăn vào, tăng khối lượng, $FCR$, hiệu quả kinh tế và phẩm chất thân thịt của gà Sao nuôi thịt qua hai phân kỳ (5 - 9 tuần tuổi và 10 - 13 tuần tuổi).
- Thí nghiệm 5: Thăm dò ảnh hưởng của khẩu phần kết hợp cám với môn nước ủ chua và bột phụ phẩm cá tra đến khả năng thu nhận thức ăn, tăng trọng và các chỉ tiêu thân thịt, nội tạng của gà Sao nuôi thịt từ 6 đến 13 tuần tuổi.
- Toàn bộ mẫu thức ăn và chất thải được phân tích theo các quy trình chuẩn (sấy khô, Bomb calorimeter, Kjeltex, khoáng hóa HCl) và xử lý thống kê bằng mô hình GLM trên phần mềm Minitab 13.
Chương 3. Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thu được từ 5 nội dung nghiên cứu:
- Ảnh hưởng của giống gà đến giá trị $ME_N$ (Thí nghiệm 1): Đánh giá sự sai biệt về mức tích lũy nitơ và giá trị $ME$, $ME_N$ của cùng một loại khẩu phần khi nuôi trên 3 đối tượng gà Lương Phượng, gà Cobb 500 và gà Sao (số liệu tại Bảng 3.1).
- Giá trị dinh dưỡng của 5 loại thức ăn Đồng bằng Sông Cửu Long (Thí nghiệm 2): Công bố bảng thành phần hóa học, năng lượng tổng số $GE$, giá trị $ME_N$ (Bảng 3.2 - 3.4) và tỷ lệ tiêu hóa toàn phần các dưỡng chất ($DM$, hữu cơ $OM$, $CP$, béo thô $EE$, xơ thô $CF$) của bột phụ phẩm cá tra, bã bia, cám gạo, cám trích ly và tấm gạo trên gà Sao (Bảng 3.5 - 3.6).
- Sinh trưởng của gà Sao khi thay thế bột cá bằng bột phụ phẩm cá tra (Thí nghiệm 3): Trình bày số liệu về lượng thức ăn thu nhận, $CP$ ăn vào, tăng khối lượng hàng ngày, hệ số chuyển hóa thức ăn $FCR$ qua các tuần tuổi từ 5 đến 13 tuần (Bảng 3.8, Đồ thị 3.1 - 3.6). Phân tích hiệu quả kinh tế (Bảng 3.9), các chỉ tiêu mổ khảo sát thân thịt gồm tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt đùi, thịt ức, tỷ lệ mỡ bụng (Bảng 3.10) và thành phần hóa sinh của thịt ức (Bảng 3.11).
- Hiệu quả của bã bia trong khẩu phần (Thí nghiệm 4): Số liệu tiêu thụ chất khô ($DM$), chất hữu cơ, protein thô và năng lượng ăn vào giai đoạn 5 - 9 tuần (Bảng 3.13), giai đoạn 10 - 13 tuần (Bảng 3.14) và toàn kỳ 5 - 13 tuần (Bảng 3.15). Đánh giá tăng khối lượng bình quân, khối lượng cuối kỳ, $FCR$ (Bảng 3.16), hạch toán kinh tế (Bảng 3.17), chỉ tiêu thân thịt, nội tạng (Bảng 3.18) và thành phần dinh dưỡng của thịt ức và thịt đùi gà Sao (Bảng 3.19).
- Sử dụng môn nước ủ chua kết hợp cám và phụ phẩm cá tra (Thí nghiệm 5): Báo cáo lượng thức ăn ăn vào (nguyên trạng và tính theo $DM$) qua các phân kỳ 6 - 9 tuần (Bảng 3.20) và 10 - 13 tuần (Bảng 3.21). Đánh giá tăng trọng hàng ngày, khối lượng xuất chuồng, $FCR$ giai đoạn 6 - 13 tuần tuổi (Bảng 3.22, Đồ thị 3.8 - 3.11), cùng các chỉ số phát triển thân thịt và các cơ quan nội tạng tiêu hóa (Bảng 3.23).
Chương 4. Kết luận và đề nghị
Chương này đúc kết toàn bộ các phát hiện khoa học từ 5 thí nghiệm:
- Kết luận: Tổng hợp các kết luận định lượng về sự khác biệt khả năng sử dụng năng lượng trao đổi giữa gà Sao và các giống gà ngoại nhập chuyên thịt; hệ thống hóa các chỉ số giá trị dinh dưỡng, $ME_N$ và tỷ lệ tiêu hóa của 5 loại thức ăn/phụ phẩm; khẳng định mức độ thay thế an toàn và có hiệu quả kinh tế của bột phụ phẩm cá tra (thay thế bột cá nhạt), bã bia (thay thế thức ăn hỗn hợp) và việc bổ sung môn nước ủ chua vào khẩu phần nuôi gà Sao thịt giai đoạn sinh trưởng.
- Đề nghị: Đưa ra các kiến nghị kỹ thuật cụ thể về tỷ lệ phối chế nguyên liệu phụ phẩm địa phương vào quy trình chăn nuôi gà Sao thịt tại các nông hộ và trang trại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, cùng các hướng nghiên cứu mở rộng trong giai đoạn tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt học thuật và lý luận:
- Luận án cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầu tiên về giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($ME_N$) và tỷ lệ tiêu hóa toàn phần các chất dinh dưỡng ($DM$, $OM$, $CP$, $EE$, $CF$) của 5 loại thức ăn và phụ phẩm phổ biến ở Đồng bằng Sông Cửu Long (bột phụ phẩm cá tra, bã bia, cám gạo, cám trích ly và tấm gạo) được xác định trực tiếp trên đối tượng gà Sao giai đoạn sinh trưởng.
- Làm rõ tính chất chuyển hóa năng lượng của giống gà Sao trong mối tương quan so sánh trực tiếp với hai giống gà phổ biến là gà Lương Phượng và gà Cobb 500 trong cùng điều kiện thức ăn và lồng biến dưỡng, cung cấp cơ sở khoa học để hiệu chỉnh các công thức thức ăn chuyên biệt cho gà Sao thay vì áp dụng rập khuôn tiêu chuẩn dinh dưỡng của gà thịt công nghiệp.
Về mặt thực tiễn và ứng dụng:
- Chứng minh khả năng thay thế hoàn toàn hoặc từng phần nguồn protein động vật đắt tiền (bột cá nhạt) bằng bột phụ phẩm cá tra trong khẩu phần thức ăn cho gà Sao sinh trưởng (5 - 13 tuần tuổi) mà không làm suy giảm tốc độ tăng khối lượng, chất lượng thịt xẻ và cải thiện hiệu quả kinh tế chăn nuôi.
- Xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng bã bia tươi thay thế một phần thức ăn hỗn hợp công nghiệp, tận dụng nguồn xơ dễ tiêu hóa và hàm lượng protein sẵn có để giảm chi phí thức ăn cho gà Sao nuôi thịt.
- Thăm dò và mở ra tiềm năng sử dụng cây môn nước ủ chua kết hợp với cám và phụ phẩm cá tra làm nguồn thức ăn địa phương rẻ tiền, góp phần đa dạng hóa khẩu phần và tận dụng nguồn sinh khối thực vật phong phú tại chỗ ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ tập trung vào gà Sao giai đoạn sinh trưởng nuôi thịt (chủ yếu từ 5 đến 13 tuần tuổi); chưa mở rộng khảo sát giá trị dinh dưỡng và năng lượng trao đổi ở giai đoạn gà con (0 - 4 tuần tuổi) cũng như giai đoạn hậu bị và gà sinh sản đẻ trứng.
- Các thí nghiệm trao đổi chất và nuôi dưỡng được tiến hành tập trung tại cơ sở thí nghiệm ở Quận Bình Thủy, Cần Thơ dưới phương thức nuôi chuồng lồng biến dưỡng hoặc chuồng nuôi thâm canh kiểm soát; chưa thực hiện mở rộng đánh giá trên các phương thức chăn nuôi bán chăn thả hoặc thả vườn quy mô nông hộ vốn là tập tính thích nghi tự nhiên của gà Sao.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cần tiếp tục nghiên cứu xác định nhu cầu acid amin tiêu hóa và giá trị năng lượng trao đổi của các nguồn phụ phẩm địa phương trên gà Sao ở các giai đoạn tuổi khác nhau (giai đoạn 0 - 4 tuần tuổi và giai đoạn sinh sản).
- Triển khai thử nghiệm các công thức khẩu phần phối trộn bột phụ phẩm cá tra, bã bia và môn nước ủ chua trong mô hình chăn nuôi gà Sao bán thâm canh và thả vườn quy mô trang trại tại các tiểu vùng sinh thái khác nhau của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long để hoàn thiện quy trình kỹ thuật chuyển giao sản xuất.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng trong ngành chăn nuôi và thú y:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi: Luận án cung cấp quy trình thực nghiệm chuẩn mực về phương pháp xác định năng lượng trao đổi ($ME, ME_N$) và tỷ lệ tiêu hóa bằng kỹ thuật chỉ thị gián tiếp với AIA (Acid Insoluble Ash) sử dụng Celite, kèm theo các công thức tính toán và quy trình phân tích hóa học trong phòng thí nghiệm.
- Đối với giảng viên và các viện nghiên cứu: Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu gốc về thành phần hóa học, năng lượng thô $GE$, năng lượng trao đổi $ME_N$ và tỷ lệ tiêu hóa của 5 loại thức ăn phụ phẩm Đồng bằng Sông Cửu Long trên gà Sao, phục vụ công tác giảng dạy dinh dưỡng gia cầm và xây dựng phần mềm tổ hợp khẩu phần.
- Đối với kỹ sư chăn nuôi, nhà máy chế biến thức ăn và người chăn nuôi gia cầm: Luận án đưa ra các tỷ lệ phối chế cụ thể của bột phụ phẩm cá tra, bã bia và kỹ thuật ủ chua môn nước giúp hạ giá thành sản xuất, tận dụng tối đa nguồn phụ phẩm thủy sản và công nghiệp chế biến sẵn có tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng phương pháp nào để xác định giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($ME_N$) của thức ăn trên gà Sao?
Luận án sử dụng phương pháp chỉ thị gián tiếp với chất chỉ thị là khoáng không tan trong acid chlorhydric ($AIA$). Khẩu phần thí nghiệm được bổ sung thêm 1,5% Celite để nâng cao nồng độ $AIA$. Thí nghiệm kéo dài 7 ngày (4 ngày nuôi thích nghi, 3 ngày thu gom chất thải vào 8 giờ và 16 giờ hàng ngày). Mẫu thức ăn và chất thải được phân tích các chỉ tiêu vật chất khô ($DM$), nitơ ($N$), năng lượng tổng số ($GE$) bằng máy Bomb calorimeter PARR 6300, và hàm lượng $AIA$ sau khi xử lý với dung dịch HCl 4N và nung ở 650°C. Sau đó, các giá trị nitơ tích lũy ($N_r$), $ME$ và $ME_N$ được tính toán theo công thức chuẩn của Lammers và cs. (2008).
2. Điểm đặc thù trong phân biệt giới tính của gà Sao so với gà thông thường được luận án ghi nhận là gì?
Theo tổng quan của luận án, gà Sao rất khó phân biệt trống mái ở giai đoạn non vì ngoại hình tương đồng. Khi được khoảng 2 tháng tuổi, có thể phân biệt qua tiếng kêu: cả con trống và con mái đều có âm tiết kiểu "buck-wheat" hoặc "put-rock", nhưng con trống chỉ phát ra 1 tiếng, trong khi con mái có thể kêu được 2 tiếng liên tiếp; con trống không bao giờ kêu được 2 tiếng. Ngoài ra, con trống 12 - 15 tuần tuổi có tích phát triển dày hơn và mấu sừng lớn hơn con mái, đầu thô hơn. Để phân biệt chính xác nhất khi chọn giống sinh sản, người nuôi phải kiểm tra cấu tạo lỗ huyệt khi gà trưởng thành.
3. Tại sao cây môn nước cần được xử lý ủ chua trước khi sử dụng làm thức ăn cho gia cầm theo số liệu luận án điểm lại?
Thân và lá cây môn nước (Colocasia esculenta) chứa nhiều canxi oxalat gây ngứa và khó chịu ở đường tiêu hóa. Luận án trích dẫn kết quả của Du Thanh Hang và Preston (2010) cho thấy cây tươi chứa hàm lượng oxalat lên tới 760 mg/100g DM. Qua các phương pháp xử lý, phương pháp ủ chua (băm nhỏ, trộn với 3% rỉ mật đường và ủ yếm khí kín trong 21 ngày) làm giảm hàm lượng oxalat xuống còn 350 mg/100g DM (giảm hơn 50%), tương đương phương pháp nấu sôi (360 mg/100g DM), qua đó giải quyết được tính gây ngứa, bảo tồn hàm lượng protein (25,3% CP) và cho phép gà tiêu thụ an toàn.
4. Những giống gà nào được đưa vào so sánh với gà Sao trong Thí nghiệm 1 và khối lượng khởi điểm của chúng là bao nhiêu?
Trong Thí nghiệm 1, gà Sao được đưa vào so sánh đối chứng với hai giống gà nuôi thịt phổ biến là gà Lương Phượng và gà Cobb 500. Thí nghiệm thực hiện ở 5 tuần tuổi với 48 con chia đều cho 3 giống (16 con/giống, bố trí 8 cũi lặp lại, mỗi cũi 2 con gồm 1 trống và 1 mái). Khối lượng bình quân ban đầu của các giống gà khi bước vào thí nghiệm là: gà Lương Phượng đạt $645,75 \pm 1,00$ g/con; gà Cobb 500 đạt $654,56 \pm 1,86$ g/con; gà Sao đạt $347,81 \pm 0,74$ g/con. Sự khác biệt khối lượng giữa gà Sao với hai giống gà thịt ngoại nhập có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$).
5. Những nguyên liệu thức ăn và phụ phẩm nào ở Đồng bằng Sông Cửu Long được khảo sát xác định giá trị dinh dưỡng và thử nghiệm nuôi dưỡng trong luận án?
Luận án đã khảo sát và đánh giá 6 nguồn nguyên liệu và phụ phẩm nông - thủy sản tại chỗ, gồm: bột phụ phẩm cá tra (chế biến từ đầu, xương, nội tạng cá tra sau phi lê), bã bia tươi (phụ phẩm từ nhà máy bia), cám gạo, cám trích ly (cám đã tách dầu), tấm gạo và cây môn nước ủ chua với rỉ mật.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Tấn Nhã là một công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về giá trị dinh dưỡng thức ăn trong chăn nuôi gà Sao sinh trưởng tại Đồng bằng Sông Cửu Long. Bằng việc ứng dụng phương pháp chỉ thị gián tiếp AIA trong lồng biến dưỡng và các thí nghiệm nuôi dưỡng so sánh, luận án đã xác định thành công giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($ME_N$), tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của 5 loại phụ phẩm phổ biến và mức độ sử dụng hiệu quả của bột phụ phẩm cá tra, bã bia và môn nước ủ chua. Kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học về đặc tính trao đổi năng lượng của gà Sao so với gà thịt chuyên dụng mà còn mang lại giải pháp thực tiễn có giá trị kinh tế cao, giúp người chăn nuôi chủ động nguồn thức ăn tại chỗ và giảm thiểu chi phí sản xuất tại địa phương.