Đặt vấn đề Chăn nuôi vịt ở nƣớc ta là một nghề truyền thống lâu đời gắn bó với nền sản xuất lúa nƣớc của nhân dân ta. Nƣớc ta có số lƣợng vịt xếp hàng thứ nhất Đông Nam Á, xếp hàng thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ. Vịt là loài dễ nuôi, có khả năng tận dụng phụ phế phẩm nông lâm ngƣ, các loại côn trùng thuỷ sinh để chuyển thành sản phẩm nhƣ thịt, trứng, lông phục vụ đời sống dân sinh. Từ những năm 1989 - 1990 của thế kỷ trƣớc một số giống vịt hƣớng thịt cao sản nƣớc ngoài đã nhập vào nƣớc ta và đƣợc nuôi rộng rãi ở nhiều vùng trong cả nƣớc, nhƣng trên thực tế sản lƣợng thịt vịt vẫn còn rất ít so với thịt gà.
Một trong các nguyên nhân làm cho chăn nuôi vịt chậm phát triển là do giống và thức ăn dinh dƣỡng chƣa hợp lý. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống nhằm xác định nhu cầu của chúng về các chất dinh dƣỡng trong điều kiện nuôi dƣỡng tại nƣớc ta. Vịt CV Super M. là giống vịt chuyên thịt cao sản, thích hợp với phƣơng thức nuôi chăn thả có kiểm soát và tập trung thâm canh (nuôi công nghiệp).
Hiện nay, ở các trang trại nuôi vịt thƣơng phẩm thì nuôi giống vịt này là rất phổ biến. Vịt CV Super M. có khả năng sinh trƣởng nhanh, thời gian nuôi đến khi xuất chuồng khoảng từ 7-10 tuần tuổi phụ thuộc vào hình thức nuôi. Tuy nhiên chăn nuôi vịt đạt năng suất cao là chƣa đủ mà thực phẩm phải có chất lƣợng tốt để thỏa mãn với nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao của con ngƣời.
Để thực hiện đƣợc điều đó thì việc nuôi dƣỡng hay tác động của thức ăn là rất lớn, ta phải xác định đƣợc nhu cầu dinh dƣỡng dành cho các lứa tuổi thì chăn nuôi vịt mới đạt đƣợc hiệu quả cao. Để có những cơ sở khoa học và thực tiễn khuyến cáo cho ngƣời chăn nuôi vịt thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức năng lượng trao đổi, protein và lysine khác nhau đến sức sản xuất của vịt CV Super M. nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung. Mục tiêu của đề tài Xác định đƣợc nhu cầu về: Năng lƣợng, Protein, và lysin cho vịt CV Super M.
nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đƣa ra đƣợc cơ sở khoa học cho việc xây dựng công thức thức ăn thích hợp cho vịt CV Super M. trong điều kiện chăn nuôi tập trung ở nƣớc ta. Góp phần đẩy mạnh sự phát triển chăn nuôi thuỷ cầm ở nƣớc ta.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VỊT 1.1 Nguồn gốc phân loại vịt, ngan Thuỷ cầm (Waterfowl) là nhóm chim thuộc bộ Anseriformes, họ Anatidae gồm một số loài: vịt (common ducks), ngan (moscovy ducks), vịt lai ngan (mula); ngỗng và thiên nga, trong đó vịt, ngan, ngỗng đƣợc thuần hoá từ lâu đời và đƣợc nuôi ở nhiều điều kiện sinh thái của nhiều nƣớc trên thế giới. Vịt nhà có nguồn gốc từ vịt trời đầu xanh (green headed Mallard Ducks Vịt trời hoang dã rất dễ thuần hoá và đƣợc thuần hoá độc lập ở nhiều nƣớc. Sự thuần hoá vịt đƣợc tiến hành bằng nhiều con đƣờng khác nhau, trong một thời gian dài và điều kiện môi trƣờng hết sức khác nhau, nên các giống vịt hiện nay có kích thƣớc, hình dáng và màu lông khác nhau.
Nơi thuần hoá vịt sớm nhất là vùng đông nam châu Á, hiện nay số lƣợng quần thể vịt ở vùng này chiếm 75 % tổng số vịt toàn cầu (Hetzel, 1985, [63]). Hiện nay số lƣợng các giống vịt rất lớn, có khoảng 50 giống, vịt nhà đƣợc chia ra làm 3 loại: - Vịt hƣớng trứng: mục đích để sản xuất trứng - Vịt hƣớng thịt: mục đích để sản xuất thịt - Vịt kiêm dụng (trứng - thịt và thịt - trứng): để sản xuất trứng và thịt. Các giống vịt chuyên thịt là các giống vịt cho năng xuất thịt cao, tỷ lệ thịt xẻ cao, tuổi thành thục muộn, khối lƣợng cơ thể lớn và thể hiện rõ cho loại hình chuyên thịt. Giống vịt chuyên thịt nổi tiếng hiện nay nhƣ vịt CV Super M.2 Đặc điểm và khả năng sản xuất của vịt CV Super M Vịt CV Super M.
(vịt Cherry Valley Super Meat): Là giống vịt chuyên thịt nổi tiếng có năng suất cao vào loại nhất thế giới hiện nay và đƣợc nhập vào Việt Nam tháng 11/1989. Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên lại tiếp tục nhập vịt CV Super M. ông bà theo dự án “Nghiên cứu phát triển chăn nuôi vịt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 VIE/86/2007” Đây là dự án do UNDP và FAO tài trợ. Giống vịt này bắt đầu đƣợc nuôi thích nghi, chọn lọc và nhân thuần ở trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên và Trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi thành phố Hồ Chí Minh, cả hai trung tâm này đều là đơn vị trực thuộc Viện chăn nuôi quốc gia.
Vịt CV Super M. có màu lông trắng tuyền; chân, mỏ có màu vàng; da vàng nhạt hoặc trắng; đầu cổ hơi thô, dài; lƣng phẳng và rộng; ngực sâu; chân vững chắc. Đặc điểm ngoại hình đặc trƣng rõ cho vịt hƣớng thịt. Vịt bố mẹ có tuổi đẻ là 25 tuần, năng suất trứng từ 180 - 220 quả/mái/67tuần tuổi.
Vịt thƣơng phẩm nuôi nhốt (nuôi công nghiệp) 56 ngày tuổi hoặc nuôi nhốt kết hợp với bán chăn thả (nuôi bán công nghiệp) 70 ngày tuổi đạt khối lƣợng khoảng 3 - 3,5 kg, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lƣợng là 2,6 - 2,8 kg. Tỷ lệ nuôi sống dòng ông, dòng bà, bố mẹ đều trên 90 %. Vịt có khối lƣợng lớn khả năng tự kiếm mồi kém, thiên về hƣớng nuôi nhốt hoặc nuôi nhốt kết hợp với chăn thả, vịt có thể nuôi trên khô không cần nƣớc bơi lội. Trong điều kiện nuôi dƣỡng và sản xuất ở Việt nam, vịt CV Super M.
đàn ông bà cũng phát triển và sản xuất gần sát với tiêu chuẩn của giống gốc, năng suất đẻ trứng và năng suất thịt cao hơn hẳn các giống vịt nuôi ở nƣớc ta trƣớc đây. Sản lƣợng trứng 40 tuần đẻ: Ông bà: 170 - 180 trứng/mái; bố mẹ: 180 - 200 trứng/mái. Vịt thƣơng phẩm nuôi ở Anh đạt 3 - 3,2 kg lúc 49 ngày tuổi, tiêu tốn 2,8 kg thức ăn cho 1 kg thịt hơi. Nuôi chăn thả tại Việt nam đạt 2,8 - 3 kg lúc 75 ngày tuổi ( Lƣơng Tất Nhợ, 1993 [16 ] và Nguyễn Thiện, 1993 [22]).
Các tác giả Nguyễn Công Quốc, Dƣơng Xuân Tuyển (1993) [19] và cộng tác viên đã nghiên cứu về khả năng thích nghi, nhân giống gốc vịt CV Super M. (ông, bà), đã cho kết quả về tỷ lệ nuôi sống dòng ông, dòng bà trung bình qua 3 thế hệ là rất cao: 94 - 97 %, tỷ lệ nuôi sống của thế hệ sau cao hơn ở các thế hệ trƣớc chứng tỏ rằng vịt CV Super M. là giống vịt có sức sống cao, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện, khí hậu và tập quán chăn nuôi ở nƣớc ta. Các tác giải trên đã đƣa ra thêm căn cứ cho việc kết luận chắc chắn về tính trạng sản xuất thịt của vịt CV Super M.
, tỷ lệ thân thịt bỏ nội tạng 79,36 %. Tỷ lệ thịt ức cộng đùi đạt 31,1 %. Tỷ lệ thịt rút xƣơng đạt 39,85 %. Nhƣ vậy, ta có thể kết luận rằng vịt CV Super M.
là giống vịt chuyên thịt cho năng suất thịt cao trên thế giới hiện nay. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www. ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ DINH DƢỠNG CỦA THỨC ĂN 1. Đánh giá giá trị năng lƣợng của thức ăn Trên thế giới, khoảng giữa thế kỷ 2 ở Mỹ và một số nƣớc khác đã dựa trên hệ thống năng lƣợng của Kellner để xây dựng hệ thống năng lƣợng thuần cho gia cầm, nhƣng hệ thống này có nhiều mặt hạn chế nên chỉ sau một thời gian ngắn chúng đã không đƣợc sử dụng trong sản xuất.
Ngày nay, tất cả các nƣớc đều thống nhất sử dụng hệ thống năng lƣợng trao đổi cho gia cầm. Ở Việt Nam, trƣớc năm 1978 chúng ta dùng đơn vị yến mạch. Một đơn vị yến mạch là 1 kg yến mạch có giá trị 1,414 Kcal NE. Sau đó chúng ta chuyển sang dùng hệ thống năng lƣợng trao đổi (Vũ Duy Giảng, 2001 [4]).
Phƣơng trình hồi quy của Nerhing (1973) đã đƣợc nhiều nƣớc sử dụng để tính nhu cầu năng lƣợng trao đổi cho gia cầm: ME (Kcal/ kg) = 4,26 X1 + 9,5 X2 +4,23 X3 +4,23 X4 Các hệ số 4,26; 9,5; 4,23 và 4,23 lần lƣợt là giá trị ME Kcal/ kg của các chất protein, chất béo, xơ và chất chiết không nitơ ở dạng tiêu hoá, tính theo g/ kg thức ăn. Để chính xác hơn ngƣời ta tính năng lƣợng trao đổi ở gia cầm theo hệ số hiệu chỉnh lƣợng nitơ tích luỹ hàng ngày trong cơ thể: MEC(Kcal/ kg) = ME – Ng tích luỹ trong cơ thể x 8,22 (Hill và Anderson, 1958) Để tìm nitơ thức ăn tích luỹ trong cơ thể gia cầm chúng ta dùng số liệu của Blum, 1988: Gia cầm trƣởng thành: Ntích luỹ = 0 Gia cầm đẻ và sinh trƣởng cuối kỳ: Ntích luỹ = 30 % Nthức ăn Gia cầm sinh trƣởng đầu kỳ: Ntích luỹ = 40 % Nthức ăn Để thuận tiện nƣớc ta chọn dùng một con số Ntích luỹ là 35 % cho tất cả các loại gia cầm (Vũ Duy Giảng, 2008 [5]). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Tuy hệ thống năng lƣợng thức ăn khá phức tạp, nhƣng hiện nay ở phần lớn các nƣớc ngƣời ta dùng năng lƣợng trao đổi để tính toán năng lƣợng thức ăn và biểu thị nhu cầu năng lƣợng cho gia cầm. Để thuận tiện ngƣời ta tính toán sẵn năng lƣợng trao đổi trong các loại thức ăn cho gia súc, gia cầm và xây dựng thành những bảng thành phần hoá học và giá trị dinh dƣỡng thức ăn gia súc, gia cầm.
Đánh giá giá trị dinh dƣỡng protein thức ăn Trong chăn nuôi gia cầm ngƣời ta xác định nhu cầu protein của vật nuôi theo protein thô và protein tiêu hoá. * Protein thô Protein thô của thức ăn đƣợc xác định bằng cách đo hàm lƣợng Nitơ (N) trong thức ăn nhân với hệ số 6,25 Protein thô = N x 6,25 Hàm lƣợng nitơ của protein bình quân là 16 %. Vì vậy, một chất hữu cơ nào đó chứa X gam nitơ thì lƣợng protein thô của chất hữu cơ đó là X.