mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam. Tài nguyên du lịch sinh thái Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và có giá trị văn hoá bản địa tổn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó. Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hoá bản địa đều được coi là tài nguyên du lịch sinh thái mà chỉ có các thành phân và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hoá bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra những sản phẩm du lịch sinh thái, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng, mới được xem là tài nguyên du lịch sinh thai. Điểm, cụm, khu, tuyến du lịch sinh thái - Điểm du lịch sinh thái Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị, vé mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ.
Trên bản đồ các vùng du lịch, người ta thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt, tuy nhiên trong thực tế dù có quy mô SVTH: Dương Thị Tưởng Trang II Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ts.Phạm Xuân Hậu rất nhỏ, điểm du lịch cũng chiếm một diện tích nhất định trong không gian, sự chênh lệch về diện tích giữa các điểm du lịch có thể tương đối lớn. Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch nào đó (tự nhiên văn hoá- lịch sử hay kinh tế- xã hội) hoặc một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch có thể chia làm hai loại: điểm tự nhiên và điểm chức nã ng. Khác với điểm du lịch thông thường, điểm du lịch sinh thái là nơi chứa đựng các tài nguyên du lịch sinh thái với các giá trị tự nhiên và giá trị nhân văn còn trong trạng thái nguyên thủy. - Cụm du lịch sinh thái Là đơn vị tổ chức lãnh thổ du lịch sinh thái, kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch sinh thái giống hay khác chức năng, thuận tiện đi lại cho du khách, có sức hấp dẫn lớn hơn điểm du lịch sinh thái.
Vì thế, khả năng lưu lại của du khách lâu hơn. Cum du lịch sinh thái tương đối đa dang loại hình du lịch sinh thái, dim bảo về an toàn du lịch sinh thai, - Khu du lịch sinh thái Là nơi có tài nguyên du lịch sinh thái với ưu thế nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dang của khách du lịch sinh thái, đem lại hiệu quả về kinh tế- xã hội và môi trường, - Tuyến du lịch sinh thái Là đơn vị tổ chức lãnh thổ du lịch sinh thái, Tuyến du lịch sinh thái là lộ trình nối các điểm, cụm, hay khu du lịch sinh thái khác nhau, thuận tiện về giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không. Đặc trưng cơ bản của tuyến du lịch sinh thái là phải có sức hấp dẫn cao để có thé giữ chân khách du lịch sinh thái trong thời gian lâu hơn (ít nhất từ 3 ngày trở lên) thoả mãn yêu cầu thưởng thức các giá trị tự nhiên và nhân văn của du khách. Khách du lịch sinh thái "Khách du lịch là người di du lịch hoặc kết hợp di du lịch, trừ trường hợp di học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến" (Pháp lệnh Du lịch Việt Nam 1999).
SVTH: Dương Thị Tưởng Trang 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ts.Phạm Xuân Hậu Khác với khách du lịch thông thường, khách du lịch sinh thái là những người quan tâm hơn cả đến các giá trị tự nhiên và giá trị nhân văn ở những khu vực thiên nhiên hoang dã. Những đặc điểm cơ bản của khách du lịch sinh thái là: - Khách du lich sinh thái thường là những ngừơi thích hoạt động ngoài thiên nhiên. Tỷ lệ khách nam, nữ là ngang nhau và đây thường là những khách du lịch có kinh nghiệm. - Khách du lịch sinh thái thường có thời gian đi du lịch đài hơn và mức chí tiêu/ngày nhiều hơn so với khách du lịch ít quan tâm đến thiên nhiên.
- Họ không đòi hỏi thức ăn hoặc nhà nghỉ cao cấp đầy đủ tiện nghi, mặc dù họ có khả năng chỉ trả cho các dịch vụ này. Điều này phản ánh nhận thức của họ rằng “các cơ sở vật chất mà họ sử dụng ít ảnh hưởng nhất đến môi trường tự nhiên ”. Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung, bao gồm: - Tính đa ngành: tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác để phục vụ du lịch (sự hấp dẫn vé cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hoá, cơ sở hạ tang và các dịch vụ kèm theo,. Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hoá,.
- Tinh đa thành phân: biểu hiện ở tính đa dạng trong thành khách du lịch, những người phục vụ du lịch, cộng déng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch. - Tính đa mục tiêu: biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử- văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hoá, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội. - Tính liên vùng: biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt đông du lịch tập trung với cường độ cao trong năm. Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại s VTH: Dương Thị Tưởng Trang 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ts.Pham Xuân Hậu hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa,.
(theo tính chất khí hậu) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí,. - Tính chỉ phí: biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch cứ không phải với mục tiêu kiếm tiền. - Tính xã hội hoá: biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã hội tham gia (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) vào hoạt động du lịch. Bên cạnh những đặc trưng của ngành du lịch nói chung, du lịch sinh thái cũng hàm chứa những đặc trưng riêng, bao gồm: - Tính giáo duc cao về môi trường: du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tổn nơi có giá trị cao về đa dang sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường.
Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trường, và du lịch sinh thái được coi là chiếc chìa khoá nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường. - Góp phần bảo tổn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính da dạng sinh học: hoạt động du lịch sinh thái có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tổn, đảm bảo yêu cầu phát triển bén vững. - Thu hút sự tham gia của cộng đông địa phương: cộng đồng địa phương chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoang sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, diéu này đặt ra một yêu cầu cấp bách là cẩn phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương. Tại khu vực đó, bởi vì hơn ai hết chính những người địa phương tại đây hiểu rõ nhất về các nguồn tài nguyên của mình.
Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường, đồng thời cũng góp phan nâng cao hơn nữa nhân thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng. Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái Hoạt đông du lich sinh thái cần tuân theo một số nguyên tắc sau: SVTH: Dương Thị Tường Trang 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ts.Phạm Xuân Hậu 1.1, Có hoạt động giáo duc và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thuức tham gia vào các nỗ lực bảo tân Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái, tạo ra sư khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác. Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên, vé đặc điểm sinh thái khu vực và văn hoá bản địa. Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hoá khu vực, 1.
Bao vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái Cũng nhưng hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt động du lịch sinh thái tiém ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên. Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn để bảo vệ môi trường, duy trì hệ thống sinh thái chưa phải là những ưu tiên hàng đầu thì ngược lại, du lịch sinh thái coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần tuân thủ, bởi vì: - Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái là mục tiêu hoạt động của du lịch sinh thái. - Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên va các hệ sinh thái điển hình như. Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các hệ sinh thái đồng nghĩa với việc đi xuống của hoạt động sinh thái.
Với nguyên tắc này, mọi hoạt động du lịch sinh thái sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động du lịch sinh thái sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các hệ sinh thái.