Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Du lịch sinh thái tỉnh Bình Thuận - Hiện trạng và hướng phát triển" do sinh viên Dương Thị Tưởng thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Xuân Hậu (Trưởng khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) vào tháng 5 năm 2004. Công trình thuộc chuyên ngành Địa lý du lịch, tập trung phân tích thực trạng khai thác không gian lãnh thổ và tài nguyên tự nhiên - nhân văn phục vụ phát triển du lịch sinh thái (DLST) tại địa bàn tỉnh Bình Thuận.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Tác giả đặt vấn đề từ thực tiễn phát triển của xã hội hiện đại: mặt trái của quá trình đô thị hóa và phát triển vật chất khiến không gian sống bị thu hẹp, môi trường không khí ô nhiễm và tiếng ồn gia tăng, thúc đẩy nhu cầu tìm về các không gian thiên nhiên hoang dã, thoáng đãng. Trên bình diện quốc tế, DLST trở thành xu thế kinh tế quan trọng. Tại các quốc gia phát triển, hệ thống vườn quốc gia của Hoa Kỳ mỗi năm đón khoảng 270 triệu lượt khách, Canada đón khoảng 30 triệu lượt với doanh thu hàng chục tỷ USD; ở các nước đang phát triển như Costa Rica, DLST đem lại khoảng 50 triệu USD/năm, đứng thứ hai sau xuất khẩu chuối. Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) ghi nhận năm 1989 có khoảng 7% tổng lượng khách quốc tế đến các vùng thiên nhiên, và Liên Hiệp Quốc đã chọn năm 2002 là Năm Quốc tế về Du lịch sinh thái.

Tại Việt Nam, với vị trí nhiệt đới giàu tài nguyên và 54 dân tộc, tiềm năng DLST rất lớn. Tỉnh Bình Thuận nằm ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ và tiếp giáp Đông Nam Bộ, sở hữu 192 km bờ biển cùng hệ sinh thái đa dạng từ rừng núi, đồi cát đến biển đảo. Sau sự kiện quan sát nhật thực toàn phần ngày 24/10/1995 (văn bản ghi nhận ngày 20/10/1995), du lịch Bình Thuận phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, hoạt động khai thác DLST tại đây vẫn ở giai đoạn sơ khai, nặng tính tham quan, nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đơn thuần; chưa chú trọng đúng mức đến giáo dục môi trường, nâng cao nhận thức bảo tồn sinh thái và chia sẻ lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Củng cố, bổ sung và vận dụng kiến thức địa lý chuyên ngành vào giải quyết vấn đề thực tiễn kinh tế - xã hội.
  2. Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và vận dụng vào việc phân tích tiến trình phát triển DLST tại tỉnh Bình Thuận.
  3. Đánh giá tổng hợp hiện trạng khai thác tài nguyên DLST, từ đó xác lập các định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển DLST của địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xác định cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu du lịch sinh thái.
  2. Khảo sát, đánh giá các loại tài nguyên du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng khai thác và phát triển hoạt động du lịch sinh thái.
  4. Đề xuất định hướng không gian và các giải pháp thực thi nhằm phát triển DLST bền vững tại tỉnh Bình Thuận.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch sinh thái (tự nhiên và nhân văn), hiện trạng hoạt động kinh doanh, cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật và tác động môi trường của DLST.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính tỉnh Bình Thuận (thành phố Phan Thiết, các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Đức Linh, Tánh Linh, huyện đảo Phú Quý) và các không gian liên kết vùng phụ cận (Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Khánh Hòa).
  • Phạm vi thời gian: Nguồn tư liệu, số liệu thống kê thu thập tập trung trong giai đoạn 1991 - 2000, kết hợp cập nhật hiện trạng phát triển đến năm 2002; định hướng không gian và giải pháp hướng đến mốc năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng: Tác giả tổng hợp các định nghĩa học thuật về DLST từ Wood (1991), Allen (1993), Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES), và vận dụng định nghĩa chính thức tại Hội thảo Quốc gia về "Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam" (tháng 9/1999): DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo vệ và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.

Hệ thống phân vị không gian lãnh thổ du lịch được xác định gồm:

  • Điểm DLST: Cấp thấp nhất, nơi tập trung tài nguyên DLST tự nhiên hoặc nhân văn còn ở trạng thái nguyên thủy.
  • Cụm DLST: Đơn vị tổ chức lãnh thổ kết hợp các điểm DLST có cùng hoặc khác chức năng, thuận tiện giao thông, có sức chứa và thời gian lưu trú cao hơn.
  • Khu DLST: Khu vực có ưu thế nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, được quy hoạch đầu tư đồng bộ.
  • Tuyến DLST: Lộ trình nối các điểm, cụm hoặc khu DLST, đảm bảo thời gian lưu trú từ 3 ngày trở lên.

Tác giả xác định 4 nguyên tắc vận hành cơ bản của DLST: (1) Giáo dục và diễn giải môi trường; (2) Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái; (3) Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng; (4) Tạo việc làm và chia sẻ lợi ích kinh tế cho người dân bản địa. Khái niệm khách DLST được đối chiếu theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999, kết hợp các đặc thù: thời gian lưu trú dài hơn, mức chi trả bình quân cao hơn, ưu tiên bảo vệ môi trường hơn là đòi hỏi tiện nghi cao cấp.

Quan điểm nghiên cứu: Nghiên cứu quán triệt 5 quan điểm phương pháp luận địa lý:

  1. Quan điểm hệ thống lãnh thổ: Xem xét DLST Bình Thuận trong mạng lưới du lịch liên vùng Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ.
  2. Quan điểm tổng hợp: Đánh giá liên ngành giữa tự nhiên, kinh tế, chính sách, hạ tầng và đầu tư.
  3. Quan điểm môi trường sinh thái: Phân tích tác động qua lại hai chiều giữa hoạt động khai thác du lịch và chất lượng môi trường tự nhiên.
  4. Quan điểm lịch sử viễn cảnh: Phân tích hiện trạng từ dữ liệu quá khứ để xây dựng định hướng phát triển đến năm 2010.
  5. Quan điểm phát triển bền vững: Cân bằng mục tiêu bảo tồn tự nhiên với lợi ích kinh tế cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp điều tra thực địa: Khảo sát trực tiếp cảnh quan, cơ sở lưu trú, hệ thống giao thông tại các huyện thị; ghi nhận các biểu hiện ô nhiễm; thâm nhập thực tế dưới góc độ du khách.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp - thống kê so sánh: Xử lý, đối chiếu các chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 1991 - 2000 về lượng khách, doanh thu, cơ cấu lưu trú và vốn đầu tư.
  • Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Phân tích bản đồ tự nhiên, bản đồ hành chính, bản đồ tuyến điểm du lịch tỉnh Bình Thuận và các biểu đồ cơ cấu kinh tế.
  • Phương pháp chuyên gia: Tiếp thu chỉ dẫn khoa học của người hướng dẫn và tham vấn ý kiến các cán bộ quản lý, doanh nghiệp lữ hành tại địa phương.

Quy trình nghiên cứu tiến hành qua 4 bước: (1) Xác định đề tài, xây dựng đề cương sơ lược; (2) Thu thập dữ liệu thứ cấp, khảo sát thực địa, lập đề cương chi tiết; (3) Xử lý số liệu thô và viết bản thảo; (4) Hoàn thiện, chỉnh sửa và in ấn.

Nguồn dữ liệu: Số liệu được trích xuất từ các cơ quan quản lý chuyên ngành tỉnh Bình Thuận: Sở Thương mại - Du lịch, Sở Văn hóa Thông tin, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Sở Tài nguyên Môi trường, Trung tâm Điều hành Du lịch, Ban Quản lý các khu du lịch sinh thái; kết hợp các báo cáo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam và Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO).


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Các cơ sở lý luận để tiến hành nghiên cứu du lịch sinh thái

Chương này dành cho việc hệ thống hóa khung lý luận và tổng thuật tình hình phát triển DLST. Tác giả điểm duyệt các công trình nghiên cứu quốc tế từ UNEP (1979), The Ecotourism Society (1992), WTO (1994), Wright (1993), Cater (1993), Glaser (1996), Burns & Holden (1999), Kreg Lindberg (1999), cùng mốc Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất tại Rio de Janeiro (1992). Tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các nghiên cứu quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (1995), công trình của Phan Huy Xu và Trần Văn Thành (1998) về Đồng Tháp Mười, và phân tích luận văn của Nguyễn Thị Gương (2001) về tài nguyên DLST Bình Thuận.

Chương I phân tích các số liệu vĩ mô: năm 1999, toàn cầu có 635 triệu lượt khách quốc tế, doanh thu 455 tỷ USD (chiếm 6,5% GNP toàn cầu), giải quyết việc làm cho 220 triệu lao động (tỷ lệ 1/9 lao động). Tại Việt Nam, khách tham gia hoạt động tự nhiên ước chiếm trên 30% khách quốc tế và gần 50% khách nội địa; vịnh Hạ Long đón trên 400.000 lượt khách/năm; các vườn quốc gia Cát Bà, Cúc Phương, Ba Vì, Bạch Mã đón khoảng 1.000.000 lượt khách (1998). Cơ cấu khách quốc tế vào Việt Nam được dẫn chứng: nghỉ dưỡng chiếm 42,8%, thương mại chiếm 23,6%, công vụ/hội nghị/thể thao/nghiên cứu chiếm 13,9%. Về đầu tư nước ngoài, tính đến tháng 6/1999, ngành du lịch có 343/1.979 dự án cả nước (chiếm 17% số dự án) nhưng chiếm tới 39,5% tổng vốn đăng ký (12.878,35 triệu USD), dẫn đầu là Singapore (4.163,62 triệu USD, chiếm 36,485%), British Virgin Islands (1.569,38 triệu USD), Đài Loan và Hồng Kông (63 dự án).

Chương II: Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Bình Thuận

Chương II là phần thực nghiệm trọng tâm, phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và các chỉ số kinh tế du lịch của tỉnh Bình Thuận.

1. Tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên:

  • Địa hình: Tác giả phân chia địa hình tỉnh Bình Thuận thành 4 dạng chính với cơ cấu và tiềm năng cụ thể:
Dạng địa hình Tỷ lệ diện tích (%) Đặc điểm phân bố Tiềm năng khai thác DLST
Đồi cát và cồn cát ven biển 18,22% Chạy dọc ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân; lớn nhất tại Bắc Bình (dài 52 km, rộng 20 km) Tham quan, trượt cát, thể thao trên cát, du lịch canh nông vùng cát
Đồng bằng phù sa 9,43% Đồng bằng ven biển (độ cao 0-12 m) và thung lũng sông La Ngà tại Đức Linh, Tánh Linh (90-120 m) Du lịch miệt vườn, tham quan vườn thanh long đặc sản
Vùng đồi gò 31,66% Kéo dài Đông Bắc - Tây Nam từ Tuy Phong, cao 30-50 m, bề mặt bóc mòn, rửa trôi Thể thao giải trí liên hợp, dù lượn, tàu lượn, thả diều
Vùng núi thấp 40,70% Khối Trường Sơn chạy từ Bắc Bình đến Đức Linh; 45,5% diện tích là rừng tự nhiên Leo núi, dù lượn, đi bộ xuyên rừng, nghiên cứu sinh thái rừng
  • Khí hậu: Nhiệt đới khô hạn điển hình, nắng nhiều, không có mùa đông. Nhiệt độ trung bình năm 26 - 27°C; số ngày nắng đạt 348 - 360 ngày/năm; số giờ nắng trung bình tháng đạt 200 - 270 giờ; lượng mưa trung bình năm từ 850 - 1.600 mm (trên 80% tập trung vào các tháng 5, 8, 9, 10). Tác giả chỉ ra lợi thế tổ chức du lịch biển quanh năm do ít chịu ảnh hưởng của bão, song hạn chế về nắng gắt từ 11 giờ đến 15 giờ các tháng 4, 5, 6.
  • Thủy văn và hải văn: Hệ thống gồm 7 lưu vực sông chính (Lòng Sông, Lũy, Cái Phan Thiết, Cà Ty, Phan, Dinh, La Ngà) với diện tích lưu vực 9.880 km², tổng chiều dài 663 km; dòng chảy mặt 5,4 tỷ m³/năm (riêng sông La Ngà chiếm 2,1 tỷ m³). Nguồn nước phân bố không đều, vùng Tuy Phong, Bắc Bình thiếu nước nghiêm trọng. Tỉnh có các mỏ khoáng nóng Bung Thi (Tà Cú), Vĩnh Hảo, Đakai, Phong Điền (62°C, có bùn khoáng), Văn Lâm. Vùng biển có chế độ bán nhật triều không đều, sóng cao trung bình 1 - 1,2 m (cực đại 2,5 m), thuận lợi cho lướt ván, lặn biển.
  • Sinh vật: Năm 1992, đất lâm nghiệp chiếm 550.327 ha (68,85% diện tích tự nhiên), đất có rừng đạt 391.815 ha, trữ lượng gỗ 25,6 triệu m³ và 25 triệu cây tre nứa (rừng tự nhiên chiếm 45,5% toàn vùng Đông Nam Bộ). Vùng biển có trên 500 loài cá (146 loài cá nổi, 392 loài cá đáy), 146 loài san hô, trên 100 loài động vật phù du. Các khu bảo tồn trọng điểm: Biển Lạc - Núi Ông, Khu bảo tồn Tà Cú.

2. Tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn: Dân số năm 1998 đạt 1.000.000 người (đô thị 24,2%, nông thôn 75,8%), mật độ bình quân 128 người/km² (Phan Thiết: 899 người/km², Phú Quý: 1.235 người/km², Bắc Bình: 58 người/km²). Tỉnh có hơn 30 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm 93%, người Chăm chiếm 4%. Tỉnh sở hữu 18 di tích cấp quốc gia (8 di tích kiến trúc nghệ thuật, 7 di tích văn hóa, 2 thắng cảnh, 1 khảo cổ), phân bố tại: Phan Thiết (5), Tuy Phong (3), Bắc Bình (3), Hàm Thuận Bắc (2), Phú Quý (2), Hàm Thuận Nam (1), Tánh Linh (1), Hàm Tân (1). Các lễ hội truyền thống tiêu biểu gồm: Katê, Kra Mư Văng, Nghinh Ông Nam Hải, lễ hội Dinh Thầy Thím, giỗ tổ chùa Cổ Thạch, giỗ tổ chùa Núi Tà Cú.

3. Hiện trạng kinh tế du lịch và DLST:

  • Chỉ số toàn ngành năm 2002: Tỉnh đón 1.000.000 lượt khách (quốc tế 85.000 lượt, tăng 21,5%); doanh thu đạt 220 tỷ đồng (tăng 23,6%); GDP du lịch tăng 26,5%, chiếm 6,5 - 6,8% tổng GDP tỉnh. Toàn tỉnh có 227 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn trên 2.000 tỷ đồng, sử dụng 501,9 ha đất kinh doanh (Phan Thiết - Mũi Né chiếm 253 ha, Hàm Thuận Nam 209,3 ha). Cơ sở lưu trú đạt 2.300 buồng phòng khách sạn/resort và hơn 1.000 phòng trọ; 15 cơ sở xếp sao (2 cơ sở 4 sao với 205 phòng, 5 cơ sở 3 sao với 365 phòng, 5 cơ sở 2 sao với 211 phòng, 2 cơ sở 1 sao với 38 phòng).
  • Thực trạng khách DLST: Giai đoạn 1991 - 1995 tăng trưởng 21%/năm (quốc tế tăng 30,5%, nội địa tăng 20%). Năm 1991 đón 2.162 lượt khách; năm 1995 đón 53.200 lượt khách (quốc tế 5.300 lượt). Đến tháng 9/1999, toàn tỉnh đón 87.954 lượt khách DLST (quốc tế 19.110 lượt). Năm 1999 ước tính có 250.000 lượt khách có lưu trú qua đêm tại tỉnh; trong đó 45% lưu trú tại khách sạn/khu du lịch, khoảng 80.000 lượt tại nhà trọ và một lượng lớn tại nhà người thân.
  • Tồn tại môi trường: Hiện tượng phá rừng dứa dại phòng hộ ven biển để xây dựng khu du lịch; ô nhiễm rác thải nghiêm trọng tại bãi biển Cam Bình (Hàm Tân); tổ chức lễ hội còn mang tính tự phát, chưa quy hoạch kịch bản văn hóa để giảm thiểu tập tục lạc hậu và diễn giải văn hóa cho du khách.

Chương III: Những định hướng và giải pháp phát triển DLST tỉnh Bình Thuận

Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Thuận lần thứ X và Chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2002 - 2005, chương này đề xuất:

  • Định hướng không gian lãnh thổ: Phân bố không gian du lịch theo các dải ven biển và vùng núi; phát triển các trục giao thông đối ngoại và nội bộ kết nối Mũi Né - Hòn Rơm - Hòa Thắng, Phan Thiết - Kê Gà - Hàm Tân; kết nối tour liên tỉnh đến TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Lạt, Nha Trang.
  • Định hướng sản phẩm: Chuyển từ nghỉ dưỡng biển đơn thuần sang các sản phẩm DLST chuyên đề: du lịch nghiên cứu đồi cát, khám phá đa dạng sinh học rừng Biển Lạc - Núi Ông, nghỉ dưỡng chữa bệnh bùn khoáng nóng Bung Thi - Phong Điền, lặn biển thám hiểm rạn san hô cù lao Câu và đảo Phú Quý.
  • Hệ thống giải pháp: (1) Hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, cấp thoát nước và xử lý chất thải tại các trung tâm du lịch; (2) Thực hiện quy hoạch phân vùng chức năng: khu bảo vệ nghiêm ngặt, khu phục hồi sinh thái, khu dịch vụ du lịch; (3) Tăng cường giáo dục môi trường cho du khách và doanh nghiệp lữ hành; (4) Đào tạo nghiệp vụ hướng dẫn viên sinh thái và nâng cao văn hóa phục vụ; (5) Xây dựng cơ chế khuyến khích cộng đồng địa phương (ngư dân, đồng bào dân tộc Chăm) tham gia cung ứng dịch vụ ẩm thực, nghề dệt thổ cẩm, đồ gốm và lưu trú homestay để hưởng lợi ích kinh tế trực tiếp.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính dựa trên số liệu văn bản:

  • Hệ thống hóa toàn diện nguồn tài nguyên tự nhiên của Bình Thuận: 192 km bờ biển, 4 dạng địa hình (núi chiếm 40,7%, đồi gò 31,66%, đồi cát 18,22%, đồng bằng 9,43%), 7 lưu vực sông với 5,4 tỷ m³ nước mặt, 391.815 ha đất có rừng và các nguồn khoáng nóng có nhiệt độ tới 62°C.
  • Thống kê chi tiết tài nguyên nhân văn: 18 di tích cấp quốc gia trên 8 huyện thị, cơ cấu dân tộc (Kinh 93%, Chăm 4%) và hệ thống lễ hội truyền thống tiêu biểu.
  • Xác định quy mô phát triển ngành du lịch mốc năm 2002: 1.000.000 lượt khách, doanh thu 220 tỷ đồng, đóng góp 6,5 - 6,8% GDP tỉnh, 227 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn trên 2.000 tỷ đồng trên 501,9 ha đất; hệ thống lưu trú gồm 2.300 buồng phòng khách sạn và 1.000 phòng trọ.
  • Ghi nhận diễn biến tăng trưởng lượng khách DLST từ 2.162 lượt (năm 1991) lên 53.200 lượt (năm 1995) và đạt 87.954 lượt tính đến tháng 9/1999; chỉ ra cơ cấu lưu trú đêm năm 1999 đạt khoảng 250.000 lượt (khách sạn chiếm 45%).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Kiến nghị quy hoạch phân vùng bảo vệ tài nguyên theo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; chấm dứt tình trạng san ủi rừng phòng hộ tự nhiên ven biển để xây dựng công trình lưu trú.
  • Đề xuất giải pháp liên kết không gian du lịch liên tỉnh giữa Bình Thuận với các cực tăng trưởng TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu và Khánh Hòa.
  • Đề xuất kịch bản hóa nội dung các lễ hội truyền thống (lễ hội Katê, Dinh Thầy Thím, Nghinh Ông) nhằm bảo tồn bản sắc bản địa, phục vụ giáo dục văn hóa cho du khách và ngăn ngừa thương mại hóa lệch lạc.
  • Thiết lập cơ chế phân chia lợi nhuận từ du lịch để tái đầu tư bảo tồn cảnh quan và tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả tự xác định sự khác biệt đối với đề tài năm 2001 của sinh viên Nguyễn Thị Gương tại Khoa Địa lý: đề tài năm 2001 chỉ tập trung đánh giá tài nguyên dựa trên các chỉ tiêu định tính (tính hấp dẫn, an toàn, bền vững, thời vụ, liên kết) để thiết kế tour; trong khi khóa luận này đi sâu đánh giá toàn diện hiện trạng phát triển kinh tế du lịch, chỉ rõ các thành tựu lượng hóa, các xung đột môi trường thực tế (chặt phá rừng dứa dại, rác thải bãi biển), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững gắn với quy hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả thừa nhận do trình độ và điều kiện của một sinh viên bước đầu làm quen nghiên cứu khoa học, nguồn dữ liệu thống kê chuyên biệt về DLST trong giai đoạn 1991 - 2000 tại địa phương còn thiếu đồng bộ; việc phân định giữa khách du lịch thuần túy và khách DLST chủ yếu dựa trên ước tính lưu trú tại các vùng cảnh quan tự nhiên. Khóa luận chưa thể tiến hành khảo sát định lượng sâu trên diện rộng tại các vùng sinh thái đặc thù hải đảo xa bờ như huyện đảo Phú Quý.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá sức chịu tải sinh thái (carrying capacity) tại các bãi biển và thắng cảnh đồi cát; nghiên cứu chi tiết chuỗi giá trị và mức độ tham gia kinh tế của cộng đồng dân cư bản địa (đồng bào Chăm, ngư dân ven biển); đánh giá biến động môi trường tự nhiên dưới áp lực của các dự án resort ven biển giai đoạn sau năm 2005.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lý, Địa lý du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành; cán bộ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương ven biển; các nhà quản lý doanh nghiệp du lịch lữ hành.
  • Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu: Phương pháp tiếp cận tổ chức không gian lãnh thổ du lịch (điểm - tuyến - cụm - khu); bộ dữ liệu kiểm kê hiện trạng địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật và di tích lịch sử tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1995 - 2002; phương pháp nhận diện và phân tích xung đột giữa phát triển du lịch hạ tầng với bảo tồn tài nguyên môi trường ven biển.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng định nghĩa chính thức nào về du lịch sinh thái tại Việt Nam? Khóa luận áp dụng định nghĩa được thống nhất tại Hội thảo Quốc gia về "Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam" (do Tổng cục Du lịch phối hợp với ESCAP, WWF, IUCN tổ chức từ ngày 7 - 9/9/1999): Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo vệ và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.

2. Mốc thời gian nào được tác giả đánh giá là bước ngoặt làm thay đổi diện mạo du lịch tỉnh Bình Thuận? Hiện tượng nhật thực toàn phần ngày 24/10/1995 (văn bản ghi ngày 20/10/1995) là mốc đánh dấu tỉnh Bình Thuận xuất hiện trên bản đồ du lịch. Sự kiện này thu hút khoảng 100.000 lượt người đổ về Phan Thiết để quan sát, giúp các nhà đầu tư và du khách phát hiện ra tiềm năng cảnh quan đồi cát, bờ biển dài, nắng ấm và các di tích văn hóa Chăm của vùng đất này.

3. Cơ cấu địa hình của tỉnh Bình Thuận được phân chia như thế nào và loại nào chiếm diện tích lớn nhất? Địa hình tỉnh được phân thành 4 vùng: vùng núi thấp chiếm tỷ lệ lớn nhất với 40,70% diện tích (trong đó 45,5% là rừng tự nhiên); vùng đồi gò chiếm 31,66%; đồi cát và cồn cát ven biển chiếm 18,22% (trải dài lớn nhất tại Bắc Bình); đồng bằng phù sa chiếm diện tích nhỏ nhất với 9,43% diện tích tự nhiên.

4. Khóa luận nêu rõ những minh chứng thực tế nào về tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường tại Bình Thuận? Văn bản đưa ra các minh chứng thực địa cụ thể: tình trạng đốt phá rừng dứa dại tự nhiên ven biển để lấy mặt bằng xây dựng các khu du lịch sinh thái; sự xuất hiện của các bãi rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý làm ô nhiễm bãi biển Cam Bình (huyện Hàm Tân); và hiện tượng rác đại dương dạt vào bờ theo các dòng chảy mùa gây ảnh hưởng cảnh quan nghỉ dưỡng.

5. Cơ sở lưu trú tại tỉnh Bình Thuận năm 2002 đạt quy mô như thế nào? Tính đến cuối năm 2002, toàn tỉnh có gần 2.300 buồng phòng khách sạn, làng du lịch và hơn 1.000 phòng trọ (gấp 2,5 lần đầu năm 2000). Toàn tỉnh có 15 cơ sở được xếp hạng sao: 2 cơ sở 4 sao (205 phòng), 5 cơ sở 3 sao (365 phòng), 5 cơ sở 2 sao (211 phòng) và 2 cơ sở 1 sao (38 phòng).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Tưởng đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận địa lý du lịch và phân tích hiện trạng tài nguyên tự nhiên, nhân văn cũng như hoạt động du lịch sinh thái tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1991 - 2002. Công trình cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về cơ cấu địa hình, khí hậu, các chỉ số du khách, doanh thu và cơ sở lưu trú, đồng thời chỉ ra các bất cập về suy thoái môi trường và tính tự phát trong khai thác du lịch. Các giải pháp định hướng không gian lãnh thổ và bảo tồn tài nguyên được đề xuất mang tính đồng bộ, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu quy hoạch phát triển du lịch sinh thái bền vững của tỉnh Bình Thuận đến năm 2010.