Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tiếp chương 2, tác giả sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết về động lực và các yếu tố tác động đến động lực làm việc của người lao động tại Công ty TNHH RKW Lotus. Từ đó nghiên cứu đưa ra các thành phần trong mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động tại Công ty TNHH RKW Lotus. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm động lực và tạo động lực làm việc: 2.1 Động lực: Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu nhiều tài liệu trong và ngoài nước các tác giả đã đưa ra một số khái niệm về động lực như sau: Sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu của cá nhân được thoả mãn theo khả năng nỗ lực của họ(Robbins, 1998). Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình(Khái niệm này được Mitchell đưa ra trong cuốn sách Multlines, năm 1999 trang 418) “Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể” (Tài liệu của Đại học kinh tế quốc dân) “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” (Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2010) “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” (Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương, 2009) “Động lực làm việc là một động lực có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được một mục tiêu mong đợi” (Nguyễn Hữu Quyền) Như vậy, từ những khái niệm trên có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực: Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những hoàn cảnh khác nhau, với những trạng thái tâm lý khác nhau sẽ tạo ra những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 mục tiêu nhu cầu khác nhau. Chính vì động lực của mỗi con người khác nhau nên nhà quản lý cần có những phương pháp tác động để người lao động có thể làm việc đạt kết quả cao nhất cho tổ chức.2 Tạo động lực theo (www.vn) Tạo động lực là những kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của con người.
Giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và khoảng cách này luôn có động lực để rút ngắn khoảng cách đó. Thực hiện công tác tạo động lực tốt sẽ làm dịu đi những lo lắng căng thẳng không cần thiết, tăng cường sự hấp dẫn của tiền lương, tiền thưởng, môi trường làm việc…Nhằm tạo động lực cho người lao động hăng say làm việc, trung thành với tổ chức, sẵn lòng cống hiến hết mình vì tổ chức.2 Đặc điểm của động lực: Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009) Khi bàn về động lực của người lao động trong một tổ chức, các nhà quản lý thống nhất một số đặc điểm sau: Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trường làm việc cụ thể, không có động lực chung chung mà không gắn với công việc cụ thể nào. Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân, chính vì đặc điểm này mà nhà quản lý có thể can thiệp vào quá trình tạo động lực cho người lao động. Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất lao động, hiệu quả công việc cao hơn.
Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất lao động, hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng làm việc của người lao động, phương tiên và các nguồn lực khác để thực hiện công việc. Trên thực tế người lao động không còn động lực làm việc họ vẫn có thể hoàn thành công việc vì họ có trình độ, tay nghề, kinh nghiệm và nhiệm vụ phải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hoàn thành … nhưng hiệu quả công việc mang lại không phản ánh đúng khả năng của họ. Nếu người lao động mất hoặc suy giảm động lực thì họ có thể không hoàn thành nhiệm vụ của mình, hoặc hoàn thành nhưng hiệu quả công việc không cao và đến một ngưỡng cao hơn họ có xu hướng ra khỏi tổ chức.3 Khái niệm chung về lao động: Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho cuộc sống của mình. Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động đến đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người.
Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội. Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào. Như vậy động lực của quá trình phát triển kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người. Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lượt phát triển kinh tế - xã hội.
Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người. Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế của doanh nghiệp nói riêng là rất quan trọng. Người lao động là người làm công ăn lương, có thể là người: - Lao động phổ thông: Công nhân, thợ, nông dân làm thuê(tá điền), người giúp việc… - Lao động trí thức: Nhân viên(Công chức, tư chất), cán bộ, chuyên gia…. Một người lao động đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ(người sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc(giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng.org) Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động(theo quy định của nhà nước nam có tuổi từ 16-60; nữ tuổi từ 16-55).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.2 Một số học thuyết về động lực 2.1 Học thuyết hệ thống nhu cầu của Abraham Maslow Nhà tâm lý học người Mỹ - Abraham Maslow (1943) cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn và ông đã phân chia các nhu cầu của con người thành 5 nhóm và sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao như sau: 5 Nhu cầu tự hoàn thiện 4 3 Nhu cầu được tôn trọng 2 Nhu cầu xã hội 1 Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 2. 1 Hệ thống nhu cầu của Abraham Maslow Nhu cầu sinh lý: bao gồm những nhu cầu cơ bản để con người có thể tồn tại như thức ăn, nước uống, quần áo mặc, nhà ở. Trong lao động, thể hiện qua việc người lao động muốn nhận được mức tiền lương hợp lý đủ để trang trải cho các sinh hoạt và đảm bảo cuộc sống của người lao động và gia đình. Nhu cầu an toàn: là những mong muốn của con người được đảm bảo an toàn về thân thể.
Người lao động mong muốn có một công việc ổn định lâu dài, điều kiện làm việc an toàn, đầy đủ, công tác an toàn bảo hộ lao động được quan tâm nhằm bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của người lao động. Nhu cầu xã hội: là nhu cầu được quan hệ với những người khác để thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc, giao lưu, gặp gỡ, tiếp xúc thiết lập các mối quan hệ với những người khác trong cuộc sống và trong công việc. Tại nơi làm việc, có thể được đáp ứng thông qua các hoạt động giao lưu, sinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hoạt tập thể ngoài giờ làm việc giữa mọi người lao động trong tổ chức như bữa ăn trưa tập thể, các chuyến du lịch, nghỉ mát. Nhu cầu đƣợc tôn trọng: là nhu cầu có địa vị, được người khác tôn trọng hay thừa nhận đối với sự thành đạt, tài năng, năng lực của một cá nhân.
Tại nơi làm việc, những vật tượng trưng cho địa vị có thể thỏa mãn nhu cầu này như người lao động được làm việc trong những căn phòng làm việc lớn, đầy đủ tiện nghi, phần thưởng xứng đáng với thành tích đạt được. vì chúng chứng tỏ sự đánh giá và công nhận của tổ chức đối với sự đóng góp của cá nhân. Nhu cầu tự hoàn thiện: là cấp độ cao nhất thể hiện qua những nhu cầu về tự chủ sáng tạo, mong muốn được phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lưc. Trong công việc, họ mong muốn làm các công việc có tính thách thức, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu, được tự chủ trong công việc.
Abraham Maslow cho rằng cá nhân trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu và chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Theo ông, nhu cầu của con người phát triển từ thấp đến cao, khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì về cơ bản nó không còn tạo ra động lực và nhu cầu bậc cao hơn sẽ trở nên mạnh hơn và tác động quyết định đến hành vi của người lao động.