phần mở đầu và kết luận, luận án gồm bốn chương: 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương thứ nhất: Phần cơ sở lí thuyết. Chương này nhấn mạnh vào lí thuyết HĐNT của John L. Austin và John R. Sau đó là lí thuyết về nguyên lí lịch sự của Penelope Brown và Stephen C.
Levinson, cùng một số vấn đề có liên quan khác như vấn đề cặp thoại (xác tín / BB), tiề n giả đinh ̣ (TGĐ) và hàm ý (HY). Tất cả nhằm đến mục đích là nêu ra một cái phông (background) tri thức cần thiết cho việc tìm hiểu HĐBB. Chương thứ hai: Miêu tả về HĐBB trong tiếng Thái. Chương thứ ba: Miêu tả về HĐBB trong tiếng Việt.
Chương thứ tư: Đối chiếu những nét tương đồng và khác biệt trong HĐBB giữa tiếng Thái và tiếng Việt. Trong chương này, một số khuôn mẫu của HĐBB trong hai ngôn ngữ sẽ được xem xét tỉ mỉ. Chương này cũng phân tích nguyên lí lịch sự, cách ứng xử văn hóa có liên quan và cách thức tư duy được thể hiện trong HĐBB của người Thái và người Việt. Kết quả có thể đạt đƣợc 7.
Trong phối cảnh so sánh, luận án đi đến xác định những nét tương đồng và khác biệt trong cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của các phát ngôn được dùng để thực hiện HĐBB trong tiếng Thái và tiếng Việt, nghiên cứu phép lịch sự cùng những đặc trưng văn hóa-tư duy được thể hiện trong HĐBB nói riêng và hoạt động giao tiếp liên nhân nói chung trong tiếng Việt và tiếng Thái. Kết quả của luận án này có thể giúp cho việc biên soạn các sách dạy tiếng Thái và tiếng Việt theo định hướng giao tiếp. Kết quả của luận án cũng có thể được áp dụng để nâng cao chất lượng biên-phiên dịch Thái-Việt có liên quan đến HĐBB nói riêng và HĐNT nói chung. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Lý thuyết “Hành động ngôn từ”(Theory of Speech Act)2 của John L. Austin và John R. Lý thuyết “Hành động ngôn từ” của John L. Bối cảnh ra đời của “How to Do Things with Words” Austin, nhà triết học thuộc trường phái Triết học “Theo nội hàm” (Intentionalist), là người đầu tiên đưa ra quan niệm về “Hành đô ̣ng ngôn từ ” (Speech Act), trình bày tại Trường Đại học Harvard, được in thành sách với tên gọi “How to Do Things with Words” năm 1962 sau khi ông mất.
Trong cuốn này Austin đã phát biểu một mệnh đề rất quan trọng đến nỗi bất kì ai đọc nó đều phải nhớ, đó là “khi tôi nói tức là tôi hành động” (When I say, (…) I do) [64, 6]. Nghĩa là, nói năng là một HĐ giống như các HĐ khác của con người, có điều đây là loại HĐ được thực hiện bằng lời. HĐ của người nói gây ra biến đổi nào đó trong thực tế và những ảnh hưởng nào đó ở đối tượng tiếp nhận. Những “Hành động ngôn từ” theo quan điểm của John L.
Austin Trước hết, trong thực tiễn hành ngôn, Austin phân biệt 2 kiểu câu: 1) Câu tường thuật (Constative Sentence)3 là câu người ta dùng để thông báo về cái gì đó với ý nghĩa tương đối ổn định và người ta có thể nhận xét câu nói đó là đúng hay sai. Ví dụ: Chị Siriwong là nghiên cứu sinh, người Thái Lan. Câu này là đúng nếu có bằng chứng thực tế chứng minh như hộ chiếu, lí lịch khoa học v. của chị Siriwong.
2 Tên gọi “Lý thuyết hành động ngôn từ” dùng theo Cao Xuân Hạo (2005) cho hợp với thuật ngữ tiếng Thái vì tiếng Thái gọi “hành động ngôn từ” là “วัจนกรรม” [wa!t&ca&na!?&kam], วัจน [wa!t&ca&na!?] là คาพูด [kHam&pHu#:t] nghĩa là “lời nói”, tiếng Anh dùng từ “speech”, còn กรรม [kam] là การกระทา [ka:n&kra&tHam] nghĩa là “hành động”, tiếng Anh dùng từ “act”. Vì vậy, tất cả có nghĩa là “hành động của lời nói”. Hiện nay còn có một số cách dịch khác: “Hành vi ngôn ngữ” (Nguyễn Đức Dân, 2000; Đỗ Hữu Châu, 2003), “Hành vi nói năng” (Nguyễn Văn Khang, 1999), “Hành động phát ngôn” (Nguyễn Thị Thìn, 2003), v. 3 Thuật ngữ dùng theo Cao Xuân Hạo (2005).
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Câu ngôn hành (Performative Sentence) là câu mà người nói không nhằm để nói về một cái gì đó mà là để thực hiện HĐ. Câu ngôn hành khác với câu tường thuật ở chỗ không thể đánh giá được là đúng hay sai theo chân lí. Ví dụ: I bet you six pence it will rain tomorrow. [64, 5] „Tôi đánh cược 6 xu với bạn là mai trời sẽ mưa.‟ Câu này thể hiện HĐ đánh cược của người nói, theo đó nếu ngày mai trời không mưa thì người nói phải đưa cho người nghe 6 xu, và ngược lại.
Sau đó, ông tiếp tục phát triển tư tưởng của mình, khi cho rằng tất cả câu nói đều là ngôn hành, tức nói (saying) cũng là HĐ, có điều cần phân biệt ngôn hành tường minh (explicit), tức có dấu hiệu ngôn ngữ chỉ ra loại HĐ đang được thực hiện, và ngôn hành nguyên cấp (primary), tức trường hợp không có dấu hiệu ngôn ngữ đặc thù, chỉ có thể nhận biết được nhờ vào ngữ cảnh. Hơn thế nữa, theo Austin, khi ta nói ra một câu cụ thể trong một ngữ cảnh nào đó, ta sẽ thực hiện không phải một HĐ mà là đồng thời 3 kiểu HĐNT sau đây: 1) Hành động tạo lời (Locutionary act) là HĐ mà người nói sử dụng các yếu tố ngôn ngữ và quy tắc ngữ pháp để tạo ra câu nói ít nhiều có nghĩa. Đây chỉ là nghĩa bề mặt, nghĩa hiển ngôn, chưa tính đến bất kì hàm ý gì trong câu nói. Ví dụ: Sáng nay trời mưa rất nhiều, bố ạ.
(con nói với bố) Câu này chỉ có nghĩa đơn giản là người con muốn thông báo cho bố biết tình hình thời tiết sáng nay. 2) Hành động tại lời (Illocutionary act) là HĐ mà cả người nói và người nghe hiểu được “lực ngôn trung” (Illocutionary force) của phát ngôn. Lực ngôn trung là ý nghĩa thật sự của phát ngôn trong một hoàn cảnh giao tiếp hiện thực. Ví dụ: HĐ chào, hỏi, khen, xin lỗi, từ chối, bác bỏ, v.
Ví dụ: Áo dài của bạn đẹp lắm? (bạn nói với bạn) Câu này có “Lực ngôn trung” là người nói muốn khen áo dài của người nghe. Theo Austin, “Hành động tại lời” phân ra 2 kiểu sau đây: (2.1) Hành động trực tiếp (Direct speech act) là HĐ được thực hiện bằng những phương tiện ngôn ngữ chuyên dùng cho nó. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ví dụ: Cái áo này bao nhiêu tiền? (bạn nói với bạn) Câu này nghĩa là người nói có ý định hỏi để biết giá của cái áo. Đó là câu nghi vấn có mục đích hỏi và đòi hỏi có câu trả lời.2) Hành động gián tiếp (Indirect speech act) là HĐ được thực hiện một cách gián tiếp, thông qua việc thực hiện, theo câu chữ, một HĐ tại lời trực tiếp khác.
Ví dụ: Sao mà bạn nấu cơm ngon thế! (bạn nói với bạn) Trong trường hợp này, tuy về hình thức, có thể xếp câu nói vào câu nghi vấn (chẳng hạn, dựa trên dấu hiệu có từ nghi vấn “sao”) nhưng thực ra người nói không hề có ý định hỏi (hỏi về lí do tại sao mà bạn nấu cơm ngon thế) mà là muốn khen người nghe nấu cơm ngon. Câu nghi vấn trong trường hợp này không có mục đích hỏi, không cần câu trả lời. 3) Hành động mượn lời (Perlocutionary act) là HĐ mà khi người nói nói ra một câu thì có thể gây ra một hiệu quả tâm lí nào đó ở người nghe như khiến người nghe vui mừng, phấn chấn, lo sợ hay tin tưởng v. Hiệu quả này có thể phù hợp hoặc không phù hợp với ý muốn của người nói.
Ví dụ: Liệu hồn, bố sắp về rồi đấy! (mẹ nói với con) Câu nói của người mẹ trong trường hợp này có thể có tác động làm cho người con có ý thức về việc bố mình sắp về, cho nên phải thay đổi cách ứng xử hay thái độ đối với mọi việc, không còn được tự do thoải mái như trước nữa. Lý thuyết “Hành động ngôn từ” của John R. Tinh thần của “Speech Acts” Searle, nhà triết học ngôn ngữ người Mỹ, là học trò của Austin và P. Ông đã tiếp tục tư tưởng của hai người thầy và phát triển lý thuyết “Hành đô ̣ng ngôn từ ”.
Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông là cuốn “Speech Acts” được rất nhiều nhà ngôn ngữ học tham khảo khi bàn về ngữ dụng học, đặc biệt là khi nói về sự kế tục công trình “How to Do Things with Words” của Austin. Đối với Searle, “Speech Acts” có thể diễn giả là “Nói là hành động tuân theo điều kiện” (Talking is performing acts according to rules) [77, 22]. Mỗi HĐNT (speech act) sẽ được thực hiện theo những điều kiện khác nhau. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Những “Hành động ngôn từ” theo quan điểm của John R. Searle - Hành động lời nói của con ngƣời Searle tin rằng mỗi khi ai đó thực hiện một HĐNT thì người đó có thể thực hiện 3 HĐ4 sau đây: 1) Hành động phát ngôn (Utterance act) là HĐ mà người nói sử dụng dòng âm thanh, từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp để tạo ra phát ngôn giao tiếp. Tư tưởng này giống tư tưởng của Austin. 2) Hành động mệnh đề (Propositional act) là nội dung ý nghĩa của phát ngôn và nội dung đó có thể nhận xét được là đúng hay sai.
Ví dụ: Trong gia đình, em là con cả. (sinh viên nói với cô giáo) Câu này có nghĩa: sinh viên (nguời nói) là con cả trong gia đình. Điều đó có thể kiểm tra được, chẳng hạn, bằng lý lịch của sinh viên. 3) Hành động tại lời (Illocutionary act) là sự bày tỏ của người nói cho người nghe biết chủ ý / ý định tại lời (illocutionary intention) của mình khi dùng một phát ngôn.
Ví dụ: Sắp thi rồi đấy con ơi. (bố nói với con khi con đang xem tivi) Câu này của bố HY cảnh báo con là gần đến ngày thi. - Các kiểu hành động ngôn từ của “Hành động tại lời” Theo Searle, có 5 kiểu HĐNT5 sau đây: 1) Hành động biểu kiến (Representatives) là HĐ mà người nói dùng để thông báo, nêu nhận định nào đó có thể đúng hay sai. Ví dụ: Ngày mai ban chủ nhiệm khoa họp từ 9 giờ sáng.
(chủ nhiệm khoa nói với cô thư ký) Câu này chủ nhiệm khoa nói với cô thư ký về thời gian của cuộc họp và chịu trách nhiệm về thông tin này. 2) Hành động cầu khiến (Directives) là HĐ mà người nói dùng ngôn từ để khiến người nghe thực hiện một HĐ nào đó theo ý của mình. 4 Thuật ngữ dùng theo Cao Xuân Hạo (2005). 5 Thuật ngữ dùng theo Cao Xuân Hạo (2005).
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.