Luận án tiến sĩ về đồ gốm Chămpa thế kỷ I sau Công Nguyên

Khám phá luận án tiến sĩ về đồ gốm Chămpa thế kỷ I sau Công Nguyên qua các cuộc khai quật khảo cổ học. Tìm hiểu giá trị văn hóa và lịch sử.

Chuyên ngành

Khảo Cổ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2015

301
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

Danh mục các chữ viết tắt, danh mục phụ lục minh họa

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

0.2. Mục đích nghiên cứu của luận án

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nội dung các vấn đề cần đi sâu giải quyết trong luận án

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết quả, đóng góp của luận án

0.6. Bố cục luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA CHĂMPA VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỒ GỐM CHĂMPA THIÊN NIÊN KỶ I SAU CÔNG NGUYÊN

1.1. Khái quát về văn hóa Chămpa

1.2. Không gian phân bố của các địa điểm văn hóa Chămpa

1.3. Đặc điểm phân bố các di tích văn hóa Chămpa

1.4. Các loại hình di tích văn hóa Chămpa

1.5. Vài nét khái quát về lịch sử vùng đất và đặc điểm dân cư

1.6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.7. Quá trình phát hiện và nghiên cứu văn hóa Chămpa

1.8. Quá trình nghiên cứu đồ gốm Chămpa

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐỒ GỐM TRONG CÁC DI TÍCH VĂN HÓA CHĂMPA THIÊN NIÊN KỶ I SAU CÔNG NGUYÊN

2.1. Đồ gốm trong di chỉ cư trú

2.2. Đồ gốm trong phức hợp di tích cư trú – thành lũy

2.3. Đồ gốm trong di tích cư trú – bến bãi, cảng thị

2.4. Đồ gốm trong khai quật cắt thành

2.5. Đồ gốm trong di tích đền tháp

2.6. Đồ gốm trong di tích lò nung

2.7. Đồ gốm trong di tích mộ táng

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG ĐỒ GỐM CHĂMPA THIÊN NIÊN KỶ I SAU CÔNG NGUYÊN

3.1. Đặc trưng về loại hình

3.2. Tiêu chí phân loại

3.3. Loại hình đồ gốm Chămpa

3.4. Gốm gia dụng

3.5. Gốm phục vụ nghi lễ, tôn giáo

3.6. Gốm kiến trúc và trang trí kiến trúc

3.7. Dụng cụ sản xuất

3.8. Diễn biến loại hình đồ gốm Chămpa

3.9. Đặc trưng về hoa văn

3.10. Hoa văn kỹ thuật

3.11. Hoa văn trang trí

3.12. Sự tương quan giữa chất liệu, loại hình và hoa văn trang trí

3.13. Kỹ thuật chế tác

3.14. Chọn và chế biến nguyên liệu

3.15. Kỹ thuật tu sửa và xử lý bề mặt gốm

3.16. Kỹ thuật tạo hoa văn

3.17. Phơi khô và nung

3.18. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: NGUỒN GỐC, MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA VÀ ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN CHĂMPA THIÊN NIÊN KỶ I SAU CÔNG NGUYÊN QUA TƯ LIỆU GỐM

4.1. Đồ gốm Chămpa trong mối quan hệ lịch đại với văn hóa Sa Huỳnh

4.2. Đồ gốm Chămpa trong mối quan hệ đồng đại

4.2.1. Với đồ gốm miền Bắc

4.2.2. Với đồ gốm Óc Eo

4.3. Vài nét về mối quan hệ giữa Chămpa với Trung Hoa, Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á qua tư liệu đồ gốm

4.3.1. Mối quan hệ với Trung Hoa

4.3.2. Mối quan hệ với Ấn Độ

4.3.3. Mối quan hệ với Đông Nam Á

4.4. Vai trò của đồ gốm trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Chămpa

4.5. Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN

Danh mục các công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận án

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng quan về đồ gốm Chămpa thế kỷ I sau Công Nguyên

Đồ gốm Chămpa là một phần quan trọng trong văn hóa Chămpa, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của cư dân trong giai đoạn thiên niên kỷ I sau Công Nguyên. Qua các cuộc khai quật khảo cổ học, nhiều hiện vật gốm đã được phát hiện, cho thấy sự phát triển và đặc trưng của đồ gốm trong thời kỳ này. Đồ gốm Chămpa không chỉ đa dạng về hình thức mà còn phong phú về chất liệu và kỹ thuật chế tác. Nghiên cứu đồ gốm Chămpa giúp hiểu rõ hơn về văn hóa, xã hội và kinh tế của vương quốc Chămpa trong lịch sử Việt Nam.

1.1. Đặc điểm nổi bật của đồ gốm Chămpa

Đồ gốm Chămpa có nhiều loại hình khác nhau, từ gốm gia dụng đến gốm phục vụ nghi lễ. Các hiện vật gốm thường được làm từ đất sét có chất lượng tốt, nung ở nhiệt độ cao, tạo ra độ bền và tính thẩm mỹ cao. Họa tiết trang trí trên gốm Chămpa thường mang đậm ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa, thể hiện sự giao thoa văn hóa trong khu vực.

1.2. Vai trò của đồ gốm trong đời sống Chămpa

Đồ gốm không chỉ là vật dụng hàng ngày mà còn đóng vai trò quan trọng trong các nghi lễ tôn giáo và văn hóa. Các hiện vật gốm được sử dụng trong các buổi lễ cúng tế, thể hiện tín ngưỡng và phong tục tập quán của cư dân Chămpa. Sự phong phú của đồ gốm cũng cho thấy sự phát triển kinh tế và thương mại của vương quốc này.

II. Thách thức trong nghiên cứu đồ gốm Chămpa hiện nay

Mặc dù có nhiều tư liệu về đồ gốm Chămpa, nhưng việc nghiên cứu vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn là sự thiếu hụt tài liệu và sự phân tán của các hiện vật gốm trong các bảo tàng và sưu tập cá nhân. Điều này gây khó khăn trong việc tổng hợp và phân tích dữ liệu. Hơn nữa, nhiều hiện vật chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, dẫn đến việc hiểu biết về đồ gốm Chămpa còn hạn chế.

2.1. Thiếu hụt tài liệu và hiện vật

Nhiều hiện vật gốm Chămpa hiện đang được lưu giữ tại các bảo tàng địa phương nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Việc thiếu hụt tài liệu và hiện vật làm giảm khả năng phân tích và so sánh giữa các địa điểm khảo cổ học khác nhau.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận và nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các hiện vật gốm do sự phân tán và thiếu thông tin. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tổng hợp và phân tích dữ liệu, làm giảm tính chính xác trong nghiên cứu.

III. Phương pháp nghiên cứu đồ gốm Chămpa hiệu quả

Để nghiên cứu đồ gốm Chămpa một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành. Việc kết hợp giữa khảo cổ học, lịch sử và nghệ thuật sẽ giúp làm rõ hơn về nguồn gốc, kỹ thuật chế tác và vai trò của đồ gốm trong văn hóa Chămpa. Các phương pháp phân tích hiện vật, phân tích hóa học và khảo sát địa điểm cũng cần được áp dụng để thu thập dữ liệu chính xác.

3.1. Phân tích hiện vật gốm

Phân tích hiện vật gốm bao gồm việc xác định chất liệu, kỹ thuật chế tác và hoa văn trang trí. Các phương pháp như phân tích hóa học và phân tích hình thái sẽ giúp hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất và nguồn gốc của đồ gốm.

3.2. Khảo sát địa điểm khai quật

Khảo sát địa điểm khai quật là một phần quan trọng trong nghiên cứu đồ gốm. Việc thu thập dữ liệu từ các địa điểm khác nhau sẽ giúp so sánh và phân tích sự phát triển của đồ gốm Chămpa qua các thời kỳ.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu đồ gốm Chămpa

Nghiên cứu đồ gốm Chămpa không chỉ có giá trị về mặt học thuật mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chương trình giáo dục, trưng bày tại bảo tàng và phát triển du lịch văn hóa. Hơn nữa, việc bảo tồn các hiện vật gốm Chămpa cũng góp phần gìn giữ di sản văn hóa của dân tộc.

4.1. Giá trị văn hóa và giáo dục

Nghiên cứu đồ gốm Chămpa có thể được tích hợp vào chương trình giáo dục để nâng cao nhận thức về văn hóa và lịch sử. Các hiện vật gốm có thể được trưng bày tại bảo tàng để giới thiệu đến công chúng.

4.2. Phát triển du lịch văn hóa

Việc nghiên cứu và bảo tồn đồ gốm Chămpa có thể tạo ra cơ hội phát triển du lịch văn hóa. Các tour du lịch có thể được thiết kế để giới thiệu về văn hóa Chămpa và các hiện vật gốm, thu hút du khách đến tham quan và tìm hiểu.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu đồ gốm Chămpa

Nghiên cứu đồ gốm Chămpa thế kỷ I sau Công Nguyên là một lĩnh vực quan trọng trong khảo cổ học Việt Nam. Những kết quả đạt được từ các cuộc khai quật không chỉ giúp làm rõ hơn về văn hóa Chămpa mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các thế hệ sau. Tương lai của nghiên cứu đồ gốm Chămpa cần được tiếp tục phát triển, với sự kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu hiện đại và sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

5.1. Hướng nghiên cứu mới

Cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu về đồ gốm Chămpa, đặc biệt là trong việc áp dụng các công nghệ mới như phân tích hóa học và mô hình hóa 3D để hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất và phân bố của đồ gốm.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Hợp tác với các nhà nghiên cứu quốc tế sẽ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu và mở rộng mạng lưới hợp tác trong lĩnh vực khảo cổ học. Điều này cũng sẽ tạo cơ hội cho việc trao đổi kiến thức và kinh nghiệm trong nghiên cứu đồ gốm Chămpa.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ đồ gốm chămpa thiên niên kỉ i sau công nguyên qua tư liệu một số cuộc khai quật khảo cổ học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA CHĂMPA VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỒ GỐM CHĂMPA THIÊN NIÊN KỶ I SAU CÔNG NGUYÊN 1. Khái quát về văn hóa Chămpa 1. Không gian phân bố của các di tích văn hóa Chămpa 1. Giới hạn địa lý, điều kiện sinh thái vùng Trung và Nam Trung bộ Theo phân vùng địa lý tự nhiên, miền Trung Việt Nam tính từ Bắc Thanh Hóa đến Nam Phan Thiết, dài hơn 1.500km và được phân thành 3 vùng Bắc - Trung - Nam Trung bộ [100, tr.

Các di tích văn hóa Chămpa được phát hiện trên khắp các vùng địa hình khác nhau, tập trung chủ yếu từ Quảng Bình đến Ninh Thuận, Bình Thuận (Bản đồ 1). Như vậy, giới hạn về không gian nghiên cứu của luận án nằm trọn trong vùng Trung và Nam Trung bộ, trong đó các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên là khu vực trọng tâm, địa bàn nghiên cứu chính của luận án do tại đây có nhiều phát hiện và khai quật khảo cổ học cung cấp nguồn tư liệu quan trọng về đồ gốm Chămpa. Đến nay đã có khoảng 30 di tích Chămpa thiên niên kỷ I sau Công nguyên được thám sát, khai quật khảo cổ học (Bảng 1. Đặc điểm địa chất, địa hình Miền Trung là dải đất hẹp chiều ngang từ Tây sang Đông với giới hạn phía Tây là dãy Trường Sơn, phía Đông là biển.

Địa hình miền Trung Việt Nam gồm: rừng núi, lưu vực sông, vùng duyên hải và đảo ven bờ. Các vùng đất được phân cách và nối với nhau bởi nhiều đèo/nhánh núi từ dãy Trường Sơn đâm ngang ra biển như đèo Ba Đội, Đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, đèo Cả. Mối liên hệ giữa các vùng chủ yếu thông qua đường biển theo trục Bắc - Nam và hệ thống sông ngòi nội vùng. Do địa hình đồi núi chiếm đến ¾ diện tích lãnh thổ, lại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên thảm thực vật ở đây khá phong phú.

Đặc biệt vùng rừng Tây Nguyên cho đến ngày nay vẫn được đánh giá là một “kho tàng” có trữ lượng dồi dào về các loại gỗ và lâm sản quý hiếm. Đây cũng là yếu tố quan trọng chi phối đến 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề sản xuất gốm của cư dân Chămpa. Nguồn nguyên liệu chất đốt dồi dào, chất lượng tốt, được khai thác tại chỗ là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của các vùng sản xuất gốm không chỉ trong quá khứ mà cho đến tận ngày nay. Các đồng bằng khu vực Trung và Nam Trung bộ đều là những châu thổ hoặc đồng bằng cửa sông, diện tích không lớn1.

Những đồng bằng này có nguồn gốc khác nhau do các vịnh biển nông được hình thành từ phù sa các con sông từ cao nguyên chảy ra biển bồi tụ tạo nên hoặc do trầm tích biển tạo thành, hình thành nhiều mỏ đất sét tập trung có trữ lượng lớn nhưng chất lượng không cao [85, tr. Theo tài liệu khảo sát khoáng sản, hầu hết các vùng đồng bằng trên dải đất miền Trung từ Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đều có mỏ đất sét, cao lanh với trữ lượng dồi dào, tập trung dọc theo các dòng sông lớn2. Các mỏ đất sét có trữ lượng nhiều, chất lượng tốt, dễ khai thác trở thành nguồn nguyên liệu tự nhiên tại chỗ phục vụ cho nghề sản xuất gốm [85, tr. Đây là một trong những yếu tố thuận lợi quyết định đến sự phát triển của nghề sản xuất gốm Chămpa trong lịch sử.

Các đầm phá và cồn cát ven biển có diện tích nhỏ, chủ yếu có dạng dải dài, gần bờ biển. Hệ thống đầm phá tự nhiên cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các thương cảng gần cửa sông, cửa biển của vương quốc Chămpa sau này, là yếu tố thuận lợi thúc đẩy quan hệ thông thương, buôn bán trao đổi trong và ngoài khu vực. Đặc điểm khí hậu, thủy văn Miền Trung và Nam Trung bộ là nơi giao thoa khí hậu giữa hai miền Bắc – Nam nên mang tính chất khí hậu á nhiệt đới nóng ẩm điển hình. Dải Trường Sơn và các dãy hoành sơn đóng vai trò như những vật cản tự nhiên đối với gió mùa mùa hạ là yếu tố tác động lớn đến khí hậu vùng đất này.

1 Tổng diện tích đồng bằng ven biển miền Trung khoảng 14.000km2, bao gồm đồng bằng Quảng Bình 640km , Quảng Trị 610km2, Thừa Thiên Huế 910km2, Quảng Nam 1450km2, Quảng Ngãi 1200km2, Bình Định 2 1700km2, Phú Yên 820km2, Khánh Hòa 400km2, Phan Rang 220km2, Phan Thiết 310km2 2 Mỏ cao lanh tại Đại Lộc, Duy Xuyên (Quảng Nam) hay tại huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) có trữ lượng tới 4 triệu tấn. Mỏ cao lanh tại Phù Cát, Tuy Phước (Bình Định) có trữ lượng 25 triệu m 3, đất sét đỏ trữ lượng 12 triệu m3. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ Bắc xuống Nam, các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế có khí hậu tương đối giống nhau, có nét tương đồng với khí hậu các tỉnh miền Bắc, chia thành 4 mùa trong năm, mùa đông nhiệt độ xuống thấp, thỉnh thoảng có vài đợt gió lạnh. Khu vực phía Nam đèo Hải Vân mang khí hậu nhiệt đới khá điển hình, chia hai mùa mưa nắng rõ rệt.

Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8, thời tiết khô nóng, nhiệt độ tăng, độ ẩm giảm, cường độ nắng và số giờ nắng cao. Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 1, chiếm đến 80% - 85% lượng mưa trong cả năm, kèm theo hiện tượng mưa to tập trung trong một thời gian rất ngắn. Yếu tố khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm và cường độ nắng cao được xem như một trong những yếu tố thuận lợi tự nhiên giúp nghề sản xuất gốm phát triển sớm từ thời Tiền – Sơ sử đến ngày nay3. Mùa khô, khí hậu khô nóng, nhiên liệu dùng để đốt lò cung cấp nhiệt lượng cao.

Phôi gốm được phơi ngoài trời nhanh khô giúp rút ngắn thời gian hoàn thiện quy trình sản xuất gốm. Gắn kết giữa các đồng bằng duyên hải và miền núi của dải đất miền Trung là một hệ thống sông suối dày đặc chảy ngang theo chiều Tây - Đông ra biển cùng mạng lưới sông ngòi chảy ngang dọc ven biển, hay hệ thống đầm phá chạy dài tạo thành những nhịp cầu nối liền đồng bằng với miền đồi núi ở phía Tây [85, tr. Những dòng sông đóng vai trò như những con đường chuyển tải, giao tiếp văn hóa Tây – Đông, nối liền văn hóa Núi với văn hóa Biển [121, tr. Trên mỗi vùng đất đều có những dòng sông chính chảy theo hướng Đông Tây tạo nên một trục giao thông đường thủy thông suốt ra biển.

Dải đồng bằng Quảng Bình - Quảng Trị – Thừa Thiên – Huế với các dòng sông lớn như sông Gianh, sông Thạch Hãn, sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương; đồng bằng Quảng Nam, Đà Nẵng với các dòng sông Thu Bồn, sông Gia Vu, sông Cái; đồng bằng Quảng Ngãi với các dòng sông Trà Khúc, sông Trà Bồng; đồng bằng Bình Định với các dòng sông Côn, sông Hà Thanh; đồng bằng Phú Yên với sông Đà Rằng, sông Kỳ 3 Kết quả khảo sát, điều tra dân tộc học tại làng gốm Thanh Hà (Hội An) cho thấy trừ mùa mưa lũ (tháng 10, tháng 11 âm lịch) nước sông Thu Bồn dâng cao, hoạt động sản xuất gốm hầu như tạm ngừng, thời gian còn lại trong năm các lò gốm liên tục hoạt động, phôi gốm nung ngoài trời nhanh khô, củi, gỗ được dùng làm nhiên liệu đốt lò cũng được phơi khô nỏ nên cháy đượm, tỏa nhiệt tốt [Nguồn: Tác giả]. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lộ; đồng bằng Khánh Hòa với sông Cái; đồng bằng Ninh Thuận với sông Dinh; đồng bằng Bình Thuận với sông Quao, sông Lũy… đây là những đường giao thông đường thủy thuận lợi gắn kết các vùng kinh tế núi với biển tạo nên sức sống cho mỗi vùng đất trong cả quá khứ lẫn hiện tại [85, tr. Bờ biển Việt Nam dài khoảng 3.260km nên nước ta có chỉ số về tính biển (tỷ số giữa chiều dài bờ biển so với diện tích đất liền) là 0,016, đứng đầu trong các nước trên bán đảo Đông Dương. Do vậy, yếu tố biển luôn gắn bó mật thiết và ảnh hưởng sâu rộng đến khu vực miền Trung Việt Nam trong cả quá khứ lẫn hiện tại.

“Tính chất biển nâng cao vai trò của dải ven biển, hải đảo và biển Đông trong việc phát triển tổng hợp kinh tế biển và vị trí của kinh tế biển” trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nhà nước cổ đại trong lịch sử cũng như Việt Nam ngày nay [100, tr. Hệ thống cảng biển không những đưa sản phẩm (nông/lâm/thổ sản, đồ thủ công mỹ nghệ…) của cư dân Chămpa đi khắp nơi trong khu vực mà còn “nối dài” mối quan hệ trao đổi thương mại từ Chămpa đến các quốc gia khác. Đúng như nhận xét của cố GS. Trần Quốc Vượng “Biển không đóng vai trò và vị thế địa – văn hóa chia lìa mà đóng vai trò vị thế nối liền, gạch nối, liên kết, liên lạc…” [121, tr.

Bờ biển miền Trung lồi lõm, ngoài bờ là những đảo, cụm đảo được hình thành trong quá trình tạo sơn như: Hòn Cỏ - Hòn La (2 Hòn La), Hòn Nồm (2 Hòn Chùa), Hòn Gió (Quảng Bình), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Phú Yên), Hòn Tre (Khánh Hòa). Những đảo này một mặt là những “bình phong” ngăn chặn bớt sóng gió biển Đông [123, tr.308- 340], mặt khác chúng còn là tuyến đầu trong quá trình giao thoa văn hoá khu vực và quốc tế, nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, nối Bắc - Nam và Đông – Tây [23]. Khảo cổ học phát hiện dấu tích cư trú của cư dân Chămpa trên nhiều hòn đảo ngoài khơi xa như Cù Lao Chàm, Lý Sơn… Những bến, cảng thị cửa sông ven biển miền Trung Việt Nam hình thành nên mạng lưới trao đổi từ vùng cao - thấp và ngược lại, đồng thời đóng vai trò như cầu nối giữa Bắc và Nam, giữa lục địa và hải đảo. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đặc điểm phân bố các di tích văn hóa Chămpa Các di tích văn hóa Chămpa được phát hiện trên mọi loại địa hình của khu vực Trung và Nam Trung bộ nhưng phân bố chủ yếu tại các đồng bằng, ven các dòng sông lớn. Tại các đồng bằng trù phú, rộng rãi gần sông hoặc biển, các di tích thường phân bố tập trung thành cụm, quy mô di tích lớn. Tính từ Bắc xuống Nam, các di tích văn hóa Chămpa tập trung thành 5 khu vực chính [95, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ