Tổng quan nghiên cứu

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là một trong những bệnh lý thoái hóa thần kinh - cơ xương khớp phổ biến hàng đầu, gây suy giảm nghiêm trọng khả năng vận động và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Theo các nghiên cứu dịch tễ học quốc tế, tỷ lệ mắc hội chứng rễ thần kinh cổ hàng năm ước tính đạt khoảng 107,3 trường hợp trên 100.000 dân ở nam giới và 63,5 trường hợp trên 100.000 dân ở nữ giới. Tại Việt Nam, đa số bệnh nhân thường đến các cơ sở y tế ở giai đoạn muộn sau nhiều tháng chịu đựng triệu chứng, khi các khối thoát vị và chồi gai xương đã gây chèn ép tủy cổ hoặc rễ thần kinh nghiêm trọng, dẫn đến teo cơ và rối loạn vận động tứ chi.

Luận văn Chuyên khoa Cấp II chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình của tác giả Lâm Khải Duy, dưới sự hướng dẫn khoa học của Bác sĩ Nguyễn Hoàng Thuận tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, đã tập trung giải quyết bài toán cấp thiết trong chẩn đoán và điều trị ngoại khoa bệnh lý này. Nghiên cứu được triển khai thực hiện trên 53 bệnh nhân được phẫu thuật bằng phương pháp cắt đĩa, hàn liên thân đốt lối trước (Anterior Cervical Discectomy and Fusion - ACDF) tại Trung tâm Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ trong mốc thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 02/2022.

Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: mô tả toàn diện các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học cận lâm sàng và đánh giá kết quả phục hồi chức năng sau mổ của phương pháp ACDF sử dụng lồng ghép PEEK kết hợp nẹp vít cố định. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc chuẩn hóa quy trình điều trị ngoại khoa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tỷ lệ liền xương đạt trên 95% và cải thiện rõ rệt các chỉ số phục hồi chức năng thần kinh theo các thang điểm chuẩn hóa quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng giải phẫu học và sinh cơ học cột sống cổ gồm 7 đốt sống từ C1 đến C7, trong đó đoạn vận động từ C3 đến C7 là khu vực có biên độ hoạt động lớn nhất và dễ chịu tổn thương thoái hóa nhất. Quá trình thoái hóa đĩa đệm diễn ra đồng thời ở nhân nhầy, vòng sợi và các mâm sụn tận cùng, kết hợp với phản ứng phì đại dây chằng dọc sau và hình thành gai xương gây hẹp ống sống hoặc lỗ liên hợp.

Ba khái niệm lý thuyết then chốt được áp dụng trong đề tài bao gồm:

  1. Cơ chế sinh bệnh học chèn ép thần kinh: phân định rõ giữa hội chứng chèn ép tủy cổ (tổn thương bó tháp và chất trắng/chất xám trung ương), hội chứng chèn ép rễ thần kinh (tổn thương rễ vận động, cảm giác định khu) và hội chứng tủy - rễ phối hợp.
  2. Hệ thống phân loại tổn thương hình ảnh học: áp dụng thang phân độ thoái hóa đĩa đệm theo Pfirrmann (từ độ 1 đến độ 5) và phân độ tăng tín hiệu tủy trên chuỗi xung T2 của cộng hưởng từ (độ 0: không đổi, độ 1: tăng tín hiệu mờ, độ 2: tăng tín hiệu sáng rõ) nhằm tiên lượng khả năng hồi phục mô thần kinh.
  3. Kỹ thuật ngoại khoa kinh điển Smith - Robinson cải tiến: tiếp cận cột sống cổ qua đường mổ trước bên, lấy bỏ triệt để đĩa đệm và gai xương giải ép, sau đó tái lập chiều cao khoang gian đốt bằng lồng PEEK (Polyetheretherketone) nhồi xương mào chậu tự thân và cố định vững chắc bằng nẹp vít mặt trước thân đốt sống.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi tiến cứu trên các bệnh nhân nhập viện và phẫu thuật trong thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 02/2022. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (tương ứng trị số Z = 1,96), sai số cho phép d = 0,06. Tỷ lệ tham chiếu dự kiến p = 95,1% lấy từ báo cáo phục hồi tốt và rất tốt của các nghiên cứu cùng chuyên ngành trước đó, cho kết quả cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là 50 bệnh nhân. Trên thực tế lâm sàng, tác giả đã thu thập được cỡ mẫu thuận tiện gồm 53 trường hợp đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn.

Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm các bệnh nhân trên 15 tuổi có thoát vị đĩa đệm 1 tầng được xác định chính xác qua hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) và cắt lớp vi tính (CT-scan), có triệu chứng lâm sàng tương ứng và không đáp ứng với điều trị nội khoa bảo tồn sau ít nhất 6 tháng. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các trường hợp cốt hóa dây chằng dọc sau lan tỏa, u tủy, viêm nhiễm trùng cột sống, hoặc có các bệnh lý nội khoa nặng không thể phẫu thuật.

Toàn bộ dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng được lượng hóa thông qua thang điểm JOA (Japanese Orthopaedic Association) thang điểm 17 dành cho bệnh lý tủy, thang điểm TANAKA thang điểm 20 dành cho bệnh lý rễ, thang điểm đau VAS và đánh giá liền xương theo tiêu chuẩn Bridwell trên X-quang sau 3 và 6 tháng. Số liệu được mã hóa, xử lý và phân tích bằng phần mềm thống kê y học chuyên dụng SPSS phiên bản 20.0, áp dụng các thuật toán thống kê mô tả và kiểm định tương quan phi tham số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Qua quá trình theo dõi và phân tích 53 bệnh nhân được phẫu thuật ACDF tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, nghiên cứu đã ghi nhận những phát hiện nổi bật sau:

Về đặc điểm nhân khẩu học: Độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 53,40 ± 14,12 tuổi, trải dài từ 17 đến 78 tuổi. Trong đó, nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,85% (19 bệnh nhân), tiếp theo là nhóm 51-60 tuổi chiếm 24,53% (13 bệnh nhân), nhóm 41-50 tuổi chiếm 22,64% (12 bệnh nhân) và dưới 40 tuổi chiếm 16,98% (9 bệnh nhân). Nam giới chiếm đa số với 77,36% (41 ca), nữ giới chiếm 22,64% (12 ca), tạo nên tỷ số nam/nữ là 3,42/1. Về nghề nghiệp, nhóm người hết tuổi lao động chiếm 35,85%, lao động nông nghiệp chiếm 20,75%, trong khi nhân viên văn phòng và công nhân cùng chiếm tỷ lệ 1,89%.

Về biểu hiện lâm sàng khi nhập viện: Triệu chứng đau vùng cổ - vai xuất hiện ở 100% bệnh nhân (53/53 ca) và luôn là dấu hiệu khởi phát sớm nhất. Triệu chứng yếu hoặc liệt vận động tứ chi chiếm tỷ lệ rất cao với 73,58% (39 ca), tê bì chi trên chiếm 67,92% (36 ca), tê bì chi dưới chiếm 35,85% (19 ca) và có 13,21% (7 ca) gặp tình trạng rối loạn cơ tròn với biểu hiện bí tiểu. Phân bố theo hội chứng bệnh học cho thấy: hội chứng chèn ép tủy đơn thuần chiếm ưu thế tuyệt đối với 77,36% (41 ca), hội chứng chèn ép rễ chiếm 15,09% (8 ca) và hội chứng tủy - rễ phối hợp chiếm 7,55% (4 ca).

Đối với nhóm 8 bệnh nhân mang hội chứng chèn ép rễ thần kinh: 100% có biểu hiện đau cổ hạn chế vận động, đau lan dọc vai cánh tay, dị cảm theo khoanh rễ chi phối và nghiệm pháp Spurling dương tính 100%. Tình trạng tê bì đầu chi và yếu tay cùng xuất hiện ở 87,50% (7 ca), giảm độ khéo léo bàn tay chiếm 50% (4 ca) và có 12,50% (1 ca) đã xuất hiện teo cơ rõ rệt. Phân loại mức độ nặng trước phẫu thuật theo thang điểm TANAKA ghi nhận 75% (6 ca) ở mức độ trung bình và 25% (2 ca) ở mức độ nặng.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu bệnh nhân trong nghiên cứu cho thấy sự tập trung chủ yếu ở độ tuổi trung niên và cao tuổi (hơn 60% bệnh nhân từ 51 tuổi trở lên) cùng sự áp đảo của nam giới (77,36%). Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh cơ học cột sống, khi sự thoái hóa đĩa đệm tiến triển theo tuổi tác kết hợp với các vi chấn thương lặp đi lặp lại trong quá trình lao động thể lực nặng nhọc của nam giới làm đẩy nhanh quá trình rách bao xơ và thoát vị nhân nhầy. Tỷ lệ nông dân và lao động chân tay chiếm tỷ trọng lớn tại khu vực miền Tây Nam Bộ cũng là yếu tố môi trường tác động rõ nét đến mô hình bệnh tật này.

Tỷ lệ bệnh nhân mang hội chứng chèn ép tủy và tủy - rễ phối hợp chiếm tới 84,91% phản ánh thực trạng bệnh nhân cột sống cổ tại các tỉnh phía Nam thường nhập viện ở giai đoạn muộn. Khi đĩa đệm thoát vị trung tâm hoặc cạnh trung tâm kích thước lớn chèn ép vào tủy sống, các triệu chứng kín đáo ban đầu như tê bì đầu chi dễ bị bỏ qua, dẫn đến việc người bệnh chỉ tìm đến phẫu thuật khi đã có rối loạn dáng đi hoặc liệt vận động chi trên và chi dưới.

So sánh với các công trình nghiên cứu trong nước, kết quả điều trị của luận văn có sự tương đồng và khẳng định tính ưu việt của phương pháp ACDF. Nghiên cứu của Lê Trọng Sanh (2010) trên 72 bệnh nhân mổ lối trước có hàn thân đốt cho tỷ lệ kết quả tốt và rất tốt đạt 87,49%. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Tuyên (2016) ghi nhận mức độ phục hồi chức năng thần kinh sau 6 tháng đạt 70,3 ± 12,19%. Tương tự, nghiên cứu của Vũ Văn Hòe và Nguyễn Văn Hưng (2010) trên 145 bệnh nhân cũng đạt tỷ lệ thành công chung trên 76%. Việc sử dụng lồng PEEK nhồi xương tự thân kết hợp nẹp vít cố định trong nghiên cứu tại Cần Thơ đã giúp phục hồi góc ưỡn sinh lý cột sống cổ trên phim X-quang đạt khoảng cách giải phẫu trên 6 mm theo tiêu chuẩn Profeta, đồng thời thúc đẩy quá trình tạo cầu xương liên thân đốt đạt mức độ 1 và độ 2 trên 95% sau 6 tháng mà không gặp biến chứng gãy vỡ lồng ghép hay lỏng nẹp vít nghiêm trọng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình chẩn đoán sớm và sàng lọc tại tuyến cơ sở: Bác sĩ chuyên khoa tại các bệnh viện tuyến quận, huyện và tuyến tỉnh cần chủ động chỉ định chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống cổ cho mọi bệnh nhân có triệu chứng đau cổ vai gáy lan xuống chi trên kéo dài trên 4 tuần hoặc điều trị nội khoa không thuyên giảm sau 6 tháng. Mục tiêu nâng tỷ lệ phát hiện sớm thoát vị đĩa đệm lên trên 90% trước khi xuất hiện tổn thương tăng tín hiệu tủy độ 2 trên phim MRI T2.
  2. Tối ưu hóa kỹ thuật vi phẫu ACDF và an toàn phẫu thuật: Phẫu thuật viên Chấn thương chỉnh hình và Ngoại thần kinh cần triệt để ứng dụng kính vi phẫu phóng đại kết hợp định vị màn tăng sáng (C-arm) trong quá trình bộc lộ và cắt đĩa. Mục tiêu giảm lượng máu mất trong mổ xuống dưới mức 50 ml/ca, kiểm soát thời gian phẫu thuật dưới 90 phút và loại trừ hoàn toàn nguy cơ tổn thương thực quản, bó mạch cảnh cùng dây thần kinh thanh quản quặt ngược trong giai đoạn 2024-2026.
  3. Hiện đại hóa vật liệu ghép và trang thiết bị chuyên sâu: Ban Giám đốc các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh cần đầu tư đồng bộ hệ thống dụng cụ vi phẫu mài xương cao tốc và cung ứng đầy đủ lồng PEEK sinh học kết hợp nẹp khóa đa trục. Giải pháp này nhằm đảm bảo tỷ lệ liền xương sinh học đạt trên 98% sau 6 tháng hậu phẫu, triệt tiêu nguy cơ trồi lún lồng ghép vào thân đốt sống.
  4. Xây dựng phác đồ phục hồi chức năng vận động cá thể hóa: Đội ngũ kỹ thuật viên vật lý trị liệu phối hợp với bác sĩ ngoại khoa hướng dẫn bệnh nhân tập vận động nhẹ nhàng tại giường từ ngày thứ 2 sau mổ, duy trì mang đai cổ mềm định hình trong 2 đến 4 tuần đầu. Mục tiêu nâng tỷ lệ phục hồi chức năng thần kinh (Recovery Rate - RR) theo thang điểm JOA và TANAKA đạt trên 85% tại thời điểm tái khám sau 6 tháng xuất viện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ chuyên khoa Chấn thương chỉnh hình và Ngoại thần kinh: Cung cấp tài liệu hướng dẫn lâm sàng chi tiết về các bước phẫu thuật lối trước Smith - Robinson, kinh nghiệm kiểm soát cầm máu tĩnh mạch ngoài màng cứng, phương pháp đo đạc kích thước lồng PEEK và kỹ thuật uốn nẹp vít chính xác theo độ ưỡn sinh lý của từng bệnh nhân.
  2. Học viên Sau đại học, Bác sĩ Chuyên khoa cấp II và Bác sĩ Nội trú: Nguồn tài liệu học thuật giá trị phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, cung cấp mẫu thiết kế nghiên cứu tiến cứu chuẩn mực, phương pháp phân tích thống kê y học bằng SPSS và cách vận dụng các thang điểm lượng giá quốc tế JOA, TANAKA, Pfirrmann trong đánh giá bệnh lý cột sống.
  3. Lãnh đạo bệnh viện và Trưởng khoa Ngoại các bệnh viện đa khoa khu vực: Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực tiễn để xây dựng đề án phát triển kỹ thuật phẫu thuật cột sống cổ lối trước tại đơn vị, giúp giảm tải chuyển tuyến trên và nâng cao năng lực điều trị ngoại khoa kỹ thuật cao tại chỗ.
  4. Bác sĩ và Cử nhân Phục hồi chức năng - Vật lý trị liệu: Nắm bắt sâu sắc diễn tiến tổn thương rễ và tủy cổ trước và sau can thiệp ngoại khoa, từ đó thiết kế các bài tập vận động, kéo giãn và tập cơ cổ chuyên biệt phù hợp với từng giai đoạn liền xương sau mổ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Phẫu thuật cắt đĩa và hàn liên thân đốt lối trước (ACDF) có những ưu điểm vượt trội nào? Phương pháp ACDF qua đường mổ trước bên đi theo khe tự nhiên giữa bao cảnh và tạng cổ, cho phép tiếp cận trực diện khối thoát vị mà không làm tổn thương hệ thống cơ và bản sống phía sau. Nghiên cứu trên 53 bệnh nhân chứng minh đường mổ này giúp giải ép triệt để tủy sống, phục hồi chiều cao khe đĩa và duy trì vững chắc độ ưỡn cột sống cổ với tỷ lệ biến chứng rất thấp.

  2. Tại sao lồng PEEK lại được ưa chuộng hơn mảnh ghép xương mào chậu tự thân đơn thuần? Lồng PEEK có mô đun đàn hồi xấp xỉ xương xốp tự nhiên, giúp phân bố lực tải cơ sinh học đồng đều và tránh hiện tượng sụp lún mâm đốt sống. Đồng thời, việc nhồi xương mào chậu vào lồng PEEK giúp đạt tỷ lệ liền xương trên 95% mà không cần lấy mảnh xương chậu quá lớn, loại bỏ hoàn toàn các biến chứng đau mạn tính, tụ máu và nhiễm trùng tại vị trí lấy xương chậu.

  3. Khi nào bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ bắt buộc phải can thiệp phẫu thuật? Can thiệp ngoại khoa được chỉ định tuyệt đối khi bệnh nhân có hội chứng chèn ép tủy cổ tiến triển, xuất hiện teo cơ, yếu liệt vận động tứ chi, hoặc đau rễ thần kinh dữ dội không đáp ứng sau 3 đến 6 tháng điều trị nội khoa đúng phác đồ. Trong nghiên cứu, 73,58% bệnh nhân có biểu hiện yếu liệt tứ chi và 100% thất bại với điều trị bảo tồn đã được phẫu thuật kịp thời và đạt kết quả khả quan.

  4. Mức độ hồi phục chức năng thần kinh sau phẫu thuật được đánh giá bằng các tiêu chí nào? Nghiên cứu sử dụng thang điểm JOA thang điểm 17 đối với hội chứng tủy và thang điểm TANAKA thang điểm 20 đối với hội chứng rễ để tính tỷ lệ hồi phục (Recovery Rate - RR) tại các thời điểm xuất viện, 3 tháng và 6 tháng. Ngoài ra, mức độ liền xương được lượng hóa qua phim X-quang theo 4 mức độ của Bridwell kết hợp thang điểm đau VAS để đánh giá toàn diện kết quả điều trị.

  5. Tình trạng tăng tín hiệu tủy trên phim cộng hưởng từ T2 có ý nghĩa tiên lượng như thế nào? Hiện tượng tăng tín hiệu tủy trên chuỗi xung T2 phản ánh tình trạng phù nề, thiếu máu cục bộ hoặc nhuyễn tủy do chèn ép mạn tính. Bệnh nhân có tăng tín hiệu tủy độ 0 (không đổi) hoặc độ 1 (tăng nhẹ mờ) thường đạt tỷ lệ hồi phục JOA sau mổ cao hơn rõ rệt so với những trường hợp tăng tín hiệu tủy độ 2 (sáng rõ), cho thấy tầm quan trọng của việc phẫu thuật giải ép sớm trước khi tổn thương tủy trở nên không hồi phục.

Kết luận

  • Luận văn đã mô tả toàn diện bức tranh lâm sàng của 53 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ với độ tuổi trung bình 53,40 tuổi, nam giới chiếm ưu thế 77,36% và triệu chứng đau cổ vai xuất hiện ở 100% trường hợp.
  • Khẳng định vai trò thiết yếu của cộng hưởng từ (MRI) và cắt lớp vi tính (CT-scan) trong việc chẩn đoán định khu chính xác tầng thoát vị, đánh giá mức độ thoái hóa theo Pfirrmann và phát hiện sớm tổn thương tủy qua hình ảnh tăng tín hiệu trên T2.
  • Chứng minh tính hiệu quả và độ an toàn cao của kỹ thuật cắt đĩa, hàn liên thân đốt lối trước (ACDF) sử dụng lồng PEEK kết hợp nẹp vít cố định, giúp phục hồi vững chắc độ ưỡn sinh lý cột sống cổ và cải thiện vượt trội các chỉ số JOA, TANAKA.
  • Đề xuất quy trình theo dõi lâm sàng và X-quang chặt chẽ sau mổ tại các mốc 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng nhằm đánh giá tiến trình liền xương Bridwell và kiểm soát các yếu tố thoái hóa tầng lân cận.
  • Các bác sĩ ngoại khoa và cơ sở y tế chuyên khoa Chấn thương chỉnh hình cần đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật ACDF vi phẫu để mang lại cơ hội phục hồi vận động toàn diện cho người bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.