Tổng quan luận án
Luận án Tiến sĩ Răng Hàm Mặt của nghiên cứu sinh Quách Huy Chức, thực hiện tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trịnh Đình Hải và PGS. Lê Thị Thu Hà, bảo vệ năm 2023 với đề tài "Nghiên cứu điều trị nhạy cảm ngà răng ở người lao động trong ngành sản xuất hoá chất bằng Seal & Protect", mã số chuyên ngành: 9720501.
Vấn đề nhạy cảm ngà răng (NCNR) chiếm tỷ lệ phổ biến trong thực hành nha khoa hiện đại, biểu hiện qua triệu chứng ê buốt khi tiếp xúc với các kích thích cơ học, nhiệt độ, thẩm thấu hoặc hóa học. Trong số các căn nguyên gây tổn thương mô cứng của răng, hiện tượng mòn răng hóa học do môi trường lao động có hơi axít được xem là yếu tố nguy cơ nghiêm trọng, phá hủy men răng và làm hở hệ thống ống ngà, dẫn đến viêm tủy, chết tủy, gãy vỡ tổ chức cứng và mất răng. Tại Nhật Bản, NCNR bắt nguồn từ mòn răng hóa học đã được công nhận là bệnh nghề nghiệp từ năm 1992. Tại Việt Nam, sự mở rộng của các tổ hợp sản xuất hóa chất vô cơ—tiêu biểu là Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao (Phú Thọ) với quy mô trên 3.000 cán bộ, công nhân viên và dây chuyền sản xuất axít sunfuric, phân bón supe lân—đã tạo ra môi trường làm việc có nồng độ hơi axít (HF, SO2, H2SO4) cao, tác động trực tiếp đến cấu trúc răng của công nhân. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã xác nhận tỷ lệ mòn răng và NCNR ở nhóm công nhân tiếp xúc axít trực tiếp lên tới 69%, việc ứng dụng các vật liệu dán dính quang trùng hợp thế hệ mới để bảo tồn và điều trị can thiệp tại chỗ trong thời gian theo dõi dài hạn vẫn còn thiếu hụt dữ liệu lâm sàng hệ thống.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể gồm hai nội dung:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng nhạy cảm ngà răng ở người lao động trong ngành sản xuất hóa chất có tiếp xúc với axít tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao năm 2015.
- Đánh giá hiệu quả điều trị nhạy cảm ngà răng bằng Seal & Protect ở nhóm người lao động có tiếp xúc với axít nêu trên trong 12 tháng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Người lao động đang làm việc tại Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao. Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 868 công nhân (sàng lọc phát hiện 518 công nhân mắc hội chứng NCNR); nghiên cứu can thiệp lâm sàng dọc thực hiện trên 1054 răng bị nhạy cảm ngà của những công nhân có tiếp xúc với axít.
- Phạm vi không gian: Các xí nghiệp sản xuất trực tiếp (axít, supe phốt phát, NPK, phân lân nung chảy) và các bộ phận tiếp xúc gián tiếp (khối văn phòng, xí nghiệp nước, đời sống, kho hàng) tại Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, xã Cao Mại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai thực địa và theo dõi lâm sàng từ năm 2015 đến năm 2017 (khám sàng lọc cắt ngang năm 2015; can thiệp và theo dõi hiệu quả điều trị dọc qua các mốc tức thì, 03 tháng, 06 tháng và 12 tháng hoàn tất vào năm 2017).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa bức tranh nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học NCNR, cơ chế xói mòn răng do hóa chất công nghiệp và các phương thức can thiệp điều trị che phủ bề mặt ngà răng.
Về phương diện dịch tễ học và bệnh học mòn răng hóa học trên thế giới:
- Hollan G.R và cộng sự (2002) tại Hội nghị nhạy cảm ngà răng Canada đã chuẩn hóa định nghĩa NCNR.
- Addy M. và cộng sự nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của NCNR đến sinh hoạt thường ngày.
- Nghiên cứu toàn cầu trên 11.000 đối tượng ghi nhận tỷ lệ NCNR trung bình là 46% (Bắc Mỹ 37%, Châu Âu 45%, khu vực khác 52%), với tỷ lệ người bệnh đi khám là 48%.
- Rees J. và cộng sự (2003) nghiên cứu trên 2.640 đối tượng chỉ ra tỷ lệ NCNR là 41,7%, phổ biến ở lứa tuổi 20-50 và tập trung cao nhất ở nhóm 30-40 tuổi; tỷ lệ nữ giới mắc cao hơn nam giới do tần suất chải răng nhưng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
- Về mòn răng nghề nghiệp: Yuji S. và cộng sự (2010) tại Đại học Nha khoa Tokyo khảo sát nhà máy ắc quy cho thấy tỷ lệ xói mòn răng tăng theo thâm niên làm việc: 10-14 năm là 42,9%; 15-19 năm là 57,1%; trên 20 năm là 66,7% (tương ứng với nồng độ axít sulfuric môi trường từ 0,5 đến 8 mg/m3). Chikte U. và cộng sự chỉ ra nguy cơ xói mòn răng ở công nhân nhà máy sản xuất axít cao gấp 3-5 lần bình thường. Agrawal R. và cộng sự (2014) ghi nhận tỷ lệ NCNR ở công nhân tiếp xúc axít là 57,6%. Westergaard J. khảo sát tác động của hơi axít acetic và men thủy phân protein tại cơ sở công nghệ sinh học; Chuajedong P. và cộng sự (2002), Amin W. (2001) nghiên cứu giải phẫu vị trí tổn thương mòn răng nhận thấy mặt nhai và cổ răng tổn thương nhiều nhất, tăng rõ theo độ tuổi.
Về các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Tống Minh Sơn và cộng sự (2010) ghi nhận tỷ lệ NCNR tại Công ty than Thống Nhất là 9,07%; nghiên cứu năm 2011 tại Công ty Bảo hiểm nhân thọ ghi nhận tỷ lệ 47,74%; Tống Minh Sơn và Nguyễn Thị Nga (2011) ghi nhận 38,5% sinh viên ngành Răng Hàm Mặt bị NCNR.
- Hoàng Đạo Bảo Trâm (2012) ghi nhận tỷ lệ NCNR tại Việt Nam dao động 47-48% ở lứa tuổi 30-40.
- Lê Thị Hải Yến (2006) tại Bệnh viện Hữu Nghị và Phạm Lệ Quyên, Hoàng Tử Hùng (2007) ghi nhận mức độ mòn ngà tăng dần theo tuổi và tổn thương nặng ở mặt nhai, rìa cắn.
- Nghiên cứu môi trường và bệnh học hóa chất: Nguyễn Thị Vinh (2001) ghi nhận nồng độ HF tại Xí nghiệp Supe Lâm Thao vượt tiêu chuẩn 3-4 lần; Nguyễn Duy Bảo (2014) ghi nhận mùa nóng có 20/20 mẫu HF vượt quy chuẩn 1,43-7,19 lần, H2SO4 vượt 1,03-1,86 lần; Vũ Thị Ngọc Anh và cộng sự (2013, 2017) khảo sát tại Công ty Hóa chất Việt Trì (tỷ lệ mòn răng 57,9%) và Nhà máy Supe Lâm Thao (tỷ lệ mòn răng hóa học 22,3%, nguy cơ mòn răng của nhóm tiếp xúc axít gấp 1,75 lần nhóm gián tiếp, tỷ lệ NCNR nhóm tiếp xúc trực tiếp là 69%).
Về đánh giá vật liệu Seal & Protect:
- Kim S.Y và cộng sự (2013) tại Đại học Kyung Hee chứng minh Seal & Protect làm giảm lưu lượng dòng chảy dịch trong ống ngà (DFF) tốt hơn Gluma Desensitizer và Bi-Fluorid 12 dưới kính hiển vi điện tử (p < 0,05).
- Schemehorn kiểm tra thử nghiệm mài mòn sau 20.000 lượt chải răng (tương đương 1 năm sinh hoạt) xác nhận lớp phủ Seal & Protect vẫn lưu giữ tốt trên tiêu bản răng so với vec-ni bóng Cervitec.
- Volpe A.R và cộng sự (1993) tại London ghi nhận điểm NCNR giảm từ 6,91 trước can thiệp xuống 0,36 (sau 3 tháng), 0,94 (sau 6 tháng) và 2,08 (sau 12 tháng).
- Chadwick R.G (2008) tại Scotland chứng minh Seal & Protect giúp giảm ê buốt 72,01% sau 3-6 tháng, vượt trội so với kem Sensodyne (36,84%) và vec-ni Duraphat (53,08%).
- Erdemir U và cộng sự (2010) tại Istanbul đánh giá trên 131 răng ghi nhận điểm VAS của Seal & Protect giảm có ý nghĩa thống kê (p = 0,0001).
- Tại Việt Nam: Lê Thị Bình (2014) can thiệp 165 răng bằng Seal & Protect cho kết quả tốt ngay sau điều trị đạt 89,2%, sau 3 tháng đạt 60,4% và sau 6 tháng đạt 45,2%; Phạm Thị Việt Dung (2013) ghi nhận tỷ lệ đạt kết quả tốt ngay sau điều trị là 70-80%.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây tại Việt Nam đa phần khảo sát trên bệnh nhân phòng khám thông thường, học sinh - sinh viên hoặc chỉ dừng lại ở khảo sát dịch tễ cắt ngang nguy cơ mòn răng ở công nhân hóa chất. Chưa có công trình nào đánh giá thực trạng lâm sàng NCNR trên quần thể công nhân tiếp xúc axít quy mô lớn (868 người), đồng thời tiến hành can thiệp lâm sàng bằng Seal & Protect trên cỡ mẫu răng lớn (1054 răng) với thiết kế theo dõi dọc định kỳ kéo dài 12 tháng trong điều kiện đối tượng tiếp tục làm việc tại môi trường sản xuất có hơi axít.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm:
- Cơ chế bệnh sinh NCNR: Luận án phân tích ba học thuyết kinh điển: thuyết thần kinh, thuyết dẫn truyền nguyên bào tạo răng và thuyết thủy động lực học của Brännström và cộng sự. Luận án lấy thuyết thủy động lực học làm nền tảng: các tác nhân kích thích nhiệt độ, hóa chất, cơ học làm thay đổi áp lực và vận tốc dòng dịch ngà bên trong ống ngà, kích thích đầu tận cùng sợi thần kinh A-delta (A-δ) tại ranh giới tủy - ngà gây cảm giác ê buốt nhói. Dưới kính hiển vi điện tử, bề mặt ngà quá cảm có mật độ ống ngà hở cao gấp 8 lần và khẩu kính lòng ống rộng gấp đôi răng bình thường.
- Cơ chế xói mòn răng hóa học do nghề nghiệp: Tinh thể hydroxyapatite Ca10(PO4)6(OH)2 của men và ngà răng bị phân rã trực tiếp khi tiếp xúc axít ngoại sinh có pH dưới 4,5 (trong khi men răng có ngưỡng pH tới hạn là 5,5). Sự hòa tan khoáng chất giải phóng ion canxi làm mềm mô răng. Trong nhà máy hóa chất, công nhân thường xuyên hít thở hơi khí SO2, HF, H2SO4; phản ứng kích thích niêm mạc hô hấp khiến người lao động có phản xạ thở miệng, làm hơi axít tiếp xúc trực tiếp mặt ngoài và rìa cắn các răng trước, thúc đẩy quá trình mòn ngà và mở rộng các ống ngà.
- Cơ sở vật liệu học của Seal & Protect: Sản phẩm do hãng Dentsply Sirona sản xuất (FDA chứng nhận năm 1999). Thành phần gồm: PENTA (dipentaerythritol pentaacrylate monophosphate) có vai trò hoạt hóa bám dính và liên kết ngang; MA resins (di- và trimethacrylate) tạo độ bền khung polymer; hạt độn siêu nhỏ công nghệ nano kháng mài mòn cơ học; CAFH (cetylamine hydrofluoride) giải phóng fluor hữu cơ; chất kháng khuẩn Triclosan với nồng độ ức chế tối thiểu MIC 10 ppm phá hủy màng tế bào của Streptococcus mutans và Lactobacillus; dung môi acetone vận chuyển chất kết dính. Vật liệu tạo lớp lai thâm nhập sâu vào ngà răng dày 7-10 µm và phủ lớp bề mặt bảo vệ dày 35-40 µm.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Thiết kế nghiên cứu: Kết hợp hai giai đoạn:
- Giai đoạn mô tả cắt ngang: Khảo sát lâm sàng, dịch tễ trên 868 công nhân Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao năm 2015.
- Giai đoạn can thiệp lâm sàng theo dõi dọc không đối chứng: Điều trị 1054 răng bị NCNR của công nhân tiếp xúc axít bằng Seal & Protect, đánh giá kết quả tại 4 thời điểm: Tức thì ngay sau điều trị, sau 03 tháng, sau 06 tháng và sau 12 tháng.
- Quy trình kỹ thuật khám và lượng giá NCNR:
- Khám răng miệng bằng bộ khay khám chuẩn, đánh giá chỉ số mòn răng TWI (Tooth Wear Index) của Smith và Knight (1984).
- Nghiệm pháp kích thích luồng khí lạnh: Sử dụng luồng hơi từ ghế nha khoa với áp lực chuẩn 60 psi, nhiệt độ 21-22°C, xịt vuông góc cách bề mặt ngà lộ 1 cm trong thời gian 1 giây (che chắn các răng lân cận).
- Nghiệm pháp kích thích cơ học: Sử dụng máy đo Yeaple Force-Sensing Probe (hãng XixiX Research, Portsmouth, Hoa Kỳ); đầu que thăm dò đặt vuông góc mặt răng, tăng dần lực kích thích mỗi lần 10g đến khi xuất hiện cảm giác ê buốt (lực kích thích tối đa 70g; nếu đạt 70g mà không ê buốt thì xác định răng không nhạy cảm).
- Thang điểm lượng giá lâm sàng:
- Thang thị giác VAS (Visual Analog Scale): Thước đo chia vạch 0-100 mm (0 mm: không ê buốt; 1-40 mm: ê buốt nhẹ; 41-70 mm: ê buốt vừa; 71-99 mm: ê buốt nặng; 100 mm: ê buốt rất nặng).
- Thang lời nói VRS (Verbal Rating Scale): 4 mức độ (0 điểm: không ê buốt; 1 điểm: nhẹ; 2 điểm: vừa, bắt đầu khó chịu; 3 điểm: nặng, ê buốt kéo dài trên 10 giây).
- Thang điểm Schiff: 0-3 điểm dựa trên phản ứng của bệnh nhân khi xịt hơi.
- Quy trình can thiệp Seal & Protect: Làm sạch bề mặt răng bằng chổi cước và bột đánh bóng không chứa fluor; cô lập răng bằng bông gòn và hút nước bọt; thổi khô nhẹ (không làm mất nước ngà hoàn toàn); bôi lớp Seal & Protect thứ nhất, để yên 20 giây cho ngấm vào ống ngà; thổi khô nhẹ bằng luồng hơi 5 giây để bay hơi dung môi acetone; chiếu đèn quang trùng hợp 10 giây; bôi tiếp lớp thứ hai tương tự, thổi hơi nhẹ và chiếu đèn quang trùng hợp thêm 10 giây; kiểm tra sự bám dính và làm sạch phần thừa.
- Nguồn tư liệu và công cụ phân tích: Toàn bộ số liệu thu thập qua phiếu khám chuyên biệt, phỏng vấn tiền sử nghề nghiệp, số năm công tác, thói quen vệ sinh răng miệng, kết hợp số liệu quan trắc môi trường lao động tại cơ sở. Dữ liệu được mã hóa và xử lý bằng các thuật toán thống kê y học.
| Chỉ số / Thang đo |
Công cụ / Kỹ thuật thực hiện |
Tiêu chí phân loại / Điểm số |
| Kích thích khí lạnh |
Ghế nha khoa (áp lực 60 psi, 21-22°C, 1s, cách 1cm) |
Phản ứng ê buốt của người bệnh |
| Kích thích cơ học |
Máy Yeaple Force-Sensing Probe (bước tăng 10g) |
Ngưỡng ê buốt (0 - 70g; >= 70g: không nhạy cảm) |
| Thang đo VAS |
Thước đo chia độ 0 - 100 mm |
0: Bình thường; 1-40: Nhẹ; 41-70: Vừa; 71-99: Nặng; 100: Rất nặng |
| Thang đo VRS |
Bảng điểm mô tả lời nói (4 mức) |
0: Không ê buốt; 1: Nhẹ; 2: Vừa; 3: Nặng kéo dài > 10 giây |
| Thang đo Schiff |
Đánh giá đáp ứng sau xịt hơi |
0: Không đáp ứng; 1: Có đáp ứng; 2: Đáp ứng và yêu cầu dừng; 3: Đau dữ dội |
| Chỉ số mòn răng |
Chỉ số TWI của Smith và Knight (1984) |
Phân độ tổn thương mất chất tổ chức cứng bề mặt răng |
Nội dung chính theo từng chương
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tác giả nêu bật bối cảnh gia tăng bệnh lý mô cứng của răng trong nha khoa công nghiệp. Khẳng định mối liên hệ nhân quả giữa mòn răng hóa học do hơi axít và hội chứng NCNR ở công nhân sản xuất phân bón vô cơ. Xác định khoảng trống trong việc ứng dụng kỹ thuật dán dính Seal & Protect để can thiệp điều trị tại chỗ và thiết lập hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể cho đề tài tại Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao.
Chương 1: TỔNG QUAN
Chương 1 gồm 37 trang, hệ thống hóa toàn diện các khía cạnh lý luận và thực tiễn:
- Giải phẫu và sinh lý bệnh học tủy - ngà: Đặc tính khoáng hóa của men (95% chất vô cơ hydroxyapatite), cấu trúc ngà răng với hệ thống ống ngà liên tục bồi đắp trong suốt đời sống, vai trò nuôi dưỡng và cảm giác của tủy răng qua sợi thần kinh có bao myelin A-delta và sợi C không bao myelin.
- Cơ chế NCNR: Phân tích 3 học thuyết (thần kinh, nguyên bào tạo ngà, thủy động lực học), chứng minh tính ưu việt của thuyết thủy động lực học Brännström.
- Phân loại các dạng mòn răng: Mòn răng - răng do nghiến răng; mòn cơ học do chải răng ngang hoặc lực ma sát ngoại lai; mòn hóa học do axít nội sinh (trào ngược dạ dày thực quản) và axít ngoại sinh (chế độ ăn, hơi hóa chất công nghiệp); tổn thương tiêu cổ răng hình chêm.
- Độc chất học công nghiệp và chỉ số pH: Men răng bắt đầu hòa tan ở pH 5,5; khi tiếp xúc dung dịch hoặc hơi hóa chất có pH dưới 4,5 sự xói mòn xảy ra nhanh chóng. Phân tích số liệu môi trường tại Lâm Thao qua các thời kỳ: nghiên cứu của Nguyễn Thị Vinh (2001) ghi nhận khí HF vượt tiêu chuẩn 3-4 lần; nghiên cứu của Vũ Thị Ngọc Anh (2015) ghi nhận nồng độ HF vượt chuẩn 1,66 - 12,5 lần, SO2 vượt 1,36 lần; nghiên cứu của Nguyễn Duy Bảo (2014) ghi nhận mùa nóng có 20/20 mẫu HF vượt chuẩn (1,43 - 7,19 lần), 9/29 mẫu H2SO4 vượt chuẩn (1,03 - 1,86 lần), mùa lạnh 100% mẫu khí HF vượt chuẩn 1,3 - 5,2 lần.
- Dịch tễ học NCNR: Tổng hợp các công trình trên thế giới (Rees, Yuji, Agrawal, Chikte) và Việt Nam (Tống Minh Sơn, Hoàng Đạo Bảo Trâm, Vũ Thị Ngọc Anh).
- Các phương pháp lượng giá và điều trị NCNR: Đánh giá ưu - nhược điểm của kích thích hóa học, luồng khí lạnh, nước lạnh, kích thích nhiệt, kích thích điện và cơ học (máy Yeaple Probe); phân tích cơ chế các biện pháp can thiệp (muối kali, fluor, oxalate, glutaraldehyde, CPP-ACP, muối kim loại nặng, laser nha khoa, máng nhai, vật liệu phục hồi và Seal & Protect).
- Đặc điểm quy trình công nghệ Nhà máy Lâm Thao: Dây chuyền sản xuất H2SO4 công suất 270.000 tấn/năm qua 3 công đoạn đốt quặng pyrite ($FeS_2$) tạo $SO_2$, chuyển hóa thành $SO_3$ và hấp thụ tạo $H_2SO_4$; dây chuyền sản xuất supe lân 800.000 tấn/năm từ quặng Apatit trộn với $H_2SO_4$ giải phóng khí độc HF, $SiF_4$ và axít $H_2SiF_6$ 10%. Toàn nhà máy có 3.064 người, trong đó 1.186 công nhân tiếp xúc trực tiếp với hóa chất độc hại.
| Tác giả, năm công bố |
Địa điểm / Đối tượng nghiên cứu |
Phương pháp / Can thiệp |
Kết quả chính |
| Yuji S. và CS (2010) |
Nhà máy ắc quy, Tokyo, Nhật Bản |
Khảo sát mòn răng nghề nghiệp |
Mòn răng tăng theo thâm niên: 10-14 năm (42,9%), >20 năm (66,7%); tương ứng nồng độ $H_2SO_4$ |
| Vũ Thị Ngọc Anh và CS (2017) |
Supe Lâm Thao (400 công nhân) |
Khảo sát cắt ngang mòn răng & NCNR |
Mòn răng 22,3%, nguy cơ nhóm tiếp xúc gấp 1,75 lần; 69% công nhân tiếp xúc trực tiếp bị NCNR |
| Volpe A.R và CS (1993) |
London, Vương quốc Anh |
Can thiệp Seal & Protect (thang 0-9) |
Điểm NCNR: ban đầu 6,91; sau 3 tháng: 0,36; sau 6 tháng: 0,94; sau 12 tháng: 2,08 |
| Chadwick R.G (2008) |
Scotland |
So sánh Seal & Protect, Sensodyne, Duraphat |
Seal & Protect giảm ê buốt 72,01% sau 3-6 tháng (Sensodyne: 36,84%; Duraphat: 53,08%) |
| Erdemir U và CS (2010) |
Istanbul (11 bệnh nhân, 131 răng) |
So sánh Seal & Protect, Pain-Free, BisBlock |
Điểm VAS giảm có ý nghĩa thống kê ở nhóm Seal & Protect sau 4 tuần (p = 0,0001) |
| Kim S.Y và CS (2013) |
Đại học Kyung Hee, Hàn Quốc |
Kính hiển vi điện tử đo dòng chảy DFF |
Seal & Protect giảm DFF nhiều hơn Gluma Desensitizer và Bi-Fluorid 12 (p < 0,05) |
| Lê Thị Bình (2014) |
Việt Nam (165 răng nhạy cảm ngà) |
Can thiệp Seal & Protect theo dõi 6 tháng |
Khỏi ê buốt tức thì: cổ răng 98,1%, mặt nhai 97,4%. Kết quả tốt: tức thì 89,2%, 3 tháng 60,4%, 6 tháng 45,2% |
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm:
- Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ:
- Lựa chọn: Công nhân làm việc tại Công ty Supe Lâm Thao, có răng bị NCNR (điểm VAS >= 1 mm hoặc VRS >= 1 điểm khi kích thích xịt hơi hoặc cơ học), răng còn tủy sống, không có bệnh lý sâu răng tiến triển, không viêm tủy, không viêm quanh cuống.
- Loại trừ: Răng đã điều trị tủy, răng có tổn thương sâu răng chưa hàn, răng mang phục hình nhân tạo, người bệnh có tiền sử dị ứng thành phần nhựa acrylate, người có bệnh toàn thân nặng không thể theo dõi đủ 12 tháng.
- Quy mô mẫu nghiên cứu:
- Giai đoạn mô tả cắt ngang: 868 công nhân được khám và phỏng vấn toàn diện (518 người được chẩn đoán mắc hội chứng NCNR).
- Giai đoạn can thiệp lâm sàng: 1054 răng bị NCNR của các công nhân tiếp xúc axít được điều trị bằng Seal & Protect.
- Trang thiết bị y tế: Ghế máy nha khoa tích hợp hệ thống xịt hơi - nước chuẩn; máy đo Yeaple Force-Sensing Probe (XixiX Research, Hoa Kỳ); đèn quang trùng hợp nha khoa; vật liệu Seal & Protect (hãng Dentsply Sirona); thước đo VAS, phiếu khám chuyên dụng.
- Phương pháp kiểm soát sai số: Toàn bộ quá trình khám, đo đạc và điều trị được chuẩn hóa kỹ thuật, kiểm tra độ lặp lại của nghiệm pháp kích thích cơ học và kích thích khí lạnh trước khi thu thập số liệu chính thức; người khám được tập huấn đồng nhất tiêu chuẩn chẩn đoán.
- Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học thông qua; công nhân tham gia nghiên cứu tự nguyện ký cam đoan sau khi được giải thích rõ mục đích và quyền lợi; mọi tổn thương phát hiện trong quá trình khám đều được tư vấn và hỗ trợ xử trí.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày các phát hiện qua hệ thống 34 bảng số liệu và 9 biểu đồ:
- Thông tin dịch tễ và các yếu tố nguy cơ của 868 công nhân:
- Tỷ lệ mắc NCNR chung là 59,68% (518/868 người). Tỷ lệ này phân bố cao vượt trội ở các phân xưởng tiếp xúc trực tiếp với hơi axít (Xí nghiệp Axít, Supe lân) so với khối gián tiếp và hành chính.
- Phân bố thâm niên công tác: Tỷ lệ và mức độ trầm trọng của mòn răng và NCNR tăng tỷ lệ thuận với số năm tiếp xúc hơi axít; nhóm công nhân có thâm niên trên 10 năm tiếp xúc có tỷ lệ mòn răng độ 2, độ 3 theo TWI và điểm NCNR cao hơn rõ rệt nhóm làm việc dưới 5 năm.
- Thói quen chải răng và yếu tố phối hợp: Tỷ lệ công nhân chải răng theo chiều ngang còn cao; thói quen ăn đồ chua, uống nước có gas, các biểu hiện trào ngược dạ dày (ợ hơi, ợ chua) làm gia tăng mức độ nhạy cảm ngà.
- Trang bị bảo hộ lao động: Tỷ lệ công nhân sử dụng khẩu trang và mặt nạ phòng độc chuyên dụng chưa đồng đều, nhiều người lao động có thói quen thở miệng khi làm việc nặng nhọc trong môi trường có nồng độ hơi khí độc tăng cao.
- Đặc điểm lâm sàng 1054 răng nhạy cảm ngà trước can thiệp:
- Phân bố nhóm răng: Răng cửa dưới và răng hàm nhỏ hàm trên có tỷ lệ NCNR và mòn ngà cao nhất, tiếp theo là răng nanh và răng hàm lớn. Mặt ngoài vùng cổ răng và rìa cắn/mặt nhai là hai vị trí tổn thương chủ yếu.
- Mức độ nhạy cảm trước điều trị: Điểm trung bình thang VAS dao động từ mức vừa đến nặng; đo bằng máy Yeaple Probe cho thấy đa số răng có ngưỡng ê buốt xuất hiện ở mức lực cơ học thấp (từ 10g đến 30g).
- Hiệu quả điều trị bằng Seal & Protect qua các mốc thời gian:
- Thời điểm tức thì ngay sau điều trị: Tỷ lệ răng hết ê buốt (điểm VRS = 0 hoặc VAS = 0) đạt mức cao nhất (trên 85-90% số răng đáp ứng tốt, không còn triệu chứng khi kích thích xịt hơi và cơ học). Điểm trung bình VAS giảm mạnh so với trước điều trị.
- Thời điểm sau 03 tháng: Tỷ lệ thành công duy trì ổn định; trên 80% số răng duy trì tình trạng không ê buốt hoặc chỉ ê buốt nhẹ thoáng qua.
- Thời điểm sau 06 tháng: Hiệu quả có xu hướng giảm nhẹ do tác động cọ xát cơ học khi ăn nhai và sự tiếp xúc liên tục với môi trường hơi axít trong nhà máy; tuy nhiên tỷ lệ răng duy trì mức độ đáp ứng tốt vẫn chiếm đa số (khoảng 60-70%).
- Thời điểm sau 12 tháng: Một số răng bắt đầu xuất hiện triệu chứng ê buốt trở lại do lớp nhựa Seal & Protect bị mòn một phần; tuy nhiên điểm VAS và VRS trung bình của 1054 răng ở mốc 12 tháng vẫn thấp hơn đáng kể so với thời điểm ban đầu trước khi can thiệp.
- Mối liên quan với độ mòn răng ban đầu: Các răng có tổn thương mòn răng độ 1 và độ 2 theo chỉ số TWI có tỷ lệ duy trì kết quả tốt sau 12 tháng cao hơn hẳn so với nhóm răng bị mòn nặng độ 3 làm lộ diện tích ngà rộng.
Chương 4: BÀN LUẬN
Chương 4 gồm 36 trang phân tích sâu sắc các kết quả nghiên cứu:
- Bàn luận về đặc điểm lâm sàng và dịch tễ NCNR ở công nhân hóa chất:
- Phân tích cơ chế tác động của vi khí hậu nhà máy: Nồng độ HF và $H_2SO_4$ vượt tiêu chuẩn cho phép kết hợp nhiệt độ cao vào mùa nóng kích thích niêm mạc hô hấp, buộc người lao động phải thở miệng. Hơi axít xâm nhập trực tiếp khoang miệng, hòa tan lớp men mặt ngoài răng cửa hàm dưới và rìa cắn, giải thích vì sao nhóm răng này có tỷ lệ NCNR cao nhất.
- So sánh với các tác giả trong nước và quốc tế: Kết quả của luận án tương đồng với các kết luận của Yuji S. (Nhật Bản) về mối tương quan giữa thâm niên tiếp xúc axít sulfuric và mức độ xói mòn răng; đồng thời củng cố số liệu khảo sát của Vũ Thị Ngọc Anh (2017) tại cùng nhà máy Lâm Thao. Luận án phân tích rõ sự khác biệt giữa mòn răng hóa học nghề nghiệp (tổn thương diện rộng, men trong suốt, lõm đáy chén) với mòn răng cơ học do chải răng (khuyết hình chêm khu trú ở cổ răng).
- Bàn luận về hiệu quả lâm sàng của Seal & Protect qua 12 tháng:
- Cơ chế tạo liên kết lai bền vững: Sự kết hợp giữa monomer PENTA và các MA resins tạo khả năng thẩm thấu sâu 7-10 µm vào trong lòng các ống ngà mở, quang trùng hợp tạo nút chặn cơ học ngăn chặn sự luân chuyển dịch ngà. Kết quả này lý giải cho sự thuyên giảm tức thì cảm giác ê buốt ngay sau khi điều trị trên cả thang VAS và VRS.
- Tác dụng kháng khuẩn và bảo vệ mô ngà của Triclosan và Fluor: Sự giải phóng chậm Triclosan ức chế vi khuẩn tại chỗ kết hợp với ion fluor từ CAFH kích thích tái khoáng hóa ngà răng, bảo vệ tủy răng bên dưới không bị viêm nhiễm thứ phát trong môi trường axít.
- Phân tích sự suy giảm hiệu quả sau 6 và 12 tháng: Quá trình ăn nhai, lực chải răng và sự phơi nhiễm thường xuyên với môi trường axít nồng độ cao làm mài mòn dần lớp phủ bề mặt 35-40 µm. Luận án so sánh với nghiên cứu của Volpe A.R (1993), Chadwick R.G (2008) và Lê Thị Bình (2014), qua đó chỉ ra rằng sự suy giảm hiệu quả sau 1 năm là diễn tiến sinh học tự nhiên của vật liệu dán dính; từ đó khẳng định tính cấp thiết phải tái khám và bôi nhắc lại định kỳ 6-12 tháng/lần cho công nhân.
KẾT LUẬN
Tác giả tóm lược cô đọng hai nhóm kết quả tương ứng với hai mục tiêu: xác định thực trạng NCNR gắn liền với đặc thù tiếp xúc axít công nghiệp tại Công ty Supe Lâm Thao và khẳng định hiệu quả điều trị thực tế của Seal & Protect trên 1054 răng theo dõi qua 12 tháng.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về lý luận và khoa học:
- Bổ sung bằng chứng thực chứng toàn diện tại Việt Nam khẳng định giá trị ứng dụng của thuyết thủy động lực học Brännström trong việc giải thích cơ chế NCNR do mòn răng hóa học nghề nghiệp.
- Làm sáng tỏ đặc tính bám dính, khả năng thẩm thấu tạo lớp liên kết lai (7-10 µm) và lớp che phủ bảo vệ (35-40 µm) của vật liệu dán dính quang trùng hợp hạt độn nano Seal & Protect trong điều kiện ngà răng bị xói mòn bởi hơi axít vô cơ.
Những đóng góp mới về thực tiễn lâm sàng và y học lao động:
- Cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học và lâm sàng quy mô lớn trên 868 công nhân ngành sản xuất phân bón hóa chất; xác định tỷ lệ mắc NCNR (59,68%) và làm rõ mối tương quan thuận giữa mức độ ê buốt, độ mòn răng với thâm niên làm việc tiếp xúc axít trực tiếp.
- Xác lập quy trình can thiệp lâm sàng tại chỗ bằng Seal & Protect hai lớp quang trùng hợp, chứng minh tính khả thi, an toàn và hiệu quả giảm ê buốt vượt trội tức thì cũng như duy trì hiệu quả bảo vệ ổn định trong 12 tháng trên 1054 răng bị tổn thương.
- Đề xuất giải pháp dự phòng và kiểm soát sức khỏe răng miệng nghề nghiệp: Khuyến cáo người lao động không chải răng trong vòng 30 phút sau ca làm việc tiếp xúc axít; đề xuất chế độ bôi Seal & Protect nhắc lại định kỳ từ 6 đến 12 tháng một lần trong chương trình khám sức khỏe định kỳ cho công nhân tiếp xúc trực tiếp với axít; yêu cầu tăng cường trang bị mặt nạ phòng độc cá nhân và kiểm soát nồng độ khí độc HF, SO2, H2SO4 tại các phân xưởng sản xuất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Thiết kế can thiệp lâm sàng theo dõi dọc không sử dụng nhóm chứng song song dùng giả dược hoặc vật liệu đối chứng (như vec-ni fluor đơn thuần) trên cùng đối tượng công nhân tiếp xúc axít do ràng buộc về tính đồng nhất đạo đức điều trị tại chỗ cho người lao động.
- Thời gian theo dõi dọc dừng lại ở mốc 12 tháng; chưa theo dõi liên tục trong các khung thời gian dài hơn (24 đến 36 tháng) để xác định chính xác tuổi thọ giới hạn của lớp hàn phủ trong môi trường công nghiệp nặng.
- Việc định lượng triệu chứng ê buốt trên thang VAS và VRS vẫn chịu ảnh hưởng nhất định bởi ngưỡng chịu đau chủ quan và trạng thái tâm lý cá nhân của người lao động, dù đã được chuẩn hóa bổ trợ bằng máy Yeaple Force-Sensing Probe.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng theo dõi can thiệp lâm sàng trên 12 tháng (đến 24 - 36 tháng) có đánh giá hiệu quả của việc bôi nhắc lại định kỳ Seal & Protect sau mỗi 6 tháng.
- Nghiên cứu so sánh hiệu quả can thiệp giữa Seal & Protect với các phương pháp kỹ thuật cao khác (như Laser Er:YAG, Nd:YAG kết hợp vec-ni sinh học) trên đối tượng công nhân phơi nhiễm hóa chất.
- Mở rộng mô hình nghiên cứu sang các ngành sản xuất công nghiệp khác có nguy cơ mòn răng hóa học cao như sản xuất ắc quy, luyện kim, mạ điện và chế biến dược phẩm.
Giá trị tham khảo
Giá trị đối với các nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng:
- Bác sĩ Răng Hàm Mặt và nhân viên y tế cơ quan: Là tài liệu hướng dẫn lâm sàng chuẩn mực trong chẩn đoán phân biệt giữa mòn răng hóa học với mòn răng cơ học; cung cấp kỹ thuật điều trị che phủ ống ngà tại ghế nha khoa bằng hệ thống dán dính quang trùng hợp không xâm lấn.
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học chuyên ngành Răng Hàm Mặt và Y học lao động: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát dịch tễ học mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp lâm sàng theo dõi dọc; chuẩn hóa cách sử dụng phối hợp các thang đo lượng giá chủ quan (VAS, VRS) và công cụ đo lực cơ học khách quan (máy Yeaple Probe).
- Cơ quan quản lý, doanh nghiệp sản xuất hóa chất và người làm chính sách an toàn vệ sinh lao động: Cung cấp luận cứ khoa học thực tế về nồng độ khí độc (HF, SO2, H2SO4) và tỷ lệ tổn thương răng miệng nghề nghiệp, phục vụ việc xây dựng quy chuẩn khám bệnh nghề nghiệp định kỳ và trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân đạt chuẩn.
Các nội dung đáng tham khảo nhất trong văn bản:
- Quy trình chuẩn bị bề mặt và kỹ thuật bôi Seal & Protect hai lớp chiếu đèn quang trùng hợp tại Chương 2.
- Phương pháp phối hợp giữa kích thích khí lạnh 60 psi và kích thích cơ học định lượng bằng máy Yeaple Probe để đánh giá ngưỡng nhạy cảm ngà.
- Hệ thống dữ liệu lâm sàng theo dõi 1054 răng qua 4 mốc thời gian (tức thì, 03 tháng, 06 tháng, 12 tháng) tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
Luận án đã khảo sát trên quy mô mẫu bao nhiêu đối tượng và việc can thiệp lâm sàng được tiến hành trên bao nhiêu răng?
Nghiên cứu được thiết kế làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 khảo sát mô tả cắt ngang trên 868 công nhân đang làm việc tại Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao năm 2015 (chẩn đoán xác định 518 công nhân bị NCNR). Giai đoạn 2 thực hiện can thiệp điều trị lâm sàng bằng Seal & Protect trên 1054 răng bị NCNR của các công nhân có tiếp xúc với axít.
Vật liệu Seal & Protect có thành phần hoạt chất chính là gì và cơ chế tác dụng bít tắc ngà răng ra sao?
Seal & Protect gồm các thành phần: chất bám dính PENTA, nhựa MA resins (di- và trimethacrylate), hạt độn siêu nhỏ nano, nguồn giải phóng fluor hữu cơ CAFH, chất kháng khuẩn Triclosan (nồng độ MIC 10 ppm đối với vi khuẩn S. mutans và Lactobacillus) và dung môi acetone. Vật liệu hoạt động theo cơ chế thâm nhập sâu vào ống ngà hở tạo lớp liên kết lai dày 7-10 µm và phủ kín bề mặt một lớp bảo vệ dày 35-40 µm, bít kín lối vào ống ngà, ngăn chặn sự dịch chuyển dòng dịch ngà (DFF) theo thuyết thủy động lực học Brännström, từ đó loại bỏ cảm giác ê buốt.
Những công cụ và thang đo nào đã được luận án sử dụng để định lượng mức độ nhạy cảm ngà răng?
Luận án sử dụng phối hợp: máy Yeaple Force-Sensing Probe (XixiX Research, Hoa Kỳ) kích thích cơ học tăng dần từ 10g đến 70g; nghiệm pháp xịt hơi ghế nha khoa áp lực 60 psi ở 21-22°C trong 1 giây; thước đo tương tự thị giác VAS (0-100 mm); thang điểm mô tả bằng lời nói VRS (0-3 điểm); thang đo phản ứng Schiff (0-3 điểm); và chỉ số mòn răng TWI của Smith và Knight (1984).
Yếu tố môi trường lao động tại cơ sở nghiên cứu có đặc điểm gì liên quan trực tiếp đến bệnh học NCNR?
Dây chuyền sản xuất H2SO4 và supe lân đơn giải phóng các hơi khí độc có tính axít mạnh gồm SO2, HF, H2SO4 và $H_2SiF_6$. Số liệu quan trắc môi trường cho thấy nồng độ khí HF mùa nóng vượt quy chuẩn 1,43-7,19 lần, mùa lạnh 100% mẫu vượt từ 1,3-5,2 lần; nồng độ H2SO4 vượt chuẩn 1,03-1,86 lần. Môi trường hơi axít có pH dưới 4,5 phá hủy cấu trúc canxi hydroxyapatite của men và ngà răng, kết hợp phản xạ thở miệng của công nhân làm răng cửa dưới và rìa cắn bị mòn xói nghiêm trọng.
Hiệu quả điều trị nhạy cảm ngà bằng Seal & Protect biến chuyển như thế nào qua các mốc thời gian 12 tháng?
Hiệu quả giảm ê buốt đạt cao nhất tức thì ngay sau khi điều trị (trên 85-90% số răng hết ê buốt hoàn toàn, điểm VAS và VRS giảm sâu). Sau 03 tháng, hiệu quả tiếp tục duy trì ổn định trên 80% số răng. Sau 06 tháng và 12 tháng, do tác động mài mòn cơ học khi ăn nhai và sự tiếp xúc liên tục với hơi axít trong nhà máy, một số răng tái xuất hiện ê buốt nhẹ; tuy nhiên điểm số NCNR trung bình tại mốc 12 tháng vẫn thấp hơn rõ rệt có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Quách Huy Chức là công trình khoa học chuyên ngành Răng Hàm Mặt giải quyết đồng bộ từ dịch tễ học lâm sàng đến can thiệp điều trị NCNR do mòn răng hóa học nghề nghiệp. Thông qua khảo sát 868 công nhân và can thiệp điều trị dọc trên 1054 răng bằng Seal & Protect, nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả giảm ê buốt tức thì và duy trì ổn định qua 12 tháng theo dõi lâm sàng dựa trên các thang đo chuẩn hóa khách quan. Kết quả luận án cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho việc áp dụng kỹ thuật dán bít ống ngà quang trùng hợp tại chỗ, đồng thời đề xuất giải pháp y tế lao động nhằm bảo tồn cấu trúc răng miệng cho người lao động trong ngành sản xuất hóa chất.