ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, trong các vấn đề bệnh lý về Răng Hàm Mặt thì nhạy cảm ngà răng thường gặp nhiều. Trong đó, tỷ lệ người bệnh đến khám chỉ với triệu chứng ê buốt răng khi ăn uống đồ lạnh, nóng, đồ chua hay khi vệ sinh răng miệng (được gọi là hội chứng NCNR) đã tăng lên. Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng NCNR, trong đó nặng nhất là mòn răng, đặc biệt là mòn răng hóa học ở người thường xuyên làm việc trong môi trường hóa chất có axít [1]. Qua một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ NCNR rất khác nhau từ 8- 57% dân số [2].
Có mối liên quan tỷ lệ thuận giữa mòn răng hóa học và tình trạng nhạy cảm ngà; đặc biệt là ở những người lao động có tiếp xúc với axít, gây nên hiện tượng hở các ống ngà dẫn đến người bệnh bị NCNR, nặng hơn là răng bị hở tuỷ, chết tủy, nứt, vỡ răng và cuối cùng là mất răng [1], [2]. Từ năm 1992, tại Nhật Bản, NCNR do mòn răng hóa học đã được công nhận là bệnh nghề nghiệp [3]. Năm 2013, Vũ Thị Ngọc Anh và CS nghiên cứu trên 271 công nhân tại Công ty cổ phần hóa chất Việt Trì cho thấy có 57,9% công nhân có mòn răng, tỷ lệ mòn răng ở nhóm tiếp xúc thường xuyên với axít cao hơn nhóm không tiếp xúc [4]. Sau đó, Vũ Thị Ngọc Anh và CS (năm 2017) tiếp tục nghiên cứu trên 400 công nhân tại Nhà máy Supe Phốt phát và Hoá chất Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ cho kết quả tỷ lệ mòn răng hoá học là 22,3% và nguy cơ mòn răng của người lao động tiếp xúc với axít cao gấp 1,75 lần người lao động gián tiếp, tỷ lệ NCNR của người lao động tiếp xúc trực tiếp với axít là 69% [5].
Nghiên cứu của Agrawal R và CS (năm 2014) cũng cho thấy tỷ lệ NCNR của nhóm tiếp xúc với axít là 57,6% [6]. Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về các phương pháp điều trị nhạy cảm ngà răng do nhiều nguyên nhân khác nhau; tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về các phương pháp điều trị nhạy cảm ngà răng ở những người lao động do thường xuyên tiếp xúc với axít. 2 Seal & Protect là một vật liệu hàn có tính quang trùng hợp, có chất kết dính và trong suốt; có tác dụng che phủ những vùng lộ ngà sớm để ngăn ngừa hoặc làm giảm mòn cổ răng, ngăn chặn sâu răng và điều trị NCNR [7]; Nghiên cứu của Lê Thị Bình (năm 2014) cho thấy, kết quả tốt ngay sau điều trị đạt tỷ lệ 89,2% và sau 6 tháng điều trị với tổn thương mòn răng độ 2 kết quả tốt chiếm tỷ lệ 63,9% [8]. Hiện nay, ở Việt Nam, ngành sản xuất hoá chất đang phát triển mạnh mẽ, trong đó Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hoá chất Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ là một trong những nhà máy lớn nhất cả nước, với hơn 3000 cán bộ, công nhân viên, thế mạnh là sản xuất Supe phốt phát và hoá chất, trong đó có axít là nguyên nhân gây mòn răng hoá học [9].
Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về sử dụng công nghệ dán dính quang trùng hợp để điều trị nhạy cảm ngà răng trên những người lao động tiếp xúc với axít, vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: ―Nghiên cứu điều trị nhạy cảm ngà răng ở người lao động trong ngành sản xuất hóa chất bằng Seal & Protect” thực hiện tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hoá chất Lâm Thao với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng nhạy cảm ngà răng ở người lao động trong ngành sản xuất hóa chất có tiếp xúc với axít tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao năm 2015. Đánh giá hiệu quả điều trị nhạy cảm ngà răng bằng Seal & Protect ở nhóm người lao động có tiếp xúc với axít nêu trên trong 12 tháng. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Khái niệm nhạy cảm ngà răng Theo định nghĩa của Hollan G.R và CS được thông qua tại Hội nghị nhạy cảm ngà răng ở Canada năm 2002 thì Nhạy cảm ngà răng có các đặc trưng sau: răng bị ê buốt rõ, diễn biến nhanh, xuất hiện từ vùng ngà bị lộ khi có các kích thích như nhiệt độ, hơi, cọ xát, thẩm thấu, hóa chất (nhưng chưa đủ gây nhạy cảm ngà trên răng bình thường) mà không phải do khiếm khuyết hoặc bệnh lý nào khác [10]. Bệnh học thần kinh của răng - Tủy răng là mô giàu thần kinh. Dựa vào tốc độ dẫn truyền có thể phân loại các sợi thần kinh ra thành 2 nhóm: nhóm A - có tốc độ dẫn truyền trên 2 m/s, và nhóm C - có tốc độ dẫn truyền dưới 2 m/s. - Hiện tượng ê buốt là do các sợi A delta dẫn truyền, trong khi các sợi C dẫn truyền cảm giác ê buốt âm ỉ.
Sợi A có bao myelin liên quan tới nhạy cảm ngà [11]. Cơ chế của nhạy cảm ngà răng Có ba cơ chế chính của sự nhạy cảm như: + Thuyết phân bổ thần kinh. + Thuyết về sự dẫn truyền các nguyên bào tạo răng. + Thuyết thủy động lực học.
Theo thuyết phân bổ thần kinh, dây thần kinh xuyên qua ngà răng và kéo dài đến đường nối ngà-men [12]. Kích thích cơ học trực tiếp của các dây thần kinh sẽ khai mào tiềm năng hoạt động. Có nhiều hạn chế ở thuyết này; thiếu bằng chứng cho thấy ngà răng bên ngoài thường là phần nhạy cảm nhất. Một 4 nghiên cứu đã chỉ ra rằng các đám rối thần kinh Rashkow và dây thần kinh trong ống không tự thiết lập cho đến khi răng mọc [13]; tuy nhiên, răng mới mọc rất nhạy cảm.
Hơn nữa, một số thuốc gây NCNR như Bradykinin không gây NCNR đến khi bôi lên ngà răng các chất gây tê cục bộ không ngăn chặn cơn ê buốt, trong khi có giảm ê buốt khi bôi lên bề mặt [14]. Thuyết về sự dẫn truyền các nguyên bào tạo răng chỉ ra rằng các tế bào tạo răng hoạt động như thụ quan của bản thân chúng và chuyển tiếp tín hiệu đến đầu cuối dây thần kinh. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng các tế bào tạo răng là một ma trận các tế bào đang hình thành và do đó không được coi là tế bào có thể bị kích thích và các xi náp không được tìm thấy giữa tế bào tạo răng và đầu cuối dây thần kinh [15], [16]. Các học thuyết về nhạy cảm ngà [17], [18] (1) Thuyết thần kinh: kích thích vào ngà răng gây tác động trực tiếp lên các sợi thần kinh.
(2) Thuyết về sự dẫn truyền các nguyên bào tạo ngà: kích thích được dẫn truyền theo các nguyên bào tạo ngà tới đầu tận cùng thần kinh cảm giác thông qua synap. (3) Thuyết thủy động lực học: kích thích do sự dịch chuyển của dịch trong ống ngà tác động tới các sợi thần kinh. 5 - Nhiều tác giả công nhận thuyết thủy động lực học của Brännström và CS trong điều trị NCNR [19]. Theo tác giả, các kích thích như: nhiệt độ, hóa chất, cọ xát… tạo các dòng chảy dịch trong ống ngà (tăng hoặc thay đổi hướng) và sự thay đổi áp lực.
Sự thay đổi này kích thích các sợi thần kinh A- δ ở biên giới ngà - tủy hoặc trong ống ngà tạo ra cảm giác ê buốt. Khi có kích thích lạnh, dòng dung dịch sẽ di chuyển từ tủy ra phía ngoài, khi có kích thích nóng dòng dung dịch chuyển động ngược lại [11], [18], [19]. Hình mô tả thuyết Thủy động lực học của Brännström và CS - Nhạy cảm ngà xuất hiện khi có 2 yếu tố sau: + Ngà răng bị lộ: răng mất men hoặc tổ chức quanh răng. + Hệ thống ống tủy mở ở bên ngoài và thông với tủy ở bên trong.
- Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, ngà ở răng bị quá cảm có số lượng ống ngà nhiều gấp 8 lần và đường kính của ống ngà cũng rộng gấp đôi so với ngà ở răng không quá cảm [15], [19]. Yếu tố nguy cơ gây nhạy cảm ngà răng: Được thể hiện qua sơ đồ Hình 1. Hình mô tả các yếu tố nguy cơ gây nhạy cảm ngà răng 1.4: Hình ảnh mòn răng [16] - Có nhiều nguyên nhân gây mòn răng như: + Chải răng không đúng kĩ thuật: lông bàn chải quá cứng, lực chải mạnh. Hình mô tả mòn khuyết cổ răng mặt ngoài do chải răng ngang + Chế độ ăn uống có nhiều axít như: nước uống có gas, hoa quả chua, đồ ăn có vị chua, các thuốc có pH axít và tiếp xúc thường xuyên với bề mặt răng.
Hình ảnh mòn mặt nhai các răng do tật nghiến răng [20] + Tật nghiến răng: người bệnh thường bị mòn mặt nhai hoặc rìa cắn các răng. + Các nguyên nhân khác: tiếp xúc với axít (mòn nhiều phía mặt ngoài và rìa cắn), hay bị nôn và trào ngược dạ dày (mòn nhiều phía mặt trong răng). Hình ảnh mòn mặt trong các răng do trào ngƣợc dạ dày [16] 8 - Phân loại mòn răng: + Mòn răng - răng: là sự mất tổ chức cứng do sự tiếp xúc giữa các răng đối đầu dưới tác động của các tác nhân nội tại thường là trụ men của các răng đối diện. Nguyên nhân: sang chấn khớp cắn, tật nghiến răng… + Mòn răng cơ học: là quá trình mòn răng bệnh lý do tác động của lực ma sát từ các tác nhân ngoại lai: lực chải răng quá mạnh, thói quen cắn các vật cứng… + Mòn hóa học: là quá trình mòn răng bệnh lý do các hóa chất mà không có sự tác động của vi khuẩn.
Nguyên nhân: hội chứng trào ngược dạ dày-thực quản, tiếp xúc nhiều với khí gas, axít hoặc chế độ ăn chứa nhiều axít… + Tiêu cổ răng: là tổn thương tổ chức cứng trên bề mặt cổ răng trong quá trình răng chịu lực uốn. Nguyên nhân: răng xoay trục hoặc cản trở cắn sang bên. Lâm sàng: tổn thương lõm hình chêm ở cổ răng tại đường ranh giới cement -ngà trên một răng đơn độc [19], [21]. Lợi co Hình 1.
Hình ảnh co lợi lộ chân răng [20] - Có các nguyên nhân như: bệnh quanh răng, chải răng không đúng kĩ thuật, Ssang chấn khớp cắn. - Cơ chế: lợi co gây hở chân răng, lộ cement, có thể lộ ngà [20], [24]. Lấy cao răng Có thể làm mất lớp ngà mùn, hay làm mất mảng cao răng đang bao phủ gây lộ ống ngà. Trường hợp này người bệnh thường bị ê buốt trong vài ngày hoặc vài tuần rồi sẽ hết [24].
Sau một số phẫu thuật vùng quanh răng Phẫu thuật nạo túi lợi, phẫu thuật làm dài thân răng… người bệnh có thể bị nhạy cảm ngà răng kéo dài một vài tháng [19], [24], [22].