Chương 1: Khái niệm, tổng quan tình hình nghiên cứu và lý thuyết vận dụng. Chương 2: Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trước thời kỳ Đổi mới. Chương 3: Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trong thời kỳ Đổi mới. Chương 4: Những vấn đề đặt ra từ diễn ngôn về lễ hội trên báo chí.
7 CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM, TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG 1. Khái niệm Trong mục này, chúng tôi xin được trình bày ba khái niệm liên quan đến đề tài luận án là diễn ngôn, lễ hội, báo chí. Diễn ngôn Diễn ngôn (discoure) là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn: ngôn ngữ học, tâm lý học, xã hội học, nghiên cứu văn học, nghiên cứu văn hóa. Vì thế nội dung của thuật ngữ này là rất khác nhau tùy theo cách thức tiếp cận của các nhà khoa học ở những lĩnh vực khác nhau.
Ngay cả người đề xướng lý thuyết diễn ngôn là nhà nghiên cứu người Pháp, Michel Foucault (1926-1984) chẳng những không cố gắng đi tìm một định nghĩa thống nhất mà còn hướng tới sự đa dạng hóa nội hàm của thuật ngữ này ngay trong định nghĩa của chính mình: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì coi nó như một khu vực chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó như một nhóm các nhận định được cá thể hóa, và đôi khi lại xem nó như một hoạt động được quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định” [214, tr. Trần Văn Toàn, trong đoạn trích vừa nêu, M. Foucault cùng một lúc đã đưa ra ba định nghĩa về diễn ngôn. Thứ nhất, đó là định nghĩa rộng nhất, theo đó diễn ngôn bao gồm tất cả các nhận định nói chung.
Thứ hai, diễn ngôn như là một nhóm các nhận định được cá thể hóa. Diễn ngôn trong cách sử dụng này là một nhóm những nhận định được tổ chức theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc và một hiệu lực chung. Theo đó, người ta có thể nói đến, chẳng hạn: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính, diễn ngôn y học, diễn ngôn phân tâm học. Thứ ba, diễn ngôn như một hoạt động được kiểm soát/điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định.
Ở định nghĩa này M.Foucault quan tâm đến những quy tắc và cấu trúc tạo ra những nhận định, những diễn ngôn cụ thể. Mặc dù ba định nghĩa của Foucault được liệt kê khá độc lập nhưng trong thực tế nghiên cứu, các định nghĩa này luôn luôn được sử dụng xen kẽ nhau và định 8 nghĩa này có thể bao trùm lên định nghĩa kia tùy theo hướng triển khai của người nghiên cứu [214]. Theo Foucault, diễn ngôn đa phần do con người tạo ra. Chủ thể tạo ra diễn ngôn trong xã hội có thể là giới cầm quyền, có thể là giới bình dân muốn phản ứng và xây dựng lại xã hội mới, có thể là những cá nhân kiệt xuất như một nhà cách mạng, một lãnh tụ tôn giáo, một nhà khoa học, một nhà hoạt động xã hội, một nhà văn, một diễn viên nổi tiếng,.
Lâm Minh Châu, các diễn ngôn có hai điểm chung: Thứ nhất, chúng đưa ra một chuẩn mực về thế nào là đúng, thế nào là sai, thế nào là tốt đẹp và thế nào là xấu xa, thế nào là giỏi và thế nào là dốt, thế nào là bình thường và không bình thường. Thứ hai, với những người, nhóm người hoặc thậm chí là xã hội chịu sự chi phối của diễn ngôn, thì những gì diễn ngôn ấy nói được coi là chân lý, hiển nhiên, và làm theo một cách vô thức [21, tr. Trong mỗi một thời kỳ, giai đoạn lịch sử, diễn ngôn không chỉ chịu sự chi phối của các quy luật ngôn ngữ mà còn chịu sự chi phối của môi trường sinh thái văn hóa. Chính vì thế, qua các diễn ngôn, chúng ta có thể thấy được dấu ấn của thời đại lịch sử mà diễn ngôn đó ra đời.
Chẳng hạn trong thời kỳ văn hóa Đại Việt, người ta hay nói đến “tạo hóa”, “con tạo”, “vũ trụ xoay vần”, “tài mệnh tương đố”, “hồng nhan bạc phận”,. Từ những năm 60 đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời tiến hành chiến tranh giải phóng miền Nam, chống chiến tranh phá hoại của hải quân và không quân Mĩ đối với miền Bắc, trong các diễn ngôn, hàng loạt từ ngữ sau được sử dụng với tần số rất cao: “chiến tranh”, “hòa bình”, “chủ nghĩa xã hội” “độc lập dân tộc” “tư sản”, “vô sản”, “cách mạng”, “phản động”, “đồng chí”, “kẻ thù”, “địch”, “ta”. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay các từ vựng của ngành kinh tế học đã lấn át những từ ngữ vừa nêu, xuất hiện ngày càng nhiều trong diễn ngôn của các lĩnh vực khác, kể cả trong diễn ngôn văn hóa: “kinh tế thị trường”, “thương hiệu”, “hàng hóa”, “nhà phân phối”, “đẳng cấp”, “chất lượng”, “cạnh tranh”,. Ngoài ra những từ ngữ vay mượn từ nước ngoài được sử dụng một cách thường xuyên hơn như: “shop”, “fan”, “laptop”, “chat”, “festival”, “computer”, “world cup”, “lazer”.
9 Có diễn ngôn chỉ hình thành ở xã hội này mà không có ở xã hội khác. Thí dụ, trong xã hội phong kiến chuyên chế, diễn ngôn về bổn phận, về lòng trung thành tuyệt đối với đức vua, về sự hạ thấp người phụ nữ là những diễn ngôn thường gặp. Ngược lại trong xã hội tư bản những diễn ngôn trên hầu như vắng bóng, thay vào đó là những diễn ngôn về quyền tự do cá nhân, về sự bình đẳng giới, về sự kiểm soát quyền lực, về tự do báo chí,. Trong xã hội cũ, môi trường học tập ở Việt Nam bị chi phối bởi các diễn ngôn về quan hệ thầy trò và về những quy định về bổn phận của người học trò.
Các diễn ngôn tiêu biểu cho rằng người thầy là người truyền dậy các tư tưởng của thánh hiền, thầy dậy một chữ cũng là thầy, dạy nửa chữ cũng là thầy; học trò là người tiếp nhận những điều thầy truyền dậy, phải tôn trọng lắng nghe thầy, không được suy nghĩ hay nói năng trái với lời thầy, phải hiểu rằng “không thầy đố mày làm nên”. Ngày nay, trong nền giáo dục mới ở ta đã xuất hiện diễn ngôn “tất cả vì học sinh thân yêu”, “học sinh là trung tâm”. Trong xã hội có giai cấp, thường có những diễn ngôn của những giai cấp khác nhau. Ở Việt Nam, trong thời kỳ quân chủ, các diễn ngôn thường gặp của giai cấp thống trị và Nho giáo là những diễn ngôn về tam cương ngũ thường, về tam tòng tứ đức, về mối quan hệ giữa quân tử và tiểu nhân.
Tam cương có nghĩa là: bầy tôi phải có bổn phận vâng phục nhà vua (quân vi thần cương), người vợ phải có bổn phận vâng phục người chồng (phu vi phụ cương), con phải tuân phục cha (phụ vi tử cương). Ngũ thường là năm điều người ta phải có: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Tam tòng có nghĩa là ba điều ràng buộc đối với người phụ nữ: còn nhỏ ở với cha (tại gia tòng phụ), lớn lên lấy chồng thì phải theo chồng (xuất giá tòng phu), nếu chồng chết sớm thì ở vậy với con (phu tử tòng tử). Tứ đức là bốn chuẩn mực mà người phụ nữ xưa phải đạt tới: công, dung, ngôn, hạnh.
Nho giáo chia xã hội thành hai hạng người quân tử và tiểu nhân. Người quân tử là người lao động trí óc, có trách nhiệm dạy bảo tiểu nhân. Tiểu nhân là người lao động chân tay, có bổn phận phải làm ra lúa gạo để nuôi người quân tử. Ngược lại, khi xã hội quân chủ suy vi, từ chỗ nghi ngờ, người dân dần dần chuyển sang phản kháng bằng bạo lực vũ trang và bằng cả những diễn ngôn của mình: “Được làm vua, thua làm giặc”, “Lệnh ông không bằng cồng bà”, “Thuận vợ thuận chồng bể Đông tát cạn”, “Con hơn cha nhà có phúc”, “Gái mà chi trai mà chi; sinh ra có nghĩa có nghì thì hơn”, “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, “Đàn 10 ông như giỏ, đàn bà như hom”, “Quân tử ứ hự đã đau, tiểu nhân dùi đục đập đầu như không”, “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”,.
Tóm lại, “do văn hóa của con người là sản phẩm của các tập hợp diễn ngôn (.), nên tập hợp diễn ngôn khác nhau thì văn hóa cũng khác nhau” [21, tr. Lễ hội Nhân dân ta trước kia thường dùng các từ và cụm từ: hội, hội làng, vào đám, hội hè đình đám,… Còn các thuật ngữ lễ hội và hội lễ không phải do dân chúng đặt ra. Năm 1957, báo Nhân Dân ngày 21 tháng 4 dùng từ lễ hội ngay trong tiêu đề “Cần sửa chữa tình trạng phát triển lễ hội chệch hướng” [144, tr. Tại miền Nam năm 1967, trên tập san Sử Địa số 5, tác giả Đông Hồ cũng dùng thuật ngữ lễ hội trong bài viết “Những lễ hội ở Hà Tiên trong ba tháng mùa xuân”.
Trong bài, tác giả còn dùng từ hội lễ với nghĩa tương đương như lễ hội. Đối với tác giả ngày Tết, rằm tháng giêng,. cũng là lễ hội. Ở miền Bắc từ năm 1977, trên tạp chí Dân tộc học số 3, bên cạnh việc dùng phổ biến hai tiếng “hội làng”, tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết còn sử dụng các cụm từ hội lễ, hội lễ nông nghiệp, hội lễ phồn thực giao duyên, bên cạnh cụm từ lễ hội thượng võ [178].
Còn với tư cách là những thuật ngữ khoa học thì lễ hội và hội lễ được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến từ những năm 80 của thế kỷ trước. Trong giới khoa học, GS. Đinh Gia Khánh không dùng từ lễ hội mà kiên trì dùng từ hội lễ. Năm 1985, ông cho rằng hội lễ là thời điểm mạnh của đời sống cộng đồng.
Tác giả viết: “Danh từ hội lễ nên được dùng như một thuật ngữ văn hóa. Có thể sơ bộ xác định ý nghĩa của thuật ngữ này theo hai thành tố hội và lễ. Hội là tập hợp đông người trong một sinh hoạt cộng đồng. Lễ là nghi thức đặc thù gắn với sinh hoạt ấy” [86, tr.
Cho đến nay, đại đa số các tác giả đều dùng thuật ngữ lễ hội. Sau khi dẫn ý kiến của GS.