Tổng quan luận án

Lễ hội dân gian của người Việt có nguồn gốc từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn, trải dài qua nhiều thăng trầm lịch sử gắn liền với chiến tranh, thiên tai và các chính sách quản lý của nhà nước trong từng giai đoạn. Từ khi đất nước bước vào công cuộc Đổi mới (năm 1986), đặc biệt trong hai thập niên gần đây, hoạt động lễ hội bùng phát mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc. Theo số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến năm 2008, cả nước có 7.965 lễ hội, trong đó gồm 7.039 lễ hội dân gian, 544 lễ hội tôn giáo, 332 lễ hội lịch sử, 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài và 40 lễ hội khác.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tiễn: mặc dù lễ hội đã được khảo sát dưới nhiều góc độ (nghiên cứu trường hợp điển hình, khảo sát địa phương, hệ thống hóa toàn quốc, phân tích lý luận về cấu trúc và giá trị), song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống các diễn ngôn về lễ hội được phản ánh trên báo chí. Báo chí là phương tiện phản ánh biến động lịch sử, chính trị, văn hóa, đồng thời trực tiếp tham gia kiến tạo các nhận định xã hội về lễ hội. Việc nghiên cứu diễn ngôn về lễ hội trên báo chí giúp làm rõ các chiều kích tư tưởng, văn hóa và cơ chế quyền lực chi phối quan niệm của từng thời kỳ lịch sử.

Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo cứu các diễn ngôn về lễ hội trên báo chí Việt Nam theo tiến trình lịch sử; nhận diện sự biến chuyển qua các thời kỳ và giai đoạn; lý giải nguyên nhân của sự khác biệt đó và làm rõ những vấn đề xã hội - văn hóa đang đặt ra.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thứ nhất, tập hợp và hệ thống hóa các bài báo viết về lễ hội từ đầu thế kỷ XX đến nay.
  2. Thứ hai, trên cơ sở bối cảnh chính trị - xã hội, tình hình kinh tế, thực trạng báo chí cùng các khuynh hướng nội dung, tiến hành phân chia diễn ngôn về lễ hội trên báo chí thành các thời kỳ và giai đoạn lịch sử tương ứng.
  3. Thứ ba, phân tích đặc điểm, nội dung các diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trong mỗi thời kỳ và từng giai đoạn cụ thể.
  4. Thứ tư, bàn luận những vấn đề đang đặt ra nhằm góp phần lý giải và cung cấp kinh nghiệm thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý văn hóa, giới báo chí và các đối tượng quan tâm.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các diễn ngôn về lễ hội được đăng tải trên báo chí Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay (tính từ năm 1915 đến năm 2017).

Phạm vi tư liệu và không gian - thời gian nghiên cứu:

  • Thời gian khảo sát: Từ năm 1915 (thời điểm bài viết về việc tế tự, lễ bái của Phan Kế Bính xuất hiện trên Đông Dương tạp chí) đến năm 2017.
  • Không gian khảo sát: Tập trung vào hệ thống báo chí xuất bản tại Hà Nội, Sài Gòn (giai đoạn 1955-1975) và hệ thống báo chí toàn quốc trong thời kỳ Đổi mới.
  • Nguồn tư liệu: Khảo sát 558 bài báo cùng hàng ngàn trang tư liệu thuộc các cơ quan báo chí tiêu biểu: Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc chủ nhật, Ngày Nay, Tri Tân (trước năm 1945); báo Sự Thật, Nhân Dân, Tiền phong, Tập san Văn hóa, Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, tạp chí Văn học, Dân tộc học, Nghiên cứu nghệ thuật, Văn hóa dân gian ở miền Bắc; Văn hóa nguyệt san, Bách khoa, Tập san Sử Địa ở miền Nam (1955-1975); báo Nhân Dân cuối tuần, Tiền phong, Tuổi trẻ và hai báo điện tử VnExpress, VietNamNet (từ năm 2014 đến 2017).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được chia tách thành hai mảng nghiên cứu chính: tình hình nghiên cứu về lễ hội và tình hình nghiên cứu về diễn ngôn trên báo chí.

Về tình hình nghiên cứu lễ hội:

  • Giai đoạn trước năm 1945: Dưới thời thuộc Pháp, học giả phương Tây như G. Dumoutier (1883) khảo cứu chi tiết về hội Gióng ở Phù Đổng; các tác giả M. Przyluski, Paul Giran, L. Orbard ghi chép về lễ động thổ, tế Nam Giao, rước sắc thần Thiên Y A Na. Giới trí thức người Việt có Phan Kế Bính (1915) viết về việc tế tự, Nguyễn Văn Khoan (1930) nghiên cứu văn hóa đình làng, và nổi bật là các công trình khảo tả công phu của Nguyễn Văn Huyên vào nửa cuối thập niên 1930 về hội làng Giá và hội làng Phù Đổng.
  • Giai đoạn từ năm 1945 đến tháng 12/1986:
    • Tại miền Nam (1954-1975): Các tác giả Bửu Kế, Đạm Quang, Tạ Thúc Khải, Thái Bạch, Lê Văn Hảo (1959-1964) miêu thuật hội Đền Hùng, nghi thức cúng đình, hội mùa; Nguyễn Đăng Thục (1965-1973) tìm hiểu tư tưởng bình dân qua lễ hội; Sơn Nam, Đông Hồ viết tản văn, khảo cứu; Toan Ánh xuất bản bộ sách Nếp cũ hội hè đình đám (1969-1974) ghi chép 54 lễ hội cổ truyền.
    • Tại miền Bắc: Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hồng Phong, Lê Văn Lan, Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán, Cao Huy Đỉnh nghiên cứu lễ hội phục vụ nhận thức lịch sử và định hướng tư tưởng. Sau năm 1975, Lê Thị Nhâm Tuyết công bố các bài viết trên tạp chí Dân tộc học (1976-1977) và tạp chí Văn hóa dân gian (1984-1985) phân loại hội làng và chỉ ra tính hai mặt của lễ hội. Tô Nguyễn và Trịnh Nguyễn (1981) phân loại 6 dạng lễ hội ở vùng Kinh Bắc - Hà Bắc. Năm 1984, Thu Linh và Đặng Văn Lung xuất bản chuyên khảo Lễ hội truyền thống và hiện đại, nghiên cứu việc tổ chức lễ hội như một hình thức nghỉ ngơi tích cực của quần chúng. Năm 1985, Đinh Gia Khánh khẳng định "hội lễ" là thời điểm mạnh trong đời sống sinh hoạt cộng đồng bắt nguồn từ xã hội nguyên thủy.
  • Giai đoạn từ sau Đổi mới (tháng 12/1986) đến nay: Số lượng công trình gia tăng vượt bậc. Về bài viết tạp chí, tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật công bố 66 bài (1986-1998) với đóng góp của Nguyễn Từ Chi, Ngô Đức Thịnh; tạp chí Văn hóa dân gian đăng tải 109 bài (1986-2003) với các bài viết của Nguyễn Xuân Kính, Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Nguyễn Chí Bền. Các hội thảo khoa học lớn được tổ chức như Hội thảo quốc tế Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (1993), Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại (2010). Về xuất bản sách, xuất hiện nhiều sách địa phương của Vũ Thanh Sơn (Hải Hưng), Tôn Thất Bình (Huế), Nguyễn Thanh (Thái Bình), Ngô Văn Trụ (Bắc Giang), Thái Kim Đỉnh (Hà Tĩnh); các công trình tổng hợp cả nước của Trương Thìn (1990), Thạch Phương và Lê Trung Vũ (1995), Nguyễn Chí Bền (2000, 2013); các chuyên khảo của Bùi Hoài Sơn (2009), Lê Hồng Lý (2008, 2010), cùng hàng loạt luận án tiến sĩ của Quách Thu Nguyệt (1996), Lê Sơn (1996), Bùi Văn Thành (2000), Nguyễn Văn Hậu (2003), Nguyễn Việt Hương (2006), Đặng Hoài Thu (2008), Hoàng Mạnh Thắng (2009), Nguyễn Xuân Hồng (2010), Lê Thanh Tùng (2012).

Về tình hình nghiên cứu diễn ngôn trên báo chí: Nghiên cứu diễn ngôn truyền thông tại Việt Nam đã tiếp cận các chủ đề: ngôn ngữ truyền hình (Nguyễn Thế Kỷ, 2011), giao tiếp ngôn ngữ báo chí (Vũ Thị Hồng Tiệp, 2016), hình ảnh người dân tộc thiểu số và định kiến tiến hóa luận (Nguyễn Văn Chính, 2010; Phạm Quỳnh Phương, 2012; Phạm Quỳnh Phương và Hoàng Cầm, 2013), vấn đề phụ nữ trên báo chí trước năm 1945 (Đặng Thị Vân Chi, 2008), tổ chức xã hội dân sự trên truyền thông (Đinh Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Minh Hiền, Vũ Phương Thảo, 2011), hay hiện tượng "sống thử" (Đinh Việt Hà, 2015).

Khoảng trống luận án giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu đi trước đã phân tích cấu trúc, chức năng của lễ hội và một số dạng thức diễn ngôn báo chí, nhưng chưa có công trình nào kết hợp liên ngành giữa Văn hóa học và Báo chí học để khảo sát diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trong suốt tiến trình lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến nay, cũng như chưa đi sâu lý giải cơ chế quyền lực chi phối sự hình thành các diễn ngôn này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết, khái niệm và khung phân tích chuyên ngành:

  • Khái niệm "Diễn ngôn" (Discourse) và lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault: Luận án tiếp thu ba định nghĩa của Foucault về diễn ngôn, bao gồm: khu vực chung của mọi nhận định; nhóm các nhận định được cá thể hóa có cấu trúc và hiệu lực chung; và hoạt động được quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo ra các nhận định. Tác giả nhấn mạnh quan điểm của Foucault và Lâm Minh Châu về tính quy chuẩn của diễn ngôn (xác lập chuẩn mực đúng/sai, chuẩn/lệch) và việc diễn ngôn gắn liền với cơ chế quyền lực. Bên cạnh đó, luận án tham khảo các hướng tiếp cận diễn ngôn từ ngôn ngữ học (quan niệm văn bản bậc cao của Emil Benveniste, Zellig Harris, Diệp Quang Ban) và thi pháp học - ký hiệu học văn hóa (Gérard Genette với thời gian tự sự; Tzvetan Todorov với địa vị chủ thể diễn ngôn; Jurij Lotman với ký hiệu học văn hóa).
  • Khái niệm "Lễ hội": Luận án phân tích sự khác biệt giữa các cách gọi dân gian ("hội", "vào đám", "hội hè đình đám") với các thuật ngữ khoa học ("hội lễ" của Đinh Gia Khánh; "lễ hội" của Trần Quốc Vượng, Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm). Tác giả xác định cấu trúc hữu cơ giữa phần Lễ (tính thiêng, nghi thức trang nghiêm) và phần Hội (sinh hoạt cộng đồng, diễn xướng, trò chơi dân gian), tập trung phạm vi vào các lễ hội cổ truyền tưởng niệm nhân vật có công với làng, với nước.
  • Khái niệm "Báo chí" và "Nhà báo": Phân định các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử theo từng thời kỳ; phân tích vị trí pháp lý, chức năng xã hội và vai trò định hướng dư luận của nhà báo theo các văn bản luật và quan điểm của Nguyễn Văn Dững, Đỗ Quang Hưng.

Phương pháp luận: Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặt các diễn ngôn báo chí trong mối liên hệ mật thiết với điều kiện kinh tế, bối cảnh chính trị, môi trường sinh thái văn hóa và thể chế quản lý của từng giai đoạn lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn hóa học giữ vai trò trung tâm và tổ chức nghiên cứu (dựa trên luận điểm của Đinh Gia Khánh), kết hợp kiến thức và thao tác của Báo chí học (phân tích phương thức truyền thông, ngôn từ, thể loại) và Lịch sử văn hóa (phân tích bối cảnh ra đời của diễn ngôn).
  • Phương pháp tổng hợp, mô tả, phân tích tài liệu và so sánh: Luận án xử lý khối lượng tư liệu gồm 558 bài báo. Tác giả tổng hợp, mô tả nội dung, phân tích theo các cụm chủ đề trên các tờ báo cùng thời kỳ để làm rõ khuynh hướng tư tưởng, đồng thời so sánh diễn ngôn giữa hai thời kỳ lớn (trước 1986 và từ 1986 đến 2017) cũng như giữa các giai đoạn nhỏ bên trong.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn sâu một số chuyên gia là nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa và cán bộ quản lý thông qua gặp trực tiếp, gọi điện thoại và trao đổi qua thư điện tử nhằm làm rõ các vấn đề thực tiễn.

Bảng tổng hợp nguồn tư liệu khảo sát chính của luận án:

Thời kỳ / Giai đoạn Cơ quan báo chí và ấn phẩm khảo sát Quy mô / Đặc điểm tư liệu
Trước năm 1945 Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Ngày Nay, Trung Bắc chủ nhật, Tri Tân. 20 bài báo viết trực tiếp về lễ hội, 14 bài về phong tục tập quán có đề cập lễ hội. Nguồn khai thác từ Thư viện Quốc gia và thư viện số SCI-BOT.
1945 - 1986 - Miền Bắc: Báo Sự Thật, Nhân Dân, Tiền phong; Tập san Văn hóa, Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, tạp chí Văn học, Dân tộc học, Nghiên cứu nghệ thuật, Văn hóa dân gian.
- Miền Nam (1955-1975): Văn hóa nguyệt san, Bách khoa, Tập san Sử Địa.
Khảo sát các bài viết về lễ tế, hội mùa, nếp sống mới và các bài nghiên cứu bước đầu về giá trị, hạn chế của hội làng.
1986 - 2017 - Báo in: Báo Nhân Dân cuối tuần, Tiền phong, Tuổi trẻ.
- Báo mạng điện tử (2014-2017): VnExpress, VietNamNet.
Khảo sát diện rộng trong tổng số 558 bài báo; phân tích các tuyến bài về bùng nổ lễ hội, thương mại hóa và tranh luận hiện tượng bạo lực, phản cảm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái niệm, tổng quan tình hình nghiên cứu và lý thuyết vận dụng

Chương 1 xác lập hệ thống cơ sở lý luận của đề tài. Tác giả làm rõ nội hàm ba khái niệm trung tâm: diễn ngôn, lễ hội, báo chí và nhà báo. Luận án phân tích ba định nghĩa diễn ngôn của Michel Foucault, đồng thời đối chiếu với các cách tiếp cận từ ngôn ngữ học (Emil Benveniste, Zellig Harris, Diệp Quang Ban), thi pháp tự sự (Gérard Genette, Tzvetan Todorov) và ký hiệu học văn hóa (Jurij Lotman). Về thuật ngữ lễ hội, chương này phân tích sự tiến triển từ cách gọi dân gian đến việc phân định "hội lễ" (Đinh Gia Khánh) và "lễ hội" (Trần Quốc Vượng, Lê Trung Vũ), nhấn mạnh tính thiêng và sự thống nhất hữu cơ giữa hai thành tố lễ và hội. Chương 1 cũng tổng quan chi tiết lịch sử nghiên cứu lễ hội tại Việt Nam qua các giai đoạn (trước 1945, 1945-1986, sau 1986) và tổng quan các hướng nghiên cứu diễn ngôn báo chí trong nước, từ đó khẳng định tính cấp thiết của đề tài.

Chương 2: Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trước thời kỳ Đổi mới

Chương 2 chia tiến trình nghiên cứu thành 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: Khảo sát các tờ báo tiêu biểu (Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc chủ nhật, Ngày Nay, Tri Tân). Tác giả phân tích bối cảnh thuộc địa, cơ chế kiểm duyệt của chính quyền thực dân, các luồng tư tưởng chính trị và 5 cuộc tranh luận văn hóa - học thuật lớn đương thời (tranh luận Quốc học, truyện Kiều, duy vật và duy tâm, thơ mới và thơ cũ, nghệ thuật vị nghệ thuật hay vị nhân sinh). Diễn ngôn báo chí thời kỳ này tập trung phê phán mạnh mẽ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ buôn thần bán thánh và thói lãng phí trong hội làng, đồng thời cổ vũ cho xu hướng "văn minh hóa phong tục" theo chuẩn mực Tây phương (tiêu biểu qua ngòi bút của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Đạo).
  • Giai đoạn từ ngày độc lập (2/9/1945) đến ngày đất nước thống nhất (30/4/1975): Ở miền Bắc, trong hoàn cảnh chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội, diễn ngôn trên báo Sự Thật, Nhân Dân, Tiền phong gắn liền với chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, tiết kiệm thời gian, tiền của để phục vụ sản xuất và chiến đấu; việc tổ chức lễ hội bị hạn chế tối đa. Ở miền Nam, dưới chính quyền Sài Gòn, các ấn phẩm như Văn hóa nguyệt san, Bách khoa, Tập san Sử Địa thể hiện diễn ngôn hoài niệm, bảo tồn cổ tục, khảo cứu phong tục dân gian gắn với tâm lý hướng về nguồn cội dân tộc.
  • Giai đoạn từ sau ngày đất nước thống nhất đến tháng 12/1986: Đất nước bước vào thời kỳ hậu chiến trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đời sống khó khăn. Quyết định số 56-CP ngày 18/3/1975 của Hội đồng Chính phủ quy định không phục hồi các hội làng đã bỏ từ lâu. Tuy nhiên, bước ngoặt tư tưởng xuất hiện với Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN7 ngày 4/4/1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa, mở đường cho việc nhìn nhận lại di sản. Diễn ngôn khoa học và báo chí thời kỳ này (với các bài viết của Lê Thị Nhâm Tuyết, Thu Linh, Đặng Văn Lung, Đinh Gia Khánh) bắt đầu khẳng định giá trị tích cực, chức năng giải trí lành mạnh và tính tất yếu của sinh hoạt hội lễ cộng đồng.

Chương 3: Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trong thời kỳ Đổi mới

Chương 3 phân tích sự biến chuyển diễn ngôn qua 3 giai đoạn của thời kỳ Đổi mới:

  • Giai đoạn từ tháng 12/1986 đến hết năm 1996: Sau khi đất nước thực hiện Đổi mới, các lễ hội cổ truyền dần được khôi phục. Diễn ngôn báo chí (Nhân Dân cuối tuần, Tiền phong, Tuổi trẻ) chuyển từ việc phê phán, cấm đoán sang ghi nhận lễ hội là nhu cầu văn hóa, tinh thần chính đáng của nhân dân, thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn".
  • Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2009: Thời kỳ diễn ra sự bùng nổ lễ hội trên quy mô toàn quốc. Diễn ngôn báo chí bắt đầu phân hóa sâu sắc. Bên cạnh việc ngợi ca bản sắc truyền thống, báo chí phản ánh tình trạng thương mại hóa, hiện tượng "buôn thần bán thánh", mê tín dị đoan tái xuất hiện, việc xâm phạm không gian di tích và những bất cập trong công tác phân cấp quản lý tổ chức lễ hội.
  • Giai đoạn từ năm 2010 đến nay (2017): Với sự phát triển của báo mạng điện tử (VnExpress, VietNamNet), diễn ngôn báo chí tập trung vào các cuộc tranh luận gay gắt xung quanh những hiện tượng bị coi là "bạo lực", "dã man", "phản cảm" (như tục chém lợn ở hội làng Ném Thượng - Bắc Ninh, cướp phết ở Hiền Quan - Phú Thọ, chọi trâu ở Đồ Sơn - Hải Phòng). Diễn ngôn giai đoạn này thể hiện sự giằng co quyết liệt giữa hai luồng quan điểm: bảo tồn tập tục truyền thống bản địa và đòi hỏi văn minh hóa theo chuẩn mực xã hội hiện đại.

Chương 4: Những vấn đề đặt ra từ diễn ngôn về lễ hội trên báo chí

Chương 4 đúc kết 5 vấn đề cốt lõi nảy sinh từ thực tiễn phân tích diễn ngôn báo chí:

  1. Mối quan hệ giữa chính quyền – nhà khoa học – nhà báo – dư luận xã hội: Phân tích sự tương tác, bổ trợ và mâu thuẫn giữa 4 chủ thể. Chính quyền ban hành thể chế quản lý; nhà khoa học cung cấp tri thức giải mã biểu tượng; nhà báo định hướng thông tin và tạo lập dư luận; dư luận xã hội vừa tiếp nhận vừa phản hồi, gây sức ép trở lại đối với công tác quản lý.
  2. Vấn đề giới của chủ thể diễn ngôn: Nhận diện sự áp đảo của nam giới trong tư cách là người sản xuất diễn ngôn báo chí và nhà quản lý văn hóa, dẫn đến những góc nhìn mang tính thiên kiến nam giới khi đánh giá vai trò của phụ nữ trong các thực hành lễ hội.
  3. Định hướng tuyên truyền của Đảng và Nhà nước: Làm rõ sự chi phối của các văn kiện, chỉ thị của Đảng và nghị định của Nhà nước đối với việc thiết lập chuẩn mực diễn ngôn báo chí, định hướng lễ hội phục vụ giáo dục truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc.
  4. Nền kinh tế thị trường và xu hướng thương mại hóa hoạt động báo chí: Phân tích áp lực kinh tế, chạy theo lượng truy cập (view) của báo điện tử dẫn đến xu hướng giật gân, khai thác quá mức các yếu tố kỳ dị, tranh cướp, bạo lực để thu hút bạn đọc, làm sai lệch bản chất thiêng liêng của lễ hội.
  5. Chủ nghĩa dân tộc, quan điểm bảo tồn di sản và những “ám ảnh” tiến hóa luận: Chỉ ra sự tồn tại của hệ tư tưởng tiến hóa luận phương Tây ngấm ngầm trong tư duy người viết báo. Việc dùng các nhãn mác "lạc hậu", "man rợ", "phi văn hóa" để áp đặt lên các nghi lễ cổ truyền phản ánh định kiến của lối tư duy văn minh - tiến hóa, gây mâu thuẫn với quan điểm bảo tồn tính đa dạng văn hóa và chủ quyền di sản của cộng đồng địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt khoa học được tác giả tự xác định:

  • Về mặt lý luận:
    • Luận án hệ thống hóa cách tiếp cận vấn đề diễn ngôn trong các lĩnh vực ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học và nghiên cứu văn hóa, từ đó xác lập nét đặc thù của việc nghiên cứu diễn ngôn trong văn hóa học.
    • Đề xuất khung nội dung và tiêu chí phân tích diễn ngôn về lễ hội trên báo chí.
    • Làm rõ các yếu tố kinh tế, chính trị, tư tưởng chi phối diễn ngôn và chỉ ra cơ chế quyền lực tác động đến việc kiến tạo các nhận định về lễ hội trên phương tiện truyền thông.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Luận án tập hợp, mô tả và hệ thống hóa tương đối toàn diện diễn trình diễn ngôn báo chí về lễ hội từ đầu thế kỷ XX (năm 1915) đến năm 2017.
    • Phân kỳ lịch sử diễn ngôn báo chí thành các thời kỳ và giai đoạn rõ rệt gắn liền với biến động lịch sử xã hội của đất nước.
    • Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn giúp các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý văn hóa và cơ quan truyền thông điều chỉnh phương thức quản lý, tuyên truyền về lễ hội cổ truyền.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ kết quả nghiên cứu:

  • Đối với cơ quan quản lý văn hóa: Cần lắng nghe tiếng nói của cộng đồng chủ thể di sản, tránh áp đặt các mệnh lệnh hành chính thô bạo mang định kiến tiến hóa luận lên các thực hành tín ngưỡng địa phương; phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, giới khoa học và báo chí để tạo sự đồng thuận xã hội.
  • Đối với giới báo chí và người làm truyền thông: Cần trang bị phông kiến thức văn hóa học vững vàng khi tiếp cận lễ hội; từ bỏ xu hướng giật gân, câu khách; phản ánh trung thực bối cảnh và ý nghĩa biểu trưng của các nghi lễ thay vì phiến diện dán nhãn "dã man", "lạc hậu".

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về nguồn tư liệu trước năm 1945, do điều kiện chiến tranh và tình hình lưu trữ lịch sử chưa đầy đủ, tác giả chỉ tiếp cận được các tư liệu hiện còn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và nguồn số hóa từ Thư viện số SCI-BOT, chưa bao quát được toàn bộ các ấn phẩm báo chí xuất bản thời kỳ thuộc Pháp.
  • Về nguồn tư liệu giai đoạn từ năm 1986 đến nay, do số lượng cơ quan báo chí phát triển quá lớn (hơn 800 cơ quan báo in, hơn 70 báo điện tử), luận án chỉ tiến hành khảo sát có chọn lọc trên các tờ báo tiêu biểu (Nhân Dân cuối tuần, Tiền phong, Tuổi trẻ) và hai báo điện tử (VnExpress, VietNamNet trong khung thời gian 2014-2017), chưa thể bao quát toàn diện các tạp chí chuyên ngành hay báo chí địa phương trong cùng thời kỳ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các loại hình truyền thông nghe - nhìn (phát thanh, truyền hình) và truyền thông xã hội (mạng xã hội, diễn đàn mạng), nơi diễn ra các cuộc tranh luận đa chiều của công chúng về lễ hội đương đại.
  • Khảo sát sâu hơn các diễn ngôn báo chí địa phương tại các địa bàn có mật độ lễ hội đậm đặc để đối sánh với diễn ngôn của các cơ quan báo chí trung ương.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Báo chí học, Nghiên cứu truyền thông, Quản lý văn hóa và Lịch sử văn hóa: Bản luận án cung cấp mô hình ứng dụng lý thuyết diễn ngôn của Foucault vào phân tích truyền thông văn hóa; đồng thời chương 1 và chương tổng quan tài liệu là nguồn dữ liệu thư mục chi tiết về lịch sử nghiên cứu lễ hội Việt Nam.
  • Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý văn hóa từ trung ương đến địa phương: Luận án cung cấp dữ liệu thực chứng tại Chương 4 về mối quan hệ giữa 4 chủ thể (chính quyền, nhà khoa học, nhà báo, dư luận xã hội), hỗ trợ việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và phương thức quản lý lễ hội phù hợp với tính đa dạng văn hóa.
  • Phóng viên, biên tập viên các cơ quan thông tấn, báo chí: Nội dung phân tích về "ám ảnh tiến hóa luận" và áp lực thương mại hóa truyền thông giúp người làm báo nâng cao ý thức trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp và phông tri thức khi tác nghiệp tại các lễ hội truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng tư liệu báo chí được luận án khảo sát cụ thể như thế nào qua các giai đoạn? Luận án tiến hành thu thập và xử lý tổng cộng 558 bài báo với hàng ngàn trang tư liệu. Trong đó, giai đoạn trước năm 1945 thu thập được 20 bài báo viết trực tiếp về lễ hội và 14 bài về phong tục tập quán liên quan trên các tờ Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Ngày Nay, Trung Bắc chủ nhật, Tri Tân. Giai đoạn 1945-1986 khảo sát trên hệ thống báo Đảng, báo đoàn thể, các tập san chuyên ngành tại miền Bắc và 3 ấn phẩm tại miền Nam (Văn hóa nguyệt san, Bách khoa, Tập san Sử Địa). Giai đoạn sau 1986 tập trung vào các báo in (Nhân Dân cuối tuần, Tiền phong, Tuổi trẻ) và 2 báo điện tử (VnExpress, VietNamNet giai đoạn 2014-2017).

2. Lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault được tác giả vận dụng nhằm mục đích gì? Tác giả vận dụng lý thuyết của Michel Foucault nhằm vượt qua giới hạn của việc phân tích ngôn ngữ học thuần túy. Luận án xem diễn ngôn báo chí là một hoạt động được quy chuẩn (regulated practice), qua đó phân tích cách thức báo chí thiết lập các chuẩn mực giá trị (đúng/sai, văn minh/lạc hậu) về lễ hội, đồng thời vạch rõ cơ chế quyền lực (thể chế chính trị, định hướng của nhà nước, lợi ích kinh tế của cơ quan báo chí) chi phối quá trình tạo lập và phổ biến các diễn ngôn đó trong từng thời kỳ lịch sử.

3. Vì sao luận án dành dung lượng để phân biệt thuật ngữ "lễ hội" và "hội lễ"? Văn bản luận án cho thấy trong lịch sử, dân gian chỉ dùng từ "hội", "hội làng", "vào đám", "hội hè đình đám". Thuật ngữ "hội lễ" và "lễ hội" bắt đầu xuất hiện trên báo chí và nghiên cứu từ các thập niên 1950, 1960, 1970 và trở nên phổ biến từ thập niên 1980. Tác giả phân tích sự khác biệt giữa quan điểm của GS. Đinh Gia Khánh (kiên trì dùng "hội lễ" để nhấn mạnh nguồn gốc lao động sản xuất từ thời nguyên thủy) với các học giả như Trần Quốc Vượng, Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý (dùng "lễ hội" để nhấn mạnh tính thiêng, mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời giữa phần nghi lễ tôn kính và phần sinh hoạt hội hè). Việc phân định này giúp xác lập khung khái niệm chuẩn xác cho đề tài.

4. Khái niệm "những ám ảnh tiến hóa luận" trong Chương 4 của luận án phản ánh điều gì? Khái niệm này phản ánh việc nhiều nhà báo và công chúng vô thức tiếp nhận mô hình tiến hóa luận văn hóa phương Tây, lấy thang bậc văn minh hiện đại làm thước đo duy nhất để đánh giá các phong tục cổ truyền. Biểu hiện cụ thể là việc báo chí thường sử dụng các tính từ mang tính định kiến như "man rợ", "lạc hậu", "kém văn minh", "phi văn hóa" khi đưa tin về các nghi thức hiến tế (như tục chém lợn ở Ném Thượng) hay các trò diễn mang tính đối kháng (như cướp phết ở Hiền Quan), từ đó làm lu mờ giá trị lịch sử và niềm tin tâm linh của cộng đồng bản địa.

5. Luận án giải quyết khó khăn gì trong quá trình tiếp cận các tư liệu báo chí quý hiếm trước năm 1945? Do các ấn phẩm trước năm 1945 như Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc chủ nhật, Ngày Nay, Tri Tân là tư liệu quý hiếm, tác giả đã làm việc trực tiếp tại Thư viện Quốc gia Việt Nam để xin sao chụp thủ công các bài báo. Đồng thời, thông qua sự hỗ trợ của Thư viện Khoa học Xã hội, tác giả đã tiếp cận và mua lại bản số hóa của Nam Phong tạp chí, Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, Tập san Sử Địa từ Thư viện số SCI-BOT do một nhóm nghiên cứu sinh Việt Nam ở nước ngoài điều hành.

Kết luận

Luận án Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí Việt Nam của nghiên cứu sinh Lại Thị Hải Bình là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Văn hóa học, kết hợp phương pháp tiếp cận liên ngành với Báo chí học và Lịch sử văn hóa. Dựa trên việc phân tích khối tư liệu 558 bài báo trải dài từ năm 1915 đến năm 2017, tác giả đã phục dựng toàn diện diễn trình biến chuyển của các diễn ngôn về lễ hội qua các mốc lịch sử trước và sau thời kỳ Đổi mới. Công trình làm rõ cơ chế tác động qua lại giữa các yếu tố chính trị, kinh tế, học thuật và truyền thông trong việc định hình nhận thức xã hội đối với lễ hội, đồng thời nhận diện sâu sắc các vấn đề về quyền lực diễn ngôn, định kiến tiến hóa luận và thương mại hóa báo chí. Kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách văn hóa, hoạt động nghiệp vụ báo chí và công tác đào tạo học thuật.