Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VE CÁC BAO ĐIỆN TỬ KHAO SAT 1. Phản biện xã hội báo điện tử 1. Phản biện và Phản biện xã hội 1. Phản biện Phản biện là một khái niệm thường gặp trong đời sống xã hội.
Tuy vậy, không phải ai cũng thật sự hiểu rõ về khái niệm này, hoặc có nhiều cách hiểu chưa đi đến thống nhất, vì còn tùy theo góc nhìn lý luận khác nhau. Trước hết, “phản biện” là từ Hán — Việt. Xét theo nghĩa từ nguyên, phản (Kz) là nghĩ, xét lại, biện (3) là phân tích, biện xét. Còn trong Dai tir điền tiếng Việt (2011) do Nguyễn Như Ý chủ biên, ở trang 1197, mục từ “phản biện” được diễn giải “là việc xem xét, đánh giả chat lượng mot công trình khoa hoc trước hội đông cham thi nghiệm thu dé tai” hoặc là “đánh giá chat lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ dé lấy học vị trước hội đồng chấm thi” [65, tr.
Trong cuốn Báo chí và dự luận xã hội, tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng phản biện là hoạt động đánh giá chất lượng của một công trình khoa học khi công trình khoa học đó được tiễn hành đưa ra trình bày trước hội đồng khoa học [18, tr. Có thé thay, với các cách hiểu trên, khái niệm phản biện lúc đầu thường được dùng theo nghĩa hẹp, được xem là một thành tố hoạt động trong các quy trình nhận xét, đánh giá chất lượng khoa học ở những hoạt động nghiên cứu khoa học. Dân da về sau, thuật ngữ phản biện được sử dụng rộng rãi sang các lĩnh vực chính trị, văn hóa đời sống xã hội. Khái niệm phản biện cũng được nhắc đến từ sớm trong các văn bản của Đảng ta.
Đó là các chỉ thị: Chỉ thị số 35-CT/TW ban hành ngày 11/4/1988 của Ban Bí thư về củng cố tổ chức và đây mạnh hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 11/11/1998 về đây mạnh hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Tuy vậy, phải đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2005) của Đảng, khái niệm phản biện mới chính thức được ghi nhận trong văn kiện của Đảng. Trang 182 của tài liệu Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thir X của Đảng viết rõ “phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, dé án trong các lĩnh vực khác nhau ” [16, tr. 19 Về phía quản lý nhà nước, ngày 30/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, trong đó có nhắc đến khái niệm phản biện.
Cụ thể, tại điểm 7 của điều 1, quyết định này định nghĩa “phản biện là hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến về sự phù hợp của nội dung dé án đối với các mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban dau hoặc thực trạng đặt ra ”. Mười hai năm sau, trước những yêu cầu từ quá trình thực hiện trong thực tiễn, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg về hoạt động tư van, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ký ngày 14/02/2014. Theo đó, điểm 2, điều 2 ghi rõ: “phản biện là hoạt động dua ra nhận xét, đánh giá, phê bình và các khuyến nghị về sự phù hợp cua nội dung dé án với mục tiêu và các điêu kiện đã quy định hoặc thực trạng đặt ra”. Như vậy, nội dung thuật ngữ phản biện, sau mười hai năm ké từ lần đầu được nhắc đến chính thức, đã được Chính phủ điều chỉnh, bổ sung nhằm sát với hoạt động thực tiễn.
Ở góc độ báo chí truyền thông, tác giả Nguyễn Tran Bat trong cuốn Doi thoại với tương lai, đã định nghĩa “phản biện là một hành vi xác định tính khoa học của hành động con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động” [8, tr. Tác giả Nguyễn Tran Bạt cũng đánh giá công tác phản biện sẽ góp phần bồ sung, điều chỉnh các khuynh hướng chính trị, kinh tế, văn hóa, và làm cho các khuynh hướng này trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn. Với quan điểm này của tác giả Nguyễn Trần Bạt, có thể thấy khái niệm phản biện đã được mở rộng nội hàm sử dụng, không chỉ gói gọn trong không gian các hoạt động nghiên cứu khoa học, mà còn bao khắp các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Còn tác giả Trần Xuân Thân trong luận án Phản biện xã hội trên báo điện tử, cho rằng “phản biện là sự phản hôi có biện luận về một vấn dé (thuộc quan điểm, chủ trương, chính sách.
cụ thê) trong đời sống nhằm phân định tốt - xấu, đúng - sai, từ đó bồ sung, hoàn thiện nd”. Đây có thé xem là định nghĩa ngắn gọn nhưng bao hàm chính xác, đầy đủ nội hàm của khái niệm phản biện trong lĩnh vực báo chí truyền thông. Như vậy, tổng hợp những diễn đạt vừa dẫn chứng, chúng ta có thê thấy khái niệm phản biện đều được hiểu là một hoạt động của cá nhân hoặc tô chức thực hiện nhằm mục đích đánh giá, thâm định chất lượng, giá tri của một sản phẩm khoa học hoặc một van đề trong đời sống. Phản biện giúp bồ sung, điều chỉnh, sửa đổi nội dung được 20 phản biện.
Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt giữa phản biện và phản bác. Theo tác giả Trần Hậu trong bài viết “Phản biện xã hội” đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 12- 2014, phản biện có nội hàm rộng hơn so với phản bác. Phản biện với ý nghĩa đúng đắn và toàn diện, ké cả phải sử dụng đến phương án phan bác, thì nó vẫn mang động cơ xây dựng. Từ những dẫn chứng và phân tích trên, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu đi trước, khái niệm phản biện sử dụng trong luận văn này được hiểu là sự phản hoi ý kiến bằng lập luận của cá nhân hoặc tổ chức về một van dé nào đó nhằm dong ý thong nhất, bổ Sung dé hoàn thiện hoặc bác bỏ van dé do.
Phản biện xã hội Là một khái niệm được xây dựng trên cơ sở nội hàm của khái niệm phản biện, nên khái niệm PBXH hiện cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa thông thường, đơn giản nhất, hoạt động PBXH có thé đã xuất hiện trong lịch sử nước ta vào hàng nghìn năm trước. Theo các sử liệu từ thời phong kiến, các bậc vua chúa đã thành lập bên mình một đội ngũ gián quan dé cùng ban bạc, thảo luận, phân tích tính đúng sai, liệu có hợp lòng dân hay không về những quyết sách của triều đình. Một ghi nhận mang tính sử liệu sớm nhất có thé kê đến là tác phẩm Thiên đô chiếu (Chiếu dời đồ) của vua Lý Thái Tổ viết năm Canh Tuất niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (tức năm 1010) được Ngô Sĩ Liên ghi lại ở thế ky XV trong sách Dai Việt sử ký toàn thư.
Trong thiên tác phẩm mang tầm nhìn thời đại này, sau khi nêu rõ những lý do của việc cần thiết phải dời đô, cũng như những lợi thế thuận lợi để chọn vùng đất Đại La (thuộc quận Ba Đình, Hà Nội ngày nay) là nơi lập kinh đô mới nhằm dựng nghiệp lớn, xây su phon vinh, trường kỳ cho muôn đời thế hệ sau, vua Lý Thái Tổ đã hỏi ý kiến các quan đại thần trong triều: “Trâm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thé nào ?”. Chỉ một câu hỏi ngăn gọn, nhưng là biểu hiện sinh động về tỉnh thần quan tâm, thái độ lắng nghe suy nghĩ, ý kiến phản hồi từ các triều thần của vua Ly Thái Tổ. Đó chính là tư tưởng PBXH buổi ban dau. Sang đời nhà Trần, một hoạt động PBXH nỗi tiếng cũng được sử sách lưu rõ.
Trước họa xâm lăng của giặc Nguyên — Mông lần thứ hai (năm 1285), triều đình bấy giờ đã mở Hội nghị Diên Hồng tại kinh thành Thăng Long dé đưa ra các quyết sách quan trọng có tính chất quyết định trực tiếp đến vận mệnh non sông đất nước. Tại Hội nghị, Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã trưng cầu dân ý, hỏi các quan thần và các bô lão 21 trong cả nước về chủ trương ứng phó với giặc xâm lược: “nền hòa hay đánh?”. Hội nghị này được các sử gia từ trước đến nay đều đánh giá là hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam vì tính chất đảm bảo chính quyền minh bạch, lắng nghe tiếng lòng dân chúng mà hội nghị đã thê hiện. Hoạt động PBXH được vương triều áp dụng thành công, khơi dậy lòng yêu nước, tạo nên sức mạnh doan kết chống giặc của dân tộc.
Và năm 2014, tên gọi “Diên Hồng” cũng đã được đặt tên cho phòng họp chính của toàn thê đại biểu Quốc hội tại các kỳ họp thường niên trong Tòa nhà Quốc hội mới — nơi đại diện cho ý kiến, tiếng nói của nhân dân cả nước. Đến thời kỳ lịch sử hiện đại, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất xem trọng công tác lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, lắng nghe tiếng nói PBXH của nhân dân. Đó cũng luôn là chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước, của Chính phủ, ké từ khi thành lập Đảng, rồi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Sau Đổi mới 1986, chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước càng coi trọng tinh than dân chủ, xác định công tác lấy ý kiến đóng góp của nhân dân là việc làm cấp thiết, là hoạt động quan trọng.
PBXH vừa là một nhu cầu khách quan của hoạt động lãnh đạo xã hội, vừa là một hiện thực tất yếu luôn tôn tại trong đời song chính tri. PBXH được sử dung chính thức trong Báo cáo chính tri tại Dai hội Dai biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng.