CHƯƠNG I: QUAN NIỆM CỦA MỘT SÓ NHÀ TƯ TƯỞNG TRƯỚC C.MAC VE “DIEM KHỞI ĐÀU NGHIÊN CỨU” 1. Hoàn cảnh xã hội cho sự ra đời tác phẩm “Tư bản” và tư tưởng C. Mác về “điểm khởi đầu nghiên cứu” Chúng ta đêu biệt, một lý luận được hình thành phải dựa trên hai cơ sở: đối tượng hiện thực và lịch sử nhận thức về đối tượng. Vậy trước khi tìm hiểu quan niệm của một số nhà tư tưởng trước C.
Mác về “điểm khởi đầu nghiên cứu”, chúng ta cần có những hình dung tổng quát về hoàn cảnh xã hội cho sự ra đời của tác phẩm “Tư bản” và tư tưởng C. Mác về “điểm khởi đầu nghiên cứu”. Vào những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, thế giới chứng kiến sự xác lập và chiếm ưu thế hoàn toàn của chủ nghĩa tư bản. Những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn phát triển đầu tiên: tự do cạnh tranh.
Ở đó, chủ nghĩa tư bản đã khẳng định sự tiễn bộ về chất so với các chế độ xã hội trước, tập trung nhất trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong chủ nghĩa tư bản giai đoạn này đã tạo ra một năng suất lao động cao, thể hiện ở khối lượng sản phẩm bằng tổng khối lượng sản phẩm trong nhiều thế kỷ trước cộng lại. Cùng với những ưu điểm đó, chủ nghĩa tư bản cũng bộc lộ cả những mặt hạn chế không thé phủ nhận, chẳng hạn: sự đối lập giữa tình cảnh ban cùng của giai cấp vô sản và sự giàu có của giai cấp tư sản, sự bóc lột con người vô nhân đạo vì mục đích siêu lợi nhuận của nhà tư bản, sự phát triển què quặt, phiên diện của con người — vôn chỉ được xem như “cái định ôc” Điểm khởi đầu nghiên cứu trong “Tư bản” của C.Mác 8 Tran Minh Hiếu - K13 Triết học trong cỗ máy sản xuất. Tất cả những ưu điểm và hạn chế ấy biểu hiện tập trung thành mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
Sự phát triển của thực tiễn xã hội kéo theo sự phát triển tất yếu của khoa học xã hội. Khoa học này đã được bắt đầu xây dựng bởi các nhà kinh tế tư sản cô điển qua việc phát hiện ra quy luật giá trị và sự phân chia xã hội tư sản thành các giai cấp; khoa học này đã được làm phong phú thêm bởi các nhà khai sáng thế kỷ XVIII vốn cương quyết chống chế độ phong kiến và chủ nghĩa thầy tu; nó đã được thúc đây phát triển bởi các nhà sử học đầu thế kỷ XIX, những người mà cho dù còn bảo thủ về mặt chính trị - xã hội, nhưng đã nêu ra luận điểm sâu sắc về đấu tranh giai cấp như là nội dung của lịch sử toàn thế giới; khoa học này được sáng tạo ra bởi các nhà triết học cổ điển Đức, những người phát triển phương pháp biện chứng và bắt đầu áp dụng nó vào đời sống xã hội. Sải những bước dài về phía trước theo con đường phát triển cao nhất của toàn bộ triết học, sử học và kinh tế châu Âu, chủ nghĩa Mác chính là kết tinh thắng lợi rực rỡ của khoa học xã hội (V. Lênin gọi chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.
Mác là thành tựu tư duy khoa học vĩ đại nhất. Việc áp dụng chủ nghĩa duy vật vào các hiện tượng xã hội đã làm sâu sắc hơn, phát triển hơn chủ nghĩa duy vật. Những tư tưởng đầu tiên về cách hiểu duy vật lịch sử đã được C. Ăngghen đưa ra vào những năm 40 của thê kỷ XIX.
Với tính cách là lý thuyết khoa học, cách hiểu đó đã được luận chứng và vạch thảo toàn diện trong “Tư bản” và một loạt các tác phẩm khác của các ông. Cách hiểu duy vật về lịch sử xuất phát từ chỗ cho rằng, cần phải tìm cơ sở của lịch sử xã Điểm khởi đầu nghiên cứu trong “Tư bản” của C.Mác 9 Tran Minh Hiếu - K13 Triết học hội loài người không phải trong những quan hệ tư tưởng hệ, mà phải là trong quan hệ vật chất. Từ vô số các lĩnh vực của đời sống xã hội, chủ nghĩa C. Mác tách ra các quan hệ sản xuất gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất, và chỉ ra rằng, chính những quan hệ sản xuất đó là cơ sở cho sự phát triển của tất cả những quan hệ xã hội còn lại khác, là hạ tầng hiện thực cho toàn bộ thượng tầng chính trị, pháp quyền, cũng như các hình thái ý thức xã hội khác mọc lên.
Chủ nghĩa Mác chỉ rõ rằng, lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp, còn các giai cấp xuất hiện và tồn tại phụ thuộc vào các điều kiện vật chất trong đó xã hội tạo ra những phương tiện thiết yếu cho sự tổn tại của mình. Với quan điểm duy vật lịch sử, C. Mác cho rằng sự phát triển xã hội loài người là một tiến trình lịch sử - tự nhiên, tuân theo những quy luật khách quan của nó. Xã hội tư bản do vậy không phải là hình thái kinh tế tồn tại mãi mãi, bất biến, những mâu thuẫn đang tồn tại trong nó nhất định sẽ dẫn tới sự thay thế nó bằng một hình thái khác, hình thái xã hội chủ nghĩa.
Cần phải luận chứng về mặt khoa học cho hình thái xã hội tương lai, C. Mác đã xác định nhiệm vụ đầu tiên là phải “giải phẫu xã hội tư bản”, tìm ra quy luật vận động thật sự của nó. Trong quá trình này, C. Mác đã bắt gặp một nhu cầu bức thiết của thực tiễn lý luận: làm thế nào để xác định đúng “điểm khởi đầu nghiên cứu”? Gắn liền với lý luận về hình thái xã hội chủ nghĩa, công việc luận chứng khoa học cho nó nhất thiết phải bắt đầu từ một khởi điểm lôgic.
Mà khởi điểm lôgic ấy phải là sự phản ánh cái mầm mống, cái tế bào của xã hội tương lai trong chính xã hội hiện tại — xã hội tư bản. Điều này quả thực là không dễ dàng một khi nhà nghiên cứu chưa thấu hiểu thực sự bản chất Điểm khởi đầu nghiên cứu trong “Tư bản” của C.Mác 10 Tran Minh Hiếu - K13 Triết học xã hội mình đang sống. Mà bản chất ấy tập trung nhất ở những quan hệ vật chất xã hội, quan hệ sản xuất. Thế mà chúng ta biết rằng, chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ thực sự được xác lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX.
Điều đó có nghĩa rằng, trong việc nghiên cứu xã hội tư bản, các nhà tư tưởng trước C. Mác, dù đứng trên lập trường nào, với tinh thần khách quan, công bằng khoa học bao nhiêu đi nữa, vẫn chưa thể có một phương pháp luận thực sự trong việc “giải phẫu” xã hội tư bản dé tìm ra bản chất của nó. Điều này có thê được chứng minh rất rõ trong nghiên cứu của các nhà kinh tế chính trị học tư sản cô điển thể kỷ XVII, hay của các nhà xã hội không tưởng thế kỷ XVII. Lấy ví dụ về chủ nghĩa xã hội không tưởng, chúng ta biết rằng với tư cách một hệ thống lý luận, nó đã xuất hiện ngay từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời.
Lý luận này đạt đến đỉnh cao nhất vào giai đoạn phát triển sôi nổi của chủ nghĩa tư bản, lúc mà những ảo tưởng của các cuộc cách mạng tư sản đã lắng xuống, và các mâu thuẫn xã hội ngày càng lộ diện đến mức hiển nhiên. Các nhà xã hội không tưởng tiêu biểu như H. Ôoen ở Anh, trong khi nhận diện và phê phán chế độ xã hội đương thời dựa trên quyền tư hữu đã cố gắng luận chứng cho tính tất yêu của sở hữu xã hội và miêu tả những bức tranh xã hội lý tưởng trong tương lai. Tuy vậy, lý luận mà họ xây dựng về hình thái chủ nghĩa xã hội đều có một điểm chung: rính chất không tưởng.
Tại sao vậy? Vì phương pháp mà họ lựa chọn xuất phát điểm nghiên cứu về lý luận này đã không đúng ngay từ đầu. Xanhximông (1769 - 1825) là nhà tư tưởng cho rằng mỗi chế độ xã hội đều là một bước tiến trong lịch sử, và đó là một xu thé mang tinh Điểm khởi đầu nghiên cứu trong “Tư bản” của C.Mác 11 Tran Minh Hiếu - K13 Triết học khách quan. Nhưng ông coi động lực của sự phát triển xã hội nằm ở sự tiễn bộ của tri thức khoa học, của đạo đức và tôn giáo. Do đó, theo ông xã hội tương lai là xã hội xây dựng trên cơ sở nền đại công nghiệp có tổ chức khoa học và có kế hoạch, nhưng vẫn duy trì chế độ tư hữu và các giai cấp.
Vai trò thống trị trong xã hội ấy thuộc về khoa học và công nghiệp, các nhà khoa học và các nhà công nghiệp. Ông hy vọng rằng có thê đạt được việc tổ chức đời sống con người một cách hợp lý bằng cách tuyên truyền triết học thực chứng. Phuriê (1772 - 1837) khi chứng minh sự cần thiết phải xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, ông xuất phát từ luận điểm của các nhà duy vật Pháp về vai trò quyết định của môi trường và của giáo dục trong việc đào tạo con người. Mọi dục vọng và đam mê của con người tự bản thân nó đều tốt đẹp.
Không phải con người hư hỏng, mà cái xã hội trong đó anh ta sông mới là hư hỏng. Vì vậy cần phải tạo nên một chế độ xã hội góp phần thỏa mãn đầy đủ dục vọng của con người. Tế bào chính của xã hội tương lai, như ông phác họa, là cái pha — lăng - giơ, mà mỗi thành viên trong đó trong một ngày lao động sẽ chuyền từ hình thức lao động này sang hình thức lao động khác. Nhờ thế, lao động sẽ biến thành một thứ nhu cầu, sẽ trở thành một đối tượng gây khoái cảm.
Ôoen (1771 - 1858) chi ra ảnh hưởng quyết định của chế độ xã hội đối với con người. Ông coi lịch sử là một quá trình tiến bộ từng bước trong sự tự nhận thức của con người, coi gốc rễ của tai họa xã hội là sự ngu đốt của con người. Do đó, trong số những biện pháp chuẩn bị cho xã hội xã hội chủ nghĩa, ông đặc biệt coi trọng giáo dục. Không hiểu được Điểm khởi đầu nghiên cứu trong “Tư bản” của C.Mác 12 Tran Minh Hiếu - K13 Triết học sự cần thiết của một cuộc cách mạng xã hội, ông đã đặt hy vọng vào các chính phủ tư sản trong công cuộc cải tạo xã hội.