Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác phục vụ NDT tại Trung tâm TT-TV Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn phòng chống Covid 19 Chương 2: Thực trạng công tác phục vu NDT tại Trung tâm TT-TV Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn phòng chống Covid 19 Chương 3: Nhận xét và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng phục vụ NDT tại Trung tâm TT-TV Truong Dai học Công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn bình thường mới. CHUONG 1: CƠ SO LY LUẬN VE CONG TÁC PHUC VỤ NGƯỜI DUNG TIN TẠI TRUNG TAM THONG TIN — THU VIỆN, TRUONG ĐẠI HOC CONG NGHIEP HA NOI TRONG GIAI DOAN PHONG CHONG COVID 19 1. Những van đề lý luận về công tác phục vụ người dùng tin 1. Một số khái niệm liên quan 1.
Khái niệm về người dùng tin Người dùng tin là một thành phần không thể thiếu trong hoạt động của các cơ quan thông tin thư viện (TT-TV), nó là cơ sở định hướng cho mọi hoạt động thông tin của các cơ quan TT-TV. NDT một trong bốn yếu tô cơ bản của hệ thống thông tin. Theo tiến trình phát triển của loài người, quan điểm về NDT được nhìn nhận và thường được gọi bằng nhiều cách khác nhau tủy từng giai đoạn. Trong tiếng Anh thuật ngữ này cũng có nhiều cách gọi và sử dụng trong các văn bản khoa học theo các thời kì như: là user, reader, customer.
Trong tiếng Việt cũng sử dụng nhiều thuật ngữ như: độc giả, bạn đọc, người đọc, NDT, khách hàng. Hiện tại, nhiều tài liệu khoa học và chuyên ngành có xu hướng sử dụng dùng từ NDT nhiều hơn. Theo Từ điển Khoa học Thông tin và Thư viện trực tuyến (The Online Dictionary for Library and Information Science - ODLIS), NDT là “người sử dung cac nguồn và dịch vụ của một thư viện, không nhất thiết phải là người đăng ký mượn” [22]. Tác giả Nwalo xác định NDT là bắt cứ ai truy cập vào thư viện với mục đích khai thác tài nguyên dé đáp ứng nhu cau thông tin của minh [21].
Một quan điểm khác của tác giả Aina thì cho rằng thuật ngữ "NDT" bao gồm tat cả những người tận dụng các dịch vụ được cung cấp bởi một thư viện [6]. Thuật ngữ này bao gồm các thuật ngữ khác nhau như khách hàng, người sử dụng thông tin, người tìm kiếm thông tin, người tiêu dùng, độc giả. những thuật 7 ngữ nay có thé được sử dụng hoán đổi cho nhau, bởi vì tat cả đều sử dụng cho những người tìm kiếm dịch vụ của thư viện. Có thê nhận thấy, thuật ngữ NDT được hiểu với ý nghĩa rộng, là người sử dụng các nguồn và dịch vụ của một thư viện nói chung chứ không phải chỉ là người có nhu cầu về thông tin và sử dụng các dịch vụ TT-TV để đáp ứng nhu câu thông tin của mình.
Họ vừa là người có nhu câu, vừa là chủ thê của NCT. Theo quan điểm của TS. Trần Thị Thanh Vân: NDT - chủ thể của NCT có thể là một cá nhân, nhóm, tập thể, cơ quan, tô chức có NCT, họ cần sử dụng thông tin, tai liệu, các sản phẩm và dịch vụ thông tin nhằm mục đích thông tin, học tập, nghiên cứu, giải trí, lao động. Theo cách hiểu này thì NDT chính là đối tượng phục vụ của hoạt động TT-TV.
Kế thừa các quan điểm trên, tác giả cho rằng: “NDT (cá nhân, nhóm, tập thé, cơ quan, tô chức) là chủ thé của NCT có nhu cau sử dụng các thông tin, tài liệu, các sản phẩm va dich vụ thông tin,. của thư viện nhăm thỏa mãn nhu cầu của mình. Họ là người sử dụng, đồng thời là người tạo ra các thông tin mới. Do đó, họ giữ vai trò hết sức quan trọng đối với sự ton tại và phát triển của các cơ quan TT-TV.
Khái niệm về công tác phục vụ người dùng tin Theo quan điểm của GS. Phan Văn: “Công fác độc giả (CTDG) - là nghiên cứu mối quan hệ giữa sách và con người trên cơ sở tâm lý học, giáo dục hoc và xã hội học cụ thể. CTĐG nghiên cứu moi quan hệ giữa cung và cau trong công tác TTTV - thư mục về TL sách báo trong các ngành khoa học và các lĩnh vực của nên kinh tế quốc dân. CTDG nghiên cứu hình thức, phương pháp tuyên truyền sách báo và hướng dẫn đọc sách, tổ chức phục vụ và thoả mãn nhu câu, hứng thú đọc sách cua độc gia trong TV và ngoài TV.
CTDG là thước do hiệu quả luân chuyển TL sách báo và tác dụng của nó trong XH. Lê Văn Viết cho rằng “Công tác phục vụ NDT/ bạn đọc là hoạt động của các cơ quan TT-TV nhằm tuyên truyền và đưa ra phục vụ các dang TL hoặc là bản sao của chúng, giúp đỡ người tới TV trong việc lựa chọn và sử dụng TL do. 8 Công tác này được xây dựng trên sự kết hợp các quá trình liên quan chặt chẽ với nhau của việc phục vụ TV, phục vụ TT, tra cứu. ” [2, 370] Một khái niệm của tác giả Phạm Thế Khang nêu rõ: “Công tác người đọc luôn được coi là công tác quan trọng nhất của TV.
Bởi vì, thông qua công tác này vốn TL quý giá của TV mới được sử dụng có hiệu quả, mới phát huy được tác dụng trong phát triển mọi mặt của đất nước, từ đó vị trí, vai trò xã hội của TV mới được khang định.” [3] Từ các quan điểm trên, tác giả cho rằng : Công tác phục vụ NDT là hoạt động không thể thiếu của các cơ quan TT-TV nhằm thúc đây sự phát triển và thỏa mãn nhu cầu, hứng thú đọc sách, báo, tra cứu tìm kiếm, cập nhật thông tin. Hoạt động này là cầu nối giữa các nguồn tài nguyên thông tin của thư viện với người dùng, xây dựng cho NDT thói quen, nhu cầu, hứng thú đến với thư viện một cách thường xuyên. Vai trò của công tác phục vụ người dùng tin trong hoạt động thông tin thư viện Công tác phục vụ NDT chính là hoạt động đưa thông tin, tài liệu tới NDT nhằm phát huy việc tiếp cận đến tính mới của thông tin, tăng cường được hiệu quả vòng quay của tài liệu. Mục đích cuối cùng và quan trọng trong hoạt động của các thư viện chính là thỏa mãn NCT cho NDT.
Công tác phục vụ NDT đạt hiệu quả cao sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan TT-TV, đồng thời sé khang định vị thé của co quan TT-TV đó đối với sự nghiệp giáo dục và đào tao của Nhà trường. Công tác này là thước đo dé đánh giá được hoạt động, vi thế và sự đóng góp của cơ quan TT-TV với NDT, tô chức và xã hội. Bất cứ cơ quan TT-TV có đội ngũ cán bộ thư viện chuyên môn nghiệp vụ tốt, nguồn tài nguyên thông tin đa dạng, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện dai,. nhưng chưa giúp NDT tiếp cận và khai thác các nguồn tài nguyên thông tin hiệu quả thì sẽ hoạt động của đơn vị đó không có ý nghĩa.
Thông qua công tác phục vụ NDT dé đánh giá hiệu quả xã hội của hoạt động TT-TV. Trung tâm TT-TV có thé tự kiểm tra, đánh giá được toàn bộ các khâu công tác và phương pháp hoạt động của mình. Nội dung của công tác phục vụ người dùng tin 1. Nghiên cứu nhu cau tin của người dùng tin Nghiên cứu NCT của NDT cũng như sự vận động thay đổi NCT là một nhiệm vụ quan trọng đối với các trung tâm TT-TV, bởi lẽ mọi hoạt động của các đơn vị đều hướng đến mục đích cuối cùng là thỏa mãn NCT của NDT một cách tối đa nhất.
Hoạt động nghiên cứu các thông tin về NDT sẽ giúp cho các trung tâm TT-TV biết tập hợp đối tượng NDT đồng nhất thành các nhóm NDT đồng nhất có chung đặc điểm và NCT dé có thé đáp ứng tối đa nhu cầu của họ. Việc phân loại và xác định này nhằm tìm kiếm những đặc điểm chung về NDT như: trình độ học vấn, lứa tuổi, sở thích, giới tính, thói quen sử dụng tài liệu,.Sự phân loại NDT không chỉ giúp cho thư viện xác định được những yêu cầu về SP&DVTT khác nhau của mỗi nhóm đối tượng NDT, từ đó giúp cho các thư viện xây dựng kế hoạch hoạt động một cách hiệu quả nhăm thu hút tối đa NDT đến với mình. Thư viện có thể sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu NDT và NCT khác nhau để có thé hiểu và năm bắt được NCT của NDT, các phương pháp khác nhau sẽ cho ra được kết quả nghiên cứu chính xác và khách quan hơn, cụ thê như: w Phân tích phiếu mượn, lịch sử mượn tài liệu của NDT; * Ghi nhật ký phục vụ NDT; Y Điều tra NCT bang bảng hỏi (phiếu điều tra); Y Phỏng van trực tiếp NDT; Y Tổ chức hội nghị ban đọc; Y Thu thập, tổng hợp, phân tích ý kiến của NDT trên diễn đàn trang web của thư viện vả qua thư, email. Đề nắm bắt được NCT của NDT, thư viện cần phải thường xuyên tiến 10 hành điều tra khảo sát nhu cầu theo định kì (03 tháng, 06 thang,.) dé có thé kịp thời nắm bắt sự thay đổi về NCT của NDT nhằm có những sự điều chỉnh cho phù hợp đối với các SP&DVTT cung cấp cho người dùng.
Dé thực hiện tốt công tác này, thư viện cần phải xây dựng phiếu điều tra dựa trên một số nội dung về: - Mức độ thường xuyên sử dụng thư viện của các nhóm NDT - Nội dung tài liệu/thông tin ma NDT quan tâm - Mức độ đáp ứng/khả năng thỏa mãn NCT cua NDT ở mức nao - Các SP&DV được NDT thường xuyên sử dụng và đánh giá hiệu quả - Cac kênh được NDT thường xuyên khai thác - Nhu cầu về các tài liệu/thông tin còn chưa được đáp ứng của NDT - Nang lực thông tin và khả năng khai thác các SP&DV của NDT - Những khó khăn mà NDT gặp phải khi khai thác các SP&DV Ngoài ra, với mỗi nhóm NDT khác nhau, thư viện sẽ có thêm một số nội dung khảo sát dé có thê có thêm thông tin, dé dàng phân loại các NCT, cụ thé: - Đối với nhóm NDT là cán bộ quản lý, giảng viên, nhà nghiên cứu, học viên cao học và nghiên cứu sinh gồm thông tin về: độ tuổi, giới tính, chức vu, học hàm học vỊ,. - Đối với nhóm NDT là sinh viên có những thông tin như: chuyên ngành dao tạo, độ tudi, giới tính. Kết quả của hoạt động này sẽ giúp cho các thư viện nắm bắt được nhu cầu tin cũng như khả năng tiếp cận, khai thác các SP&DV của NDT dé từ đó tạo ra các SP&DV phù hợp, nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của NDT.