CHƢƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Chó đƣợc coi nhƣ bạn của con ngƣời và đƣợc xếp vào danh mục thú cƣng. Chó là ổ chứa của nhiều mầm bệnh trong đó có một số ký sinh trùng (KST) đƣờng tiêu hóa (Robertson et al. 2000; Robertson and Thompson, 2002), đặc biệt là giun đũa Toxocara canis, giun móc Ancylostoma spp., giun tóc… là các mầm bệnh ký sinh phổ biến ở chó (Dinh et al. 2015; Nguyễn Phi Bằng và ctv.
2016; Anh và ctv. 2016; Bùi Khánh Linh và ctv. Bệnh KST đƣờng tiêu hóa là một bệnh phổ biến trên chó, có tỷ lệ nhiễm cao và gây nguy hiểm cho chó. Đặc biệt là bệnh giun tròn đƣợc cho là nguyên nhân chính gây tác động tiêu cực đến sức khỏe của chó trên toàn thế giới (Smith, 1991).
Chó có thể nhiễm một vài loại KST từ trƣớc khi chúng đƣợc sinh ra thông qua nhau thai hoặc đƣợc truyền qua sữa mẹ. Tỷ lệ nhiễm KST rất cao đối với những chó không đƣợc tẩy giun (Vikrant Sudan et al. Bên cạnh đó, điều kiện chăm sóc, nuôi dƣỡng kém làm phát sinh nhiều dịch bệnh, nhất là các bệnh KST trên chó gây nhiều tổn thất cho ngƣời nuôi. Một số bệnh KST từ chó truyền lây sang ngƣời đây mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con ngƣời.
Theo Sally Gardiner (2006) 1 con giun móc A. caninum có thể hút 0,8 ml máu/ngày, nếu 1 chó có khoảng 100 giun móc ký sinh sẽ mất 25% lƣợng máu của cơ thể. Đồng thời, chó bị giun sán ký sinh thƣờng gầy yếu, suy nhƣợc, thiếu máu, có hội chứng viêm ruột, giảm khả năng sinh sản và dễ chết do kiệt sức (Tô Du và Xuân Giao, 2006). Ngoài ra, theo Nguyễn Văn Đề và Phạm Văn Khuê (2009) thì A.
canis còn có khả năng truyền lây và gây bệnh cho ngƣời. Ngƣời bị nhiễm bệnh chủ yếu do tiếp xúc với chó (Trần Trọng Dƣơng, 2014; Đỗ Trung Dũng và ctv. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về giun sán ký sinh ở chó nhƣ Trịnh Văn Thịnh (1963), Đỗ Hài (1972, 1975), Phạm Sỹ Lăng và ctv. (1990, 1993), Phạm Văn Khuê và ctv.
(1993), Lê Hữu Khƣơng và ctv. (1999), Ngô Huyền Thúy (1996, 1998) tiến hành điều tra ở một số tỉnh thành nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Nhƣng những nghiên cứu này chỉ tập trung vào nội dung sự phân bố, dịch tễ học, hiệu lực của một số loại thuốc tẩy trừ và các biện pháp phòng bệnh. Các đặc điểm sinh học và đặc điểm bệnh lý cũng nhƣ xác định chính xác một số loài giun tròn ký sinh trên chó bằng sinh học phân tử vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu sâu.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu dịch tễ học và biện pháp phòng trị bệnh giun tròn đƣờng tiêu hóa trên chó tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long” 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Xác định một số đặc điểm dịch tễ và các yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ lệ nhiễm giun tròn đƣờng tiêu hóa trên chó tại các tỉnh ĐBSCL. Xác định một số đặc điểm sinh học của giun móc A. caninum và bệnh lý do A. caninum gây ra ở chó.
Đề xuất biện pháp tẩy trừ bệnh giun móc, giun đũa trên chó tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).3 Ý nghĩa khoa học Là công trình nghiên cứu có hệ thống về giun tròn trên chó; xác định tình hình nhiễm bệnh và các yếu tố liên quan đến sự phân bố của mầm bệnh. Xác định loài giun tròn chủ yếu gây tác hại trên chó bằng hình thái học và sinh học phân tử sử dụng PCR và giải trình tự gene. Là công trình nghiên cứu vòng đời của giun móc A. caninum trên chó tại các tỉnh ĐBSCL, nghiên cứu bệnh lý giun móc trên chó và thử nghiệm hiệu quả của thuốc.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể cung cấp thêm tƣ liệu khoa học về loài A. caninum ký sinh trên chó ở ĐBSCL, đồng thời bổ sung thông tin khoa học cho các giáo trình thú y phục vụ công tác giảng dạy.4 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của luận án là cơ sở khoa học để khuyến cáo ngƣời nuôi chó tại các tỉnh ĐBSCL, các yếu tố có ảnh hƣởng đến sự phân bố bệnh và các biện pháp phòng trị hữu hiệu nhằm giảm thiểu tác động có hại của một số loài giun tròn ký sinh ở đƣờng tiêu hóa chó và những loài có sự truyền lây sang ngƣời.5 Những đóng góp mới của luận án Đây là công trình xác định các đặc điểm dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ liên quan đến tỷ lệ nhiễm giun tròn ký sinh ở đƣờng tiêu hóa chó tại các tỉnh ĐBSCL. Xác định loài giun móc (A. ceylanicum), giun xoăn thực quản (S.
lupi) và giun đũa (T. canis) trên chó ở ĐBSCL bằng kỹ thuật PCR và giải trình tự gene. Công trình nghiên cứu hoàn chỉnh vòng đời của loài giun móc A. caninum và mô tả bệnh lý học của giun móc A.
caninum gây ra trên chó tại ĐBSCL. 2 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun tròn ở chó trên thế giới và trong nƣớc 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Tình hình nghiên cứu về giun tròn và bệnh do giun tròn ký sinh ở chó trên thế giới bao gồm các nƣớc ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ đƣợc các tác giả công bố về tỷ lệ nhiễm, thành phần loài, mức độ nhiễm bệnh của các loài giun tròn. Đặt biệt là các loài có sự truyền lây sang con ngƣời. Bằng nhiều phƣơng pháp chẩn đoán trên thú sống, thú chết bao gồm phƣơng pháp kiểm tra phân tìm trứng, ấu trùng, phƣơng pháp xác định loài bằng chẩn đoán dựa vào đặc điểm hình thái, cấu tạo, vị trí ký sinh của chúng, các phƣơng pháp sinh học phân tử dần đƣợc thực hiện tại các nƣớc tiên tiến.
Cùng với sự phát triển về công nghệ, các loại thuốc trong phòng chống bệnh do giun tròn đƣợc nghiên cứu và hàng loạt thuốc đƣợc cải tiến. Các công trình nghiên cứu về giun tròn ký sinh ở chó trên thế giới gần đây đƣợc công bố bởi nhiều tác giả sau: Craig and Macpherson (2000), chó nhiễm nhiều loài giun sán ký sinh ở đƣờng ruột trong đó một số loài có khả năng lây nhiễm qua ngƣời nhƣ loài T. canis, Ancylostoma spp. đƣợc ghi nhận có ảnh hƣởng rất nhiều đến sức khỏe cộng đồng đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển.
Traub et al. (2004) ứng dụng kỹ thuật PCR-RFLP để phát hiện và phân biệt các loài Ancylostoma spp. từ trứng trong phân chó tại bang Assam, Ấn Độ. Kết quả từ 98% chó nhiễm giun móc cho thấy chó nhiễm một loài giun móc A.
braziliense (24%) và 38% có sự nhiễm ghép giữa hai loài A. E Silva et al. (2006), đã nghiên cứu chẩn đoán phân biệt giun móc chó dựa trên PCR-RFLP từ vùng ITS của rDNA của chúng từ 20 mẫu A. braziliense, đƣợc thu thập từ 3 khu vực địa lý riêng biệt của Brazil, và từ 10 mẫu A.
caninum, đƣợc thu thập từ cùng một khu vực ở Brazil và đƣợc giải trình tự và phân tích. Sự sắp xếp của các trình tự cho thấy gene này đƣợc bảo tồn rất cao. Sự đa hình giữa các loài đặc hiệu cho cả 2 loài là dƣới 1%, trong khi mức độ đa hình giữa các loài là 6,2; 7,3 và 9,4% giữa A. Trong số 3 loài, đó là 12,30%.
Điều này cho thấy vùng ITS đƣợc bảo tồn cao và do đó là một dấu hiệu phân tử tốt cho các nghiên cứu chẩn đoán. Bốn enzyme giới hạn đã đƣợc sử dụng trong PCR-RFLP sử dụng vùng ITS của 3 rDNA, để thiết lập một chẩn đoán phân biệt giữa ba loài Ancylostoma là A. Mô hình tốt nhất đƣợc đƣa ra bởi enzyme HinfI, enzyme này tạo ra các kích thƣớc mảnh khác nhau cho mỗi loài trong số 3 loài. Hơn nữa, công cụ chẩn đoán phân biệt DNA đƣợc chiết xuất trực tiếp từ phân của những con chó bị nhiễm Ancylostoma.
Ngui et al. (2012), nghiên cứu về dịch tễ học và hệ số di truyền về sự lây truyền ở Malaysia của loài giun tròn A. ceylanicum giữa động vật và con ngƣời. Kiểm tra 634 mẫu phân ngƣời và 105 mẫu phân chó, mèo có tỷ lệ nhiễm lần lƣợt là 9,1% và 61,9%.
Khi phân tích đa biến cho thấy ngƣời tham gia trong quá trình khảo sát không đƣợc cung cấp hệ thống vệ sinh thích hợp (OR=3,5), đi chân trần (OR=5,6), và tiếp xúc gần gũi với vật nuôi hoặc gia súc (OR=12,9) là những đối tƣợng có nhiều khả năng bị nhiễm giun móc. Phân tích bằng phƣơng pháp sinh học phân tử cho thấy rằng hầu hết các bệnh nhân thƣờng nhiễm giun một loài Necator americanus, hoặc A. ceylanicum với tỷ lệ nhiễm 12,8% và 10,6% bệnh nhân nhiễm ghép cả với loài N. Chó và mèo cho kết quả dƣơng tính với A.
ceylanicum 46,0% chó mèo nhiễm A. caninum và 2,0% nhiễm A. braziliense và không thấy nhiễm ghép các loài giun móc trên chó, mèo. Traub et al.
(2013), đã thực hiện định loại dựa trên sinh học phân tử gần đây ở Châu Á đã chứng minh rằng A. ceylanicum là loài giun móc phổ biến thứ hai lây nhiễm cho ngƣời, chiếm từ 6% đến 23% tổng số ca nhiễm giun móc đƣợc tìm thấy. Trong các trƣờng hợp nhiễm giun do gây nhiễm A. ceylanicum triệu chứng lâm sàng giống với triệu chứng do giun móc tạo ra là 'ngứa trên mặt da' và đau bụng cấp tính.
Sự lây nhiễm tự nhiên với A. ceylanicum ở ngƣời đã đƣợc báo cáo ở hầu hết các khu vực địa lý mà giun móc đƣợc biết đến là loài đặc hữu ở chó và mèo. Giống nhƣ loài giun móc, A. ceylanicum trƣởng thành đƣợc thu thập trong không tràng, tạo ra các bệnh nhiễm trùng mãn tính, ở mức độ nặng gây thiếu máu và kèm theo tăng bạch cầu ái toan ngoại vi.
Ngoài ra, giun móc A ceylanicum có thể hoạt động giống nhƣ A caninum và đƣợc tìm thấy ở vị trí thấp hơn trong đƣờng tiêu hóa, dẫn đến chƣớng bụng, đau bụng và tiêu chảy có máu trong phân Inpankaew et al. (2014) đã điều tra sự phổ biến, sự lây nhiễm của các yếu tố nguy cơ đối với nhiễm giun móc ở ngƣời và chó tại một ngôi làng nông thôn Cambodia vào năm 2012. Kết quả, hơn 57% dân số bị nhiễm bệnh với giun móc, trong đó A. ceylanicum chiếm tỷ lệ 52%.
ceylanicum chiếm tỷ lệ 90%. Đặc điểm của gen cytochrome oxidase-1 chia các dòng giun 4 móc A. ceylanicum thành 2 nhóm, 1 nhóm chứa các dòng phân lập từ chỉ con ngƣời và khác là sự pha trộn của các chủng phân lập từ con ngƣời và động vật. Torres-Chablé et al.