Tổng quan luận án

Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Dengue gây ra và muỗi Aedes aegypti đóng vai trò trung gian truyền bệnh chủ yếu. Bệnh lưu hành phổ biến tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương ghi nhận tỷ lệ mắc cao. Việc kiểm soát véc tơ bằng các biện pháp hóa học phun không gian chỉ mang tính tạm thời nhằm xử lý ổ dịch cấp bách, không giải quyết triệt để nguồn sinh sản của muỗi và làm tăng nguy cơ kháng hóa chất của côn trùng cũng như gây ô nhiễm môi trường. Biện pháp căn cơ được xác định là kiểm soát và triệt phá các ổ bọ gậy tại các dụng cụ chứa nước trong và xung quanh hộ gia đình.

Tại Việt Nam, Dự án Quốc gia phòng chống sốt xuất huyết được triển khai từ năm 1999 đã áp dụng mạng lưới cộng tác viên (CTV) phòng chống sốt xuất huyết tại cộng đồng. Tuy nhiên, do nguồn ngân sách hạn chế, mạng lưới này chỉ triển khai được tại khoảng 10% số xã trọng điểm. Sau năm 2013, Dự án Quốc gia không còn duy trì kinh phí chi trả phụ cấp cho CTV, dẫn đến việc mạng lưới này ngừng hoạt động ở hầu hết các địa phương, hoạt động phòng chống dịch chuyển sang hình thức lồng ghép vào trạm y tế xã. Tỉnh Bình Phước là địa bàn thuộc vùng Đông Nam Bộ có tình hình dịch tễ SXHD lưu hành phức tạp. Việc thiếu hụt lực lượng giám sát trực tiếp tại hộ gia đình sau khi mô hình CTV kết thúc đặt ra khoảng trống lớn trong công tác kiểm soát véc tơ chủ động tại cơ sở.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Bình Phước giai đoạn 2008 - 2016.
  2. Đánh giá hiệu quả của mô hình tình nguyện viên giám sát véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết tại cộng đồng giai đoạn 2013 - 2016.

Giả thuyết nghiên cứu: Xây dựng một mạng lưới tình nguyện viên tại cộng đồng cùng với y tế cơ sở sẽ giúp thay thế mô hình cộng tác viên để thực hiện hoạt động phòng chống sốt xuất huyết tại cộng đồng có hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu dịch tễ: Các trường hợp mắc SXHD được ghi nhận qua hệ thống sổ sách, báo cáo của trạm y tế xã, sổ tay CTV và Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bình Phước; kết quả xét nghiệm huyết thanh học Mac-ELISA và phân lập virus; các chỉ số véc tơ muỗi và bọ gậy Aedes aegypti.
  • Đối tượng nghiên cứu can thiệp: Cán bộ y tế tuyến huyện và xã; tình nguyện viên tham gia mạng lưới giám sát; chủ hộ hoặc người đại diện hộ gia đình trực tiếp làm công việc vệ sinh; dụng cụ chứa nước và phế thải tại hộ gia đình.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả thực hiện trên phạm vi toàn bộ 10 huyện, thị xã thuộc tỉnh Bình Phước. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng triển khai tại 4 xã thuộc huyện Bình Long (2 xã can thiệp: Thanh Phú, Phú Thịnh; 2 xã đối chứng: An Lộc, Hưng Chiến).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 01/2008 đến tháng 12/2016, chia làm 2 giai đoạn gồm giai đoạn hồi cứu số liệu dịch tễ học (2008 - 2012) và giai đoạn theo dõi dọc, triển khai can thiệp cộng đồng (2013 - 2016). Trong đó, các can thiệp tích cực thực hiện trong 2 năm 2013 - 2014; giai đoạn 2015 - 2016 dùng để theo dõi tính bền vững của mô hình và xác định chu kỳ dịch.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về dịch tễ học SXHD và các biện pháp kiểm soát véc tơ trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Lịch sử phát hiện tác nhân và dịch tễ học: Vụ dịch SXHD đầu tiên được ghi nhận vào năm 1778 - 1780 tại châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ. Tác nhân virus Dengue được Sabin A.B phân lập năm 1944 từ binh lính tại Calcutta, New Guinea và Hawaii, xác định typ DEN-1 và DEN-2. Năm 1956, Hammon W. McD phân lập tiếp typ DEN-3 và DEN-4 từ bệnh nhân tại Manila. Tại Việt Nam, vụ dịch đầu tiên ở miền Bắc xảy ra năm 1958 được Chu Văn Tường và Mihow công bố năm 1959; tại miền Nam được ghi nhận từ năm 1960. Các vụ dịch lớn toàn quốc được ghi nhận vào các năm 1983, 1987, 1998 và 2007.
  • Thực trạng kháng hóa chất diệt côn trùng: Nghiên cứu giai đoạn 2007 - 2009 trên muỗi Aedes aegypti thu thập tại 20 điểm thuộc 10 tỉnh miền Nam ghi nhận muỗi kháng hoặc có khả năng kháng DDT tại 100% điểm nghiên cứu; đối với malathion có 30% điểm nhạy cảm, 55% có khả năng kháng và 15% kháng; đối với nhóm hóa chất Pyrethroid (lambdacyhalothrin, deltamethrin, permethrin) ghi nhận 45% điểm kháng, 33% có khả năng kháng và chỉ 22% còn nhạy cảm.
  • Biện pháp sinh học trong kiểm soát véc tơ: Tác giả điểm lại các nghiên cứu sử dụng Bacillus thuringiensis var israelensis (Bti) (Boyce R và cộng sự, 2013); ứng dụng ấu trùng chuồn chuồn ăn bọ gậy tại Thái Lan (Phuanukoonnon) và Myanmar; nghiên cứu nấm ký sinh Ascogregarina spp. trên muỗi Aedes albopictus (Roychoudhury và cộng sự); ứng dụng giáp xác Mesocyclops diệt bọ gậy tại Việt Nam (Vũ Sinh Nam, Trần Đắc Phu) với 9 loài được ghi nhận, làm giảm quần thể muỗi 92 - 100% sau 17 tháng; dự án giải phóng muỗi Aedes aegypti mang vi khuẩn Wolbachia tại đảo Trí Nguyên, Khánh Hòa (2006 - 2015) đạt tỷ lệ nhiễm trong tự nhiên trên 95%.
  • Mô hình cộng đồng tham gia phòng chống bệnh: Các mô hình kiểm soát từ trên xuống (top-down) áp dụng tại Singapore, Thái Lan; can thiệp truyền thông học đường tại Campuchia và Bucaramanga, Colombia; khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) tại Pakistan, Malaysia, Ấn Độ. Tại Việt Nam, các mô hình can thiệp dựa vào CTV được ghi nhận tại Quận 8, TP. Hồ Chí Minh (Đỗ Nguyễn Thùy Nhi, 2009), Bến Tre, Thừa Thiên Huế, Kiên Giang, Hưng Yên và xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (2006 - 2008). Các tác giả ghi nhận CTV giúp nâng cao kiến thức người dân từ 50% lên 90% và thực hành đúng từ 26% lên 53,3%.

Khoảng trống nghiên cứu: Hầu hết các nghiên cứu mô hình trước đây đều vận hành dựa trên nguồn lực tài chính của Dự án Quốc gia để chi trả phụ cấp cho CTV (mức 25.000 đồng/tháng/người). Sau năm 2013, khi dự án quốc gia cắt giảm và chấm dứt nguồn kinh phí này, các địa phương đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực giám sát côn trùng tại chỗ. Chưa có công trình nào đánh giá một cách có hệ thống về hiệu quả, tính bền vững và khả năng triển khai mô hình mạng lưới tình nguyện viên không hưởng phụ cấp định kỳ, kết hợp cùng y tế cơ sở và y tế thôn bản tại một tỉnh miền núi vùng Đông Nam Bộ như Bình Phước.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết dịch tễ học bệnh truyền nhiễm, lý thuyết thay đổi hành vi sức khỏe (KAP) và các nguyên lý giám sát véc tơ sốt xuất huyết dựa vào cộng đồng do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Bộ Y tế Việt Nam ban hành.

Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

Nghiên cứu áp dụng thiết kế hỗn hợp (mixed-methods), kết hợp giữa dịch tễ học mô tả, can thiệp cộng đồng có đối chứng và nghiên cứu định tính:

  1. Nghiên cứu dịch tễ học mô tả (Mục tiêu 1):

    • Hồi cứu số liệu thứ cấp giai đoạn 2008 - 2012 từ sổ sách báo cáo ca bệnh, phiếu điều tra dịch tễ của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh và các trạm y tế.
    • Theo dõi dọc giai đoạn 2013 - 2016 trên phạm vi 10 huyện, thị xã của tỉnh Bình Phước.
    • Thống kê tỷ lệ mắc, tử vong theo tháng, năm, lứa tuổi, giới tính và địa bàn hành chính.
    • Giám sát véc tơ hàng tháng qua các chỉ số côn trùng chuẩn: Chỉ số nhà có bọ gậy (HI), Chỉ số Breteau (BI), Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CI), Chỉ số mật độ muỗi (DI), Chỉ số nhà có muỗi (HI-M).
    • Kỹ thuật xét nghiệm: Kỹ thuật Mac-ELISA phát hiện kháng thể và kỹ thuật phân lập, định type virus Dengue (DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4) từ mẫu huyết thanh bệnh nhân năm 2014.
  2. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng (Mục tiêu 2):

    • Địa bàn: Chọn 4 xã tại huyện Bình Long có các điều kiện tương đồng về dịch tễ, tự nhiên và xã hội. Nhóm can thiệp gồm xã Thanh Phú và xã Phú Thịnh (không có mạng lưới CTV từ trước). Nhóm đối chứng gồm xã An Lộc và xã Hưng Chiến (duy trì mạng lưới 40 CTV có phụ cấp của chương trình mục tiêu).
    • Nội dung can thiệp: Thành lập và đào tạo mạng lưới tình nguyện viên tại 2 xã can thiệp; tập huấn kỹ năng truyền thông, kỹ năng kiểm tra và xử lý bọ gậy tại hộ gia đình; phân công mỗi tình nguyện viên phụ trách địa bàn thôn ấp; tổ chức giao ban định kỳ hàng tháng tại trạm y tế xã; truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình kết hợp phát tờ rơi.
    • Đánh giá định lượng: Điều tra cắt ngang có so sánh trước - sau can thiệp và giữa 2 nhóm xã về kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của đại diện hộ gia đình; đo lường sự biến thiên của các chỉ số véc tơ côn trùng hàng tháng và theo dõi số ca mắc SXHD.
    • Đánh giá định tính: Phỏng vấn sâu cán bộ Trung tâm Y tế huyện Bình Long và cán bộ phụ trách chương trình SXH tại trạm y tế xã; tổ chức thảo luận nhóm với các cộng tác viên xã đối chứng và các giám sát viên, tình nguyện viên xã can thiệp để làm rõ thuận lợi, khó khăn, tính khả thi và đề xuất duy trì mô hình.
+---------------------------------------------------------------------------------------+
|                                    TỔNG THỂ NGHIÊN CỨU                                |
+-------------------------------------------+-------------------------------------------+
| Giai đoạn 1: Mô tả dịch tễ học            | Giai đoạn 2: Can thiệp cộng đồng          |
| - Địa bàn: Toàn bộ 10 huyện/thị xã        | - Địa bàn: 4 xã thuộc huyện Bình Long     |
| - Thời gian: 2008 - 2016                  | - Thời gian: 2013 - 2016                  |
|   + Hồi cứu: 2008 - 2012                  |   + Can thiệp: 2013 - 2014                |
|   + Theo dõi dọc: 2013 - 2016             |   + Đánh giá bền vững: 2015 - 2016        |
| - Dữ liệu: Ca mắc/chết, huyết thanh học,  | - Nhóm can thiệp: Thanh Phú, Phú Thịnh    |
|   phân lập virus, chỉ số véc tơ hàng tháng| - Nhóm đối chứng: An Lộc, Hưng Chiến      |
+-------------------------------------------+-------------------------------------------+

Tiêu chuẩn chọn mẫu và đạo đức nghiên cứu

  • Tiêu chuẩn chọn hộ gia đình: Người đại diện hộ gia đình ở lứa tuổi trưởng thành, trực tiếp làm công tác vệ sinh nhà cửa, cư trú thường xuyên tại địa bàn và đồng ý tham gia.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Người mất sức lao động, mắc bệnh tâm thần, sa sút trí tuệ, câm điếc không thể trả lời phỏng vấn; nhà đang xây dựng, sửa chữa hoặc vắng mặt trên một tuần tính đến ngày điều tra.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y Dược Thái Bình thông qua; thông tin đối tượng được giữ bí mật; các hộ gia đình phát hiện có bọ gậy đều được hướng dẫn biện pháp xử lý kịp thời.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Trình bày bối cảnh bệnh SXHD gia tăng trên toàn cầu và tại Việt Nam. Phân tích nguyên nhân việc phun hóa chất diệt muỗi không mang lại hiệu quả bền vững do hiện tượng kháng thuốc và chỉ tác động đến muỗi trưởng thành. Nêu bật thách thức khi Dự án Quốc gia phòng chống SXHD dừng cấp kinh phí duy trì mạng lưới cộng tác viên sau năm 2013, dẫn đến nhu cầu cấp thiết phải xây dựng mô hình tình nguyện viên tại cộng đồng nhằm chủ động giám sát véc tơ truyền bệnh tại tỉnh Bình Phước.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bệnh sốt xuất huyết Dengue:

  • Tác nhân gây bệnh: Virus Dengue thuộc chi Flavivirus, họ Flaviviridae, gồm 4 typ huyết thanh (DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4). Cơ chế sinh bệnh và nguy cơ sốc Dengue khi tái nhiễm typ khác.
  • Đặc điểm sinh học của véc tơ Aedes aegypti: Tập tính sinh hoạt, ưa đốt ban ngày (sáng sớm và chiều tối), bay xa khoảng 400m, nơi trú đậu tối và mát dưới 2m, nơi đẻ trứng trong dụng cụ chứa nước sạch; vòng đời phát triển qua các giai đoạn trứng, bọ gậy, cung quăng và muỗi trưởng thành.
  • Tình hình dịch tễ thế giới và phân vùng dịch tễ tại Việt Nam: Phân tích 3 vùng dịch tễ tại Việt Nam, trong đó miền Nam là vùng lưu hành quanh năm và chiếm 84,4% tổng số ca mắc của cả nước.
  • Các biện pháp kiểm soát véc tơ: Phân tích ưu và nhược điểm của biện pháp hóa học (phun ULV, tẩm màn) và các biện pháp sinh học (Bacillus thuringiensis israelensis, ấu trùng chuồn chuồn, Mesocyclops, muỗi mang Wolbachia).
  • Kinh nghiệm xây dựng mô hình can thiệp cộng đồng trong nước và quốc tế, vai trò của truyền thông thay đổi hành vi và các bài học từ mạng lưới CTV phòng chống sốt xuất huyết tại Việt Nam giai đoạn 1999 - 2013.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đặc điểm địa bàn nghiên cứu:

  • Tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6.857,35 km², dân số phân bố trên 10 huyện thị, hơn 50% diện tích là đất lâm nghiệp, có đường biên giới giáp Campuchia dài 240 km. Khí hậu nhiệt đới cận xích đạo với mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa bình quân trên 2.000 mm, độ ẩm từ 80,8 - 81,4%, hệ thống sông Sài Gòn và sông Bé chảy qua tạo điều kiện thuận lợi cho véc tơ phát triển.
  • Huyện Bình Long có diện tích 761,25 km², dân số 147.000 người, đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là người S'Tiêng) chiếm gần 30%. Có 15 xã, thị trấn với 155 thôn ấp. Toàn huyện có 1 công ty cao su với 7 nông trường.
  • Thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả hồi cứu kết hợp theo dõi dọc; thiết kế can thiệp cộng đồng có đối chứng; phương pháp chọn mẫu hộ gia đình; các kỹ thuật điều tra côn trùng và xét nghiệm huyết thanh học; quy trình thu thập số liệu định tính qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm; phương pháp kiểm soát sai số và đạo đức nghiên cứu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Luận án trình bày kết quả nghiên cứu qua các bảng số liệu, biểu đồ và trích dẫn định tính:

1. Đặc điểm dịch tễ học SXHD tại Bình Phước (2008 - 2016)

  • Tình hình mắc và tử vong: Số ca mắc duy trì ở mức cao và biến động theo chu kỳ. Phân bố theo tháng cho thấy bệnh xuất hiện quanh năm nhưng tập trung cao điểm vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, tương ứng với sự gia tăng lượng mưa và độ ẩm.
  • Đặc điểm đối tượng mắc bệnh: Phân tích ca mắc theo nhóm tuổi, cơ cấu tỷ lệ mắc giữa trẻ em dưới 15 tuổi và nhóm trên 15 tuổi qua các năm nghiên cứu.
  • Biến động chỉ số véc tơ côn trùng: Các chỉ số bọ gậy và muỗi trưởng thành biến thiên theo mùa. Chỉ số nhà có bọ gậy (HI), chỉ số Breteau (BI), chỉ số mật độ muỗi (DI) và chỉ số nhà có muỗi (HI-M) của loài Ae. aegypti đều tăng cao trong các tháng mùa mưa.
  • Kết quả virus học năm 2014: Tỷ lệ phân lập virus và xác định kháng thể qua xét nghiệm Mac-ELISA trên các mẫu bệnh phẩm; cơ cấu phân bố các typ virus Dengue lưu hành trên địa bàn, tỷ lệ nhiễm theo nhóm tuổi và giới tính.

2. Hiệu quả của mô hình tình nguyện viên giám sát véc tơ tại cộng đồng (2013 - 2016)

  • Công tác đào tạo và vận hành mạng lưới: Kết quả tổ chức bộ máy, tỷ lệ tình nguyện viên tham gia các lớp tập huấn kỹ năng truyền thông và giám sát bọ gậy; mức độ huy động cộng đồng tham gia các chiến dịch diệt lăng quăng tại 2 xã can thiệp.
  • Kết quả nghiên cứu định tính: Phản ánh qua 5 hộp nội dung tổng hợp ý kiến cán bộ y tế và tình nguyện viên:
    • Hộp 3.1: Đánh giá của cán bộ y tế về sự cần thiết thực hiện hoạt động giám sát côn trùng tại tuyến y tế cơ sở.
    • Hộp 3.2: Đánh giá của cán bộ y tế về các khó khăn khi thực hiện hoạt động giám sát côn trùng tại tuyến y tế cơ sở (địa bàn rộng, thiếu kinh phí duy trì, người dân bận làm nương rẫy).
    • Hộp 3.3: Đánh giá của cán bộ y tế về các lợi ích khi thực hiện mô hình giám sát côn trùng tại cơ sở.
    • Hộp 3.4: Đánh giá hoạt động của tình nguyện viên trong việc phối hợp với trạm y tế và thăm hộ gia đình.
    • Hộp 3.5: Các đề xuất của cán bộ y tế nhằm duy trì tính bền vững của mô hình giám sát.
  • Hiệu quả cải thiện kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của người dân:
    • Nhận thức về nguyên nhân gây bệnh và đường lây truyền qua muỗi đốt tăng lên rõ rệt ở nhóm xã can thiệp so với trước can thiệp và so với nhóm xã đối chứng.
    • Cải thiện kiến thức nhận biết dấu hiệu mắc bệnh SXHD, cách xử trí ban đầu và cách chăm sóc bệnh nhân sốt tại nhà.
    • Chuyển biến về thái độ: Tỷ lệ người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc diệt bọ gậy so với việc chỉ trông chờ vào phun hóa chất; tỷ lệ ủng hộ các biện pháp bảo vệ nguồn nước sinh hoạt.
    • Cải thiện thực hành: Tăng tỷ lệ hộ gia đình thường xuyên kiểm tra dụng cụ chứa nước, súc rửa lu khạp, lật úp vật phế thải và áp dụng các biện pháp diệt lăng quăng định kỳ.
  • Hiệu quả cải thiện các chỉ số giám sát côn trùng và ca bệnh:
    • So sánh giữa nhóm xã can thiệp và nhóm đối chứng ghi nhận sự suy giảm có ý nghĩa của các chỉ số HI, BI, CI, DI và HI-M tại 2 xã can thiệp sau thời gian triển khai.
    • Tỷ lệ mắc bệnh SXHD tại nhóm xã can thiệp được khống chế, số ca mắc thấp hơn và không xảy ra các ổ dịch lớn lan rộng so với giai đoạn trước can thiệp.
Nhóm chỉ số đánh giá Các chỉ tiêu cụ thể trong luận án Kết quả ghi nhận tại địa bàn can thiệp
Dịch tễ học bệnh nhân - Số ca mắc và tỷ lệ mắc/100.000 dân
- Cơ cấu nhóm tuổi và giới tính
- Phân bố ca bệnh theo tháng
- Tỷ lệ mắc có xu hướng giảm sau can thiệp
- Giảm nguy cơ bùng phát dịch cục bộ
Véc tơ bọ gậy - Chỉ số nhà có bọ gậy (HI-BG)
- Chỉ số Breteau (BI)
- Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CI)
- Giảm mạnh tại các xã có tình nguyện viên
- Duy trì BI ở ngưỡng an toàn trong mùa mưa
Véc tơ muỗi trưởng thành - Chỉ số mật độ muỗi (DI)
- Chỉ số nhà có muỗi Ae. aegypti (HI-M)
- Mật độ muỗi thu thập giảm rõ rệt
- Tỷ lệ nhà có muỗi trưởng thành giảm
Hành vi cộng đồng (KAP) - Hiểu biết nguyên nhân, đường lây
- Nhận biết triệu chứng, xử trí sốt
- Thực hành súc rửa dụng cụ, lật úp phế thải
- Tỷ lệ kiến thức đúng đạt mức cao
- Tăng tỷ lệ tự kiểm tra bọ gậy hàng tuần
Hệ thống y tế cơ sở - Đào tạo nhân lực tình nguyện viên
- Hoạt động phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
- Tăng cường năng lực cán bộ trạm y tế
- Thiết lập mạng lưới giám sát không phụ cấp

Chương 4: Bàn luận

  • Bàn luận về tính quy luật của dịch tễ học SXHD tại Bình Phước: Sự tương đồng về mùa dịch, phân bố ca bệnh và các type virus lưu hành so với khu vực Đông Nam Bộ và cả nước; ảnh hưởng của yếu tố địa lý, thời tiết mùa mưa và tập quán trữ nước sinh hoạt của người dân đối với sự tồn tại của vector.
  • Bàn luận về hiệu quả của mô hình can thiệp: Phân tích tính khả thi của việc huy động tình nguyện viên tại cộng đồng thay thế cho mạng lưới CTV hưởng phụ cấp. Đánh giá sự phối hợp giữa trạm y tế xã, y tế thôn bản và tình nguyện viên trong việc giám sát véc tơ.
  • Bàn luận về tính bền vững: Những rào cản về kinh phí, áp lực thời gian của tình nguyện viên và các giải pháp duy trì hoạt động trong giai đoạn 2015 - 2016 khi kết thúc can thiệp chủ động.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Cung cấp bộ dữ liệu có hệ thống và toàn diện về đặc điểm dịch tễ học, phân bố không gian, thời gian, cơ cấu lứa tuổi và biến động các chỉ số véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 9 năm (2008 - 2016).
  2. Bổ sung dữ liệu virus học thông qua xét nghiệm Mac-ELISA và phân lập typ virus Dengue lưu hành thực tế tại tỉnh miền núi Đông Nam Bộ.
  3. Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn khẳng định tính khả thi của việc áp dụng mô hình tình nguyện viên cộng đồng kết hợp y tế cơ sở trong giám sát véc tơ, chứng minh mô hình này có khả năng duy trì hiệu quả kiểm soát côn trùng khi không còn nguồn phụ cấp thường xuyên từ Dự án Quốc gia.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Xây dựng và chuẩn hóa quy trình tuyển chọn, đào tạo và vận hành mạng lưới tình nguyện viên giám sát véc tơ SXHD tại tuyến xã, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương.
  2. Nâng cao rõ rệt kiến thức, thái độ và thực hành đúng của người dân tại các xã can thiệp trong việc chủ động kiểm soát nơi sinh sản của muỗi và xử trí đúng khi mắc bệnh.
  3. Giảm thấp các chỉ số côn trùng (HI, BI, CI, DI, HI-M) tại các xã can thiệp, góp phần hạn chế sự lan rộng của các ổ dịch và giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết tại cộng đồng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Duy trì và nhân rộng mô hình tình nguyện viên giám sát véc tơ tại các xã có nguy cơ cao trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
  • Lồng ghép nhiệm vụ giám sát bọ gậy và tuyên truyền phòng chống SXHD vào hoạt động thường xuyên của đội ngũ y tế thôn bản và các đoàn thể địa phương.
  • Định kỳ tổ chức các đợt tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ y tế cơ sở về kỹ thuật giám sát côn trùng và kỹ năng truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình.
  • Tăng cường công tác truyền thông trước và trong mùa mưa, tập trung vào việc hướng dẫn người dân xử lý các dụng cụ chứa nước sinh hoạt và thu gom phế thải xung quanh nhà.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi nghiên cứu can thiệp mới chỉ được thực hiện trên quy mô 4 xã thuộc một huyện (huyện Bình Long), chưa bao phủ hết các vùng sinh thái đặc trưng khác của tỉnh Bình Phước như vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới giáp Campuchia.
  • Việc duy trì hoạt động của mạng lưới tình nguyện viên không có chế độ phụ cấp định kỳ gặp khó khăn về mặt duy trì động lực lâu dài khi đời sống kinh tế của người dân còn phụ thuộc nhiều vào mùa vụ nông nghiệp, nương rẫy.
  • Dữ liệu định type virus Dengue và xét nghiệm huyết thanh học chỉ tập trung thực hiện trong năm 2014, chưa tiến hành xét nghiệm định kỳ liên tục trong toàn bộ các năm của giai đoạn nghiên cứu 2008 - 2016.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi và đánh giá tính bền vững dài hạn của mô hình tình nguyện viên tại các xã đã can thiệp sau 5 - 10 năm.
  • Mở rộng thử nghiệm mô hình tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn, đặc biệt là các xã biên giới có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao.
  • Triển khai các nghiên cứu dịch tễ học phân tử chuyên sâu, theo dõi liên tục sự chuyển dịch type virus Dengue và mức độ nhạy cảm/kháng hóa chất diệt côn trùng định kỳ của muỗi Aedes aegypti trên địa bàn tỉnh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn phục vụ cho các nhóm đối tượng:

  • Cán bộ y tế dự phòng và y tế công cộng: Cung cấp phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng kết hợp định tính và định lượng, biểu mẫu giám sát véc tơ và bài học kinh nghiệm trong quản lý dịch bệnh truyền nhiễm tại tuyến y tế cơ sở.
  • Nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách địa phương: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch phòng chống SXHD trong điều kiện ngân sách hạn chế, định hướng chính sách huy động nguồn lực xã hội và tình nguyện viên thay thế mô hình CTV hưởng lương/phụ cấp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Dịch tễ học, Y tế công cộng: Tài liệu tham khảo về phương pháp phân tích số liệu hồi cứu dịch tễ học, kỹ thuật điều tra côn trùng học (HI, BI, CI, DI) và phương pháp đánh giá chương trình y tế can thiệp dựa vào cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án đề xuất mô hình tình nguyện viên thay thế mô hình cộng tác viên?

Mô hình cộng tác viên (CTV) trước đây của Dự án Quốc gia phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn kinh phí phụ cấp từ trung ương (25.000 đồng/tháng/người) và chỉ phủ được khoảng 10% số xã trọng điểm. Sau năm 2013, nguồn kinh phí này bị cắt bỏ hoàn toàn khiến mạng lưới CTV tan rã. Việc xây dựng mô hình tình nguyện viên tại chỗ kết hợp với cán bộ y tế cơ sở là giải pháp nhằm chủ động nguồn lực, duy trì hoạt động giám sát véc tơ thường xuyên mà không bị phụ thuộc vào nguồn tài chính bên ngoài.

2. Nghiên cứu can thiệp được triển khai tại những địa bàn cụ thể nào?

Nghiên cứu can thiệp được triển khai tại 4 xã thuộc huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước. Trong đó, 2 xã can thiệp là xã Thanh Phú và xã Phú Thịnh (địa bàn trước đó không có mạng lưới CTV của dự án); 2 xã đối chứng là xã An Lộc và xã Hưng Chiến (địa bàn có mạng lưới 40 CTV được duy trì từ chương trình mục tiêu).

3. Những chỉ số côn trùng học chính nào được sử dụng để đánh giá hiệu quả can thiệp?

Luận án sử dụng 5 chỉ số côn trùng học tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế và WHO gồm:

  • Chỉ số nhà có bọ gậy (House Index - HI)
  • Chỉ số Breteau (Breteau Index - BI: số dụng cụ chứa nước có bọ gậy trong 100 nhà điều tra)
  • Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (Container Index - CI)
  • Chỉ số mật độ muỗi (Density Index - DI: số muỗi thu được trên số nhà điều tra)
  • Chỉ số nhà có muỗi cái Aedes aegypti trưởng thành (HI-M)

4. Tình trạng muỗi Aedes kháng hóa chất được văn bản ghi nhận như thế nào?

Theo số liệu tổng quan của luận án từ các nghiên cứu tại 10 tỉnh miền Nam giai đoạn 2007 - 2009, muỗi Aedes aegypti đã kháng hoặc có khả năng kháng DDT tại 100% điểm điều tra; với malathion có 15% điểm kháng và 55% có khả năng kháng; với nhóm Pyrethroid (permethrin, deltamethrin, lambdacyhalothrin) có 45% điểm ghi nhận muỗi kháng và 33% có khả năng kháng, chỉ còn 22% điểm nghiên cứu giữ được độ nhạy cảm.

5. Phương pháp nghiên cứu định tính trong luận án được thực hiện bằng cách nào?

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua hai kỹ thuật: phỏng vấn sâu (IDI) đối với cán bộ Trung tâm Y tế huyện Bình Long và cán bộ chuyên trách SXHD tại các trạm y tế xã; thảo luận nhóm (FGD) đối với các cộng tác viên tại 2 xã đối chứng và các tình nguyện viên, giám sát viên tại 2 xã can thiệp. Nội dung tập trung đánh giá sự cần thiết, thuận lợi, khó khăn và các đề xuất duy trì hoạt động giám sát côn trùng tại tuyến y tế cơ sở.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Hoàng Xuân đã mô tả chi tiết các đặc điểm dịch tễ học của bệnh sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 2008 - 2016, xác định quy luật lưu hành theo mùa và biến động của véc tơ Aedes aegypti. Nghiên cứu đã thiết kế và thử nghiệm thành công mô hình tình nguyện viên giám sát véc tơ tại cộng đồng huyện Bình Long giai đoạn 2013 - 2016, chứng minh hiệu quả cải thiện rõ rệt kiến thức, thái độ, thực hành của người dân và hạ thấp các chỉ số côn trùng truyền bệnh. Công trình mang lại giải pháp thực tiễn có giá trị ứng dụng cao cho hệ thống y tế cơ sở trong bối cảnh các nguồn lực kinh phí hỗ trợ chương trình mục tiêu quốc gia bị cắt giảm.