Luận án tiến sĩ dịch tễ học rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ 18 30 tháng và rào cản tiếp cận dịch vụ chẩn đoán can thiệp rối loạn phổ tự kỷ tại việt nam 2017 2019

Luận án tiến sĩ phân tích dịch tễ học rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ 18-30 tháng và rào cản tiếp cận dịch vụ chẩn đoán tại Việt Nam giai đoạn 2017-2019.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

240
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1.1. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương về RLPTK

1.1.1. Thuật ngữ và khái niệm

1.1.2. Những đặc điểm đặc trưng của RLPTK

1.1.3. Tổng quan một số công cụ sàng lọc và chẩn đoán RLPTK ở trẻ em

1.1.4. Tình hình mắc RLPTK ở trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.5. Tổng quan về rào cản trong cung cấp và tiếp cận dịch vụ chẩn đoán, can thiệp RLPTK

1.2. Một số rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán, can thiệp RLPTK của các gia đình có trẻ tự kỷ

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Phương pháp chọn mẫu

2.5. Phương pháp thu thập số liệu

2.6. Công cụ thu thập số liệu

2.7. Tổ chức thu thập số liệu

2.8. Biến số và các nội dung chính nghiên cứu

2.9. Phương pháp phân tích số liệu

2.10. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đánh giá kết quả sàng lọc và chẩn đoán RLPTK ở trẻ em 18-30 tháng bằng công cụ M-CHAT và DSM-IV

3.2.1. Kết quả sàng lọc RLPTK trẻ 18 – 30 tháng tuổi bằng bảng kiểm M-CHAT

3.2.2. Kết quả chẩn đoán RLPTK ở trẻ 18 – 30 tháng tuổi bằng DSM-IV

3.2.3. Đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của bảng kiểm M-CHAT

3.3. Phân tích một số yếu tố liên quan (cá nhân, gia đình, yếu tố trước, trong và sau sinh) với RLPTK ở trẻ em 18-30 tháng tuổi

3.3.1. Mối liên quan giữa một số đặc điểm cá nhân và gia đình với RLPTK ở trẻ 18 – 30 tháng tuổi

3.3.2. Mối liên quan giữa một số yếu tố trước sinh với RLPTK ở trẻ 18 – 30 tháng tuổi

3.3.3. Mối liên quan giữa một số yếu tố trong sinh với RLPTK ở trẻ 18 – 30 tháng tuổi

3.3.4. Mối liên quan giữa một số yếu tố sau sinh với RLPTK ở trẻ 18 – 30 tháng tuổi

3.3.5. Phân tích hồi quy đa biến logistics giữa yếu tố cá nhân, gia đình, trước, trong và sau sinh với RLPTK ở trẻ em

3.4. Một số rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán, can thiệp của các gia đình có trẻ RLPTK

3.4.1. Mô tả đặc điểm đối tượng điều tra định tính

3.4.2. Rào cản tiếp cận dịch vụ chẩn đoán, can thiệp RLPTK từ gia đình trẻ

3.4.3. Rào cản tiếp cận dịch vụ chẩn đoán, can thiệp RLPTK từ cộng đồng và xã hội

3.4.4. Rào cản từ dịch vụ chẩn đoán, can thiệp cho trẻ RLPTK

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đánh giá kết quả sàng lọc và chẩn đoán RLPTK ở trẻ 18 – 30 tháng tuổi. Tỷ lệ hiện mắc RLPTK tại Việt Nam

4.2. Độ nhậy và độ đặc hiệu của bảng kiểm sàng lọc RLPTK ở trẻ em M-CHAT

4.3. Một số yếu tố liên quan đến RLPTK ở trẻ 18 – 30 tháng tuổi

4.3.1. Mối liên quan giữa RLPTK với một số yếu tố cá nhân trẻ

4.3.2. Mối liên quan giữa RLPTK với một số yếu tố gia đình

4.3.3. Mối liên quan giữa RLPTK với một số yếu tố trước sinh

4.3.4. Mối liên quan giữa RLPTK với một số yếu tố trong sinh

4.3.5. Mối liên quan giữa RLPTK với một số yếu tố sau sinh

4.4. Một số rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán, can thiệp RLPTK của các gia đình có trẻ tự kỷ

4.4.1. Một số rào cản từ cha mẹ trẻ RLPTK, người thân khác trong gia đình và cộng đồng

4.4.2. Một số rào cản từ dịch vụ chẩn đoán, can thiệp RLPTK

4.5. Những hạn chế và giá trị của nghiên cứu

KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Bảng biến số nghiên cứu định lượng

Phụ lục 2: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu

Phụ lục 3: Phiếu điều tra dịch tễ học về RLPTK ở trẻ em

Phụ lục 4: Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tự kỷ (theo DSM – IV)

Phụ lục 5: Phiếu đánh giá mức độ tự kỷ ở trẻ em (CARS)

Phụ lục 6: Hướng dẫn PVS chuyên gia tham gia chẩn đoán, can thiệp RLPTK

Phụ lục 7: Hướng dẫn PVS cha/mẹ có con RLPTK

Phụ lục 8: Hướng dẫn PVS ông/bà có cháu RLPTK

Phụ lục 9: Đặc điểm của NCS trẻ RLPTK tham gia điều tra định tính

Phụ lục 10: Đặc điểm của người cung cấp dịch vụ tham gia điều tra định tính

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về dịch tễ học rối loạn phổ tự kỷ

Nghiên cứu dịch tễ học về rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) ở trẻ em từ 18-30 tháng tuổi tại Việt Nam giai đoạn 2017-2019 đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc RLPTK đang gia tăng. Theo số liệu, tỷ lệ mắc RLPTK ở trẻ em tại Việt Nam dao động từ 4-5‰. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình can thiệp sớm và hiệu quả. Việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời có thể cải thiện đáng kể khả năng phục hồi của trẻ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mặc dù có sự gia tăng nhận thức về RLPTK, nhưng nhiều trẻ vẫn bị chẩn đoán muộn do thiếu hụt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Những bất thường trong phát triển của trẻ RLPTK không chỉ ảnh hưởng đến bản thân trẻ mà còn tác động lớn đến gia đình và xã hội.

1.1. Đặc điểm của trẻ em mắc rối loạn phổ tự kỷ

Trẻ em mắc rối loạn phổ tự kỷ thường có những đặc điểm nổi bật như thiếu hụt trong giao tiếp xã hội và hành vi lặp đi lặp lại. Những trẻ này thường gặp khó khăn trong việc tương tác với người khác, thể hiện qua việc không duy trì giao tiếp mắt hoặc không phản ứng với những âm thanh xung quanh. Các nghiên cứu cho thấy rằng, trẻ RLPTK có thể phát triển bình thường cho đến 30 tháng tuổi, nhưng sau đó có sự chậm phát triển rõ rệt. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sàng lọc và phát hiện sớm để có thể can thiệp kịp thời.

II. Phân tích các yếu tố liên quan đến rối loạn phổ tự kỷ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ. Các yếu tố này bao gồm yếu tố cá nhân, gia đình, và các yếu tố trước, trong và sau sinh. Đặc biệt, yếu tố gia đình có vai trò quan trọng trong việc phát hiện và can thiệp sớm. Cha mẹ có hiểu biết về RLPTK sẽ có khả năng nhận diện sớm các triệu chứng và đưa trẻ đến các cơ sở y tế. Tuy nhiên, nhiều gia đình vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chẩn đoán và can thiệp do thiếu thông tin và sự kỳ thị xã hội.

2.1. Yếu tố gia đình và xã hội

Yếu tố gia đình có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ. Nghiên cứu cho thấy rằng, những gia đình có kiến thức hạn chế về RLPTK thường gặp khó khăn trong việc đưa trẻ đến các dịch vụ y tế. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử trong xã hội cũng là một rào cản lớn, khiến cho nhiều gia đình không dám công khai tình trạng của trẻ. Điều này dẫn đến việc trẻ không được can thiệp kịp thời, ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của trẻ.

III. Rào cản trong tiếp cận dịch vụ chẩn đoán và can thiệp

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ chẩn đoán và can thiệp cho trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ. Những rào cản này bao gồm sự thiếu hụt về dịch vụ, nhận thức sai lầm của xã hội, và sự kỳ thị đối với trẻ RLPTK. Nhiều gia đình không biết đến các dịch vụ có sẵn hoặc không tin tưởng vào hiệu quả của các phương pháp can thiệp. Điều này dẫn đến việc trẻ không được chẩn đoán và can thiệp kịp thời, ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và phát triển của trẻ.

3.1. Thiếu hụt dịch vụ và thông tin

Thiếu hụt dịch vụ chẩn đoán và can thiệp là một trong những rào cản lớn nhất đối với các gia đình có trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ. Nhiều gia đình không biết đến các dịch vụ có sẵn hoặc không có khả năng tài chính để tiếp cận. Hơn nữa, sự thiếu hụt thông tin về RLPTK trong cộng đồng cũng góp phần làm gia tăng sự kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ mắc bệnh. Việc nâng cao nhận thức và cung cấp thông tin đầy đủ về RLPTK là rất cần thiết để giúp các gia đình có thể tiếp cận dịch vụ một cách hiệu quả.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một trong những rối loạn phát triển hay gặp ở trẻ em. Trẻ RLPTK với ba điểm đặc trưng là khiếm khuyết tương tác xã hội, khó khăn trong giao tiếp, có những hành vi hạn hẹp định hình và lặp lại. RLPTK không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mà còn tác động rất lớn đến gia đình và xã hội [18]. Những bất thường của RLPTK gây ảnh hưởng kéo dài suốt đời đến các chức năng cá nhân ở nhiều lĩnh vực như học tập, các mối quan hệ thích ứng xã hội và khả năng độc lập.

Mức độ ảnh hưởng có thể từ nhẹ đến nặng tùy theo mức độ của RLPTK và các rối loạn đi kèm. Tuy nhiên, sự thiếu hụt rõ rệt các chức năng khiến cho người RLPTK trở thành người khuyết tật trong cộng đồng, suy giảm trầm trọng chất lượng sống, đồng thời là gánh nặng của gia đình và xã hội, suy giảm nguồn nhân lực lao động và kéo theo chi phí kinh tế lâu dài. Trong những thập kỷ gần đây, do thay đổi về nhận thức và tiêu chuẩn chẩn đoán kết hợp các yếu tố sinh học và môi trường, tỷ lệ mắc RLPTK gia tăng rất nhanh. Lotter (1966) đã tiến hành nghiên cứu dịch tễ học tự kỷ và đưa ra tỉ lệ tự kỷ ở trẻ em từ 8 – 10 tuổi tại Anh là 4,5/10.

Theo số liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật tại Mỹ, tỷ lệ RLPTK ở trẻ em 8 tuổi năm 2002 là 1/150 trẻ (6,6‰), năm 2012 là 1/68 (14,6‰) và năm 2014 là 1/59 (16,8‰) [73]. Ở Việt nam, RLPTK mới được quan tâm từ những năm 1990. Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy số lượng trẻ được chẩn đoán và điều trị RLPTK ngày càng nhiều, số lượt trẻ RLPTK đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với năm 2000; số trẻ lượt đến điều trị RLPTK năm 2007 tăng gấp 33 lần so với năm 2000 [2]. Trong 5 năm (giai đoạn 2011-2015 có 15.524 lượt trẻ đến khám RLPTK, chiếm 24,4% số lượt trẻ khám chuyên khoa tâm thần tại Bệnh viện Nhi Trung ương [12].

Cho đến nay Việt Nam chưa có số liệu về tỉ lệ trẻ RLPTK trên phạm vi toàn quốc. Nghiên cứu tác giả Nguyễn Thị Hương Giang tại tỉnh Thái Bình [1], Phạm Trung Kiên tại tỉnh Thái Nguyên [8] và Nguyễn Thị Hoàng Yến tại một số tỉnh phía Bắc [19] cho thấy tỉ lệ RLPTK ở trẻ em dao động trong khoảng 4-5‰. luan an 2 Do nguyên nhân của RLPTK hiện nay vẫn chưa được xác định rõ nên việc can thiệp, điều trị còn gặp rất nhiều khó khăn và kết quả còn hạn chế. Việc phát hiện sớm và nếu được can thiệp kịp thời RLPTK có ý nghĩa rất quan trọng đến khả năng phục hồi của trẻ [113].

Tại các nước phát triển, trẻ RLPTK được chẩn đoán rất sớm ngay trong những tháng đầu đời nhờ việc sàng lọc và phát hiện sớm RLPTK được lồng ghép trong hệ thống chăm sóc sức khỏe thường quy [356]. Ở Việt Nam, trẻ em được quan tâm đánh giá về phát triển thể chất (như cân nặng, chiều cao) hơn là sự phát triển tâm thần vận động, nên trẻ thường được sàng lọc, chẩn đoán RLPTK muộn. Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỉ lệ trẻ RLPTK đến khám và được chẩn đoán muộn là 43,8% [2]. Bên cạnh đó, gia đình có con RLPTK ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán, can thiệp sớm cho trẻ.

Hiểu biết về RLPTK của cha mẹ trẻ và cộng đồng vẫn còn hạn chế, sự thiếu hụt về dịch vụ chẩn đoán, can thiệp RLPTK, nhận thức sai lầm của xã hội và sự kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ RLPTK có thể là những rào cản trong việc phát hiện và can thiệp sớm. Nghiên cứu dịch tễ học về RLPTK và những khó khăn trong tiếp cận dịch vụ chẩn đoán, can thiệp RLPTK trên phạm vi toàn quốc là vô cùng cần thiết để đưa ra những số liệu đặc trưng của từng vùng miền, làm cơ sở hoạch định các chương trình quốc gia về chẩn đoán, can thiệp tự kỷ. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Dịch tễ học rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ 18 – 30 tháng và rào cản tiếp cận dịch vụ chẩn đoán, can thiệp rối loạn phổ tự kỷ tại Việt Nam, 2017-2019”. luan an 3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1.

Tỷ lệ hiện mắc rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em 18-30 tháng tuổi tại Việt Nam là bao nhiêu? 2. Những yếu tố nào có mối liên quan đến rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em 18-30 tháng tại Việt Nam? 3. Vì sao một số gia đình không đưa trẻ đến các cơ sở can thiệp ngay cả khi trẻ đã được chẩn đoán là rối loạn phổ tự kỷ? 4. Cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ đã và đang đối mặt với những khó khăn như thế nào khi tiếp cận với các dịch vụ chẩn đoán, can thiệp tự kỷ trong bối cảnh văn hóa –xã hội ở Việt Nam? luan an 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Đánh giá kết quả sàng lọc rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em 18-30 tháng bằng công cụ M-CHAT và chẩn đoán bằng DSM-IV tại Việt Nam giai đoạn 2017-2018. Phân tích một số yếu tố liên quan (cá nhân, gia đình, yếu tố trước, trong và sau sinh) với rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em 18-30 tháng tuổi tại Việt Nam giai đoạn 2017-2018. Phân tích một số rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán, can thiệp của các gia đình có trẻ rối loạn phổ tự kỷ tại Việt Nam giai đoạn 2018-2019. luan an 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Đại cƣơng về RLPTK 1. Thuật ngữ và khái niệm Thuật ngữ “Tự kỷ‖ (tên tiếng Anh là Autism) xuất phát từ chữ Hy lạp là autos, nghĩa là tự thân do bác sĩ tâm thần học Eugen Bleuler (1911) sử dụng lần đầu tiên để chỉ một triệu chứng cơ bản của bệnh tâm thần phân liệt hoặc trầm cảm [54]. Năm 1943, bác sĩ Leo Kanner sử dụng thuật ngữ này để mô tả nhóm bệnh nhân có 3 đặc tính quan trọng như một mình; mong muốn sự giống nhau; có các vấn đề về ngôn ngữ như chậm phát triển ngôn ngữ, nhại lời… [79]. Cùng với quá trình nghiên cứu về ―tự kỷ‖, các nhà khoa học nhận thấy có sự phát triển khá đa dạng các biểu hiện ―tự kỷ‖ và điều đó hướng họ đến một thuật ngữ có phạm vi mô tả lớn hơn, có thể bao gồm nhiều dạng ―tự kỷ‖.

Thuật ngữ Rối loạn phổ tự kỷ (tên tiếng Anh Autism Spectrum Disorders - ASDs) ra đời vì lý do trên từ cuối năm 70 của thế kỷ XX, người có quan điểm nổi bật là Lorna Wing. Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về tự kỷ, dưới đây là một số khái niệm phổ biến. Theo từ điển bách khoa Columbia (năm 1996): “Tự kỷ là một khuyết tật phát triển có nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh làm ảnh hưởng đến chức năng cơ bản của não bộ. Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bình thường về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tương tác xã hội và suy luận.

Nam nhiều gấp 4 lần nữ. Trẻ có thể phát triển bình thường cho đến tận 30 tháng tuổi”. Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ, các chuyên gia cho rằng nên xếp tự kỷ vào nhóm các rối loạn phát triển diện rộng và đã thống nhất đưa ra định nghĩa về tự kỷ như sau: “Tự kỷ là một dạng rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội”. Khái niệm tương đối đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất là khái niệm của Liên hiệp quốc đưa ra năm 2008.

―Tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại luan an 6 suốt cuộc đời, thường xuất hiện trong ba năm đầu đời. Tự kỷ là do rối loạn thần kinh gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ. Tự kỷ có thể xảy ra ở bất cứ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội. Đặc điểm của tự kỷ là những khiếm khuyết về tương tác xã hội; giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; có hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại‖.

Các khái niệm trên tuy có khác nhau, nhưng đều thống nhất ở các nội dung cốt lõi của khái niệm tự kỷ: tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển, được đặc trưng bởi ba khiếm khuyết chính về giao tiếp, tương tác xã hội và có hành vi, sở thích mang tính hạn hẹp lặp đi lặp lại. Tự kỷ được xem là nguyên mẫu của ―Rối loạn phổ tự kỷ‖, từ khái niệm tự kỷ có thể hiểu khái niệm rối loạn phổ tự kỷ như sau: Rối loạn phổ tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển được đặc trưng bởi ba khiếm khuyết chính về giao tiếp, tương tác xã hội và có hành vi, sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại. Rối loạn phổ tự kỷ bao gồm các rối loạn có chung đặc điểm song khác nhau về phạm vi, mức độ nặng, khởi phát và tiến triển của triệu chứng theo thời gian. ―Rối loạn phổ tự kỷ‖ được xem là tương đồng với ―rối loạn phát triển diện rộng‖ với 5 dạng rối loạn chính theo DSM-IV.

Tại phiên bản DSM-5, ―rối loạn phổ tự kỷ‖ được sử dụng thay tên gọi ―rối loạn phát triển diện rộng‖, cũng không còn xu hướng phân chia các dạng ―rối loạn phổ tự kỷ‖ mà thay vào đó là tên gọi chung và tiêu chí chẩn đoán chung cho ―rối loạn phổ tự kỷ‖. Trong phạm vi nghiên cứu luận án này, chúng tôi tiếp cận vấn đề tự kỷ trên quan điểm hiện đại “rối loạn phổ tự kỷ”. Những đặc điểm đặc trƣng của RLPTK Trẻ RLPTK không phát triển theo các cột mốc quan trọng như các trẻ bình thường khác. Tất cả các trẻ RLPTK đều có những đặc điểm đặc trưng là thiếu hụt (1) tương tác xã hội, các giao tiếp bằng lời và không lời, và (2) hành vi gò bó, lặp đi lặp lại.

Ngoài ra, trẻ thường có những phản ứng bất thường với những âm thanh hoặc đồ vật nhất định mà trẻ nghe hoặc nhìn thấy. Những thiếu hụt hoặc bất thường luan an 7 này có thể ở nhiều mức độ khác nhau từ nặng đến nhẹ tùy theo từng trẻ nhưng vẫn mang những biểu hiện điển hình của RLPTK.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ 18-30 tháng và rào cản tiếp cận dịch vụ chẩn đoán tại Việt Nam" của tác giả Lê Thị Vui, dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Văn Minh và TS. Nguyễn Thị Hương Giang, tập trung vào việc phân tích tình hình rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ nhỏ trong độ tuổi từ 18 đến 30 tháng tại Việt Nam trong giai đoạn 2017-2019. Nghiên cứu không chỉ chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát hiện và chẩn đoán sớm rối loạn này mà còn nêu bật những rào cản mà các gia đình gặp phải khi tiếp cận dịch vụ y tế. Bài viết mang lại cái nhìn sâu sắc về tình trạng sức khỏe tâm thần của trẻ em, đồng thời khuyến khích các bậc phụ huynh và chuyên gia y tế chú trọng hơn đến việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực y tế công cộng và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc kim luồn tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2021, nơi đề cập đến quy trình chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, và Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023, nghiên cứu về nhu cầu tư vấn y tế của bệnh nhân, giúp hiểu rõ hơn về sự quan tâm đến sức khỏe tâm thần và thể chất. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích cho bạn trong việc tìm hiểu về các vấn đề sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam.