CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Giải phẫu và sinh lý đường sinh dục dưới 1. Đặc điểm giải phẫu âm hộ, âm đạo và cổ tử cung Âm hộ: Âm hộ được cấu tạo gồm phần da ở ngoài và phần niêm mạc ở bên trong.
Âm hộ có môi lớn bao phủ tiền đình, che lấp niệu đạo nên khi đi tiểu thường nước tiểu còn sót lại, chảy dọc xuống và một ít xâm nhập vào âm đạo dể gây nhiễm khuẩn. Phía trong âm hộ có tuyến Bartholine và hai bên lỗ niệu đạo có tuyến Skene, các tuyến này tiết dịch tham gia một phần vào hệ thống chống nhiễm khuẩn tự nhiên của dịch âm đạo. Các dịch tiết này cũng thuận lợi cho vi khuẩn phát triển (13). Âm đạo: Âm đạo là một ống đi từ cổ tử cung tới âm hộ.
Vị trí âm đạo nằm sau bàng quang và niệu đạo, nằm trước trực tràng. Âm đạo và tử cung thường gấp theo một góc 90º. Âm đạo dài khoảng 8 cm, chạy chếch ra trước và xuống dưới, tạo cùng với đường ngang mét góc 70º. Âm đạo dẹt trước sau, bình thường thành trước âm đạo ép vào thành sau thành một khe có nhiều nếp gấp.
Cấu tạo của âm đạo gồm 3 lớp: Lớp liên kết ở ngoài. Lớp cơ trơn với thớ dọc ở nông và thớ vòng ở sâu, các thớ cơ liên tiếp với lớp cơ ở cổ tử cung. Lớp niêm mạc âm đạo được đội lên thành 2 cột, Cột trước và cột sau, khi hai thành đóng lại thì hai cột đó nằm sát cạnh nhau. Niêm mạc âm đạo thường có nhiều nếp gấp ngang, chịu ảnh hưởng của các nội tiết tố nữ và thường hơi mềm do các chất dịch tiết ra từ cổ tử cung và buồng tử cung.
Âm đạo được phủ một lớp biểu mô nhiều tầng gọi là biểu mô lát tầng, gồm nhiều hàng tế bào (lớp bề mặt, lớp giữa, lớp cận đáy và lớp đáy). Các tế bào này chịu tác dụng của Estrogen buồng trứng và rụng lần lượt trong chu kỳ kinh nguyệt (13). 5 Hình 1: Đặc điểm giải phẩu âm đạo, cổ tử cung ( nguồn:Frank H. Netter v6-2016) Cổ tử cung (phần trong âm đạo) Gồm hai phần: Phần trên âm đạo, nằm trong ổ bụng và nằm ngoài phúc mạc.
Phần trong âm đạo là đoạn dưới cổ tử cung. Cổ tử cung ở phía sau dính vào 1/3 trên âm đạo, phía trước dính vào 1/3 dưới, nên phần trong âm đạo ở phía sau cao hơn phía trước. Phần trong âm đạo của cổ tử cung còn gọi là mỏm mè. Mỏm mè có lỗ cổ tử cung và hai môi.
Phụ nữ chưa sinh đẻ, cổ tử cung trơn đều, lỗ tròn, sau khi sinh con, càng sinh nhiều lần, cổ tử cung càng dẹt và rút ngắn lại. Cơ ở cổ tử cung gồm 3 lớp: Lớp ngoài và lớp trong là cơ dọc, lớp giữa là cơ vòng. Lớp biểu mô lát tầng ở âm đạo phủ lên mặt ngoài cổ tử cung, do đó khi viêm âm đạo 6 rất dễ dàng bị viêm cổ tử cung. Ống cổ tử cung được phủ bởi lớp biểu mô trụ gồm một hàng tế bào tuyến hình trụ, các tuyến luôn chế tiết chất nhầy cổ tử cung (13,14).
Tiết dịch sinh lý của âm đạo và cổ tử cung Biểu mô trụ của ống cổ tử cung chế tiết ra chất nhầy trong, tương tự lòng trắng trứng, kết tinh thành hình lá dương xỉ. Lượng chất nhầy tăng lên từ ngày thứ 8 đến 15 của chu kỳ kinh nguyệt. Ở thời điểm phóng noãn, chất nhầy cổ tử cung rất nhiều, giúp tinh trùng dễ xâm nhập, bảo vệ không cho các tác nhân gây bệnh vào buồng tử cung. Chất nhày cổ tử cung là loại dịch sinh lý không gây các triệu chứng cơ năng, kích thích, ngứa đau, đau khi giao hợp, không có mùi, không chứa bạch cầu đa nhân.
Bình thường môi trường âm đạo là toan (pH từ 3,8 đến 4,6) có tác dụng bảo vệ khỏi bị nhiễm khuẩn (trừ nấm). Độ toan của âm đạo là do glycogen tích lũy trong tế bào biểu mô chuyển đổi thành acid lactic khi có trực khuẩn Doderlein. Trữ lượng glycogen ở biểu mô phụ thuộc vào estrogen. Biểu mô âm đạo bong nhiều làm cho khí hư giống như sữa, lượng ít, đặc, đục, bao gồm các tế bào bề mặt không có bạch cầu đa nhân (14).
Bình thường ở cổ tử cung và âm đạo có một chất dịch trắng như sữa, trong hơi đặc, lượng ít không chảy ra ngoài âm hộ, không gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người phụ nữ. Khi chất dịch tiết nhiều, chảy ra ngoài âm hộ làm cho người phụ nữ khó chịu đó là dịch âm đạo bất thường, gọi là khí hư. Có 3 loại khí hư: Khí hư trong, dính như lòng trắng trứng, có khi loãng như nước. Xét nghiệm khí hư: không thấy vi khuẩn, bạch cầu, chỉ có tế bào biểu mô.
Khí hư này từ niêm mạc tử cung, do u xơ tử cung, polip cổ tử cung, hoặc ở người cường estrogen. Điều trị nguyên nhân như cắt bỏ u xơ, xoắn polip, hoặc tiêm atropin sẽ hết khí hư. Khí hư trắng như váng sữa, xét nghiệm không có bạch cầu và vi khuẩn. Nguyên nhân do rối loạn thần kinh thực vật ở bệnh nhân hay lo lắng, hoặc tử cung bị xung huyết.
Điều trị phải làm bệnh nhân an tâm, tinh thần phấn khởi hoặc thuốc giảm tiết như Atropin. Khí hư đục: triệu chứng phổ biến của viêm sinh dục. Khí hư đục, loãng hoặc đặc do lẫn với mủ. Nhiễm khuẩn càng nặng thì khí hư càng nhiều, màu sắc vàng xanh, mùi hôi, tanh.
7 Khí hư có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào: bé gái, tuổi hoạt động sinh dục, mãn kinh. Trong quá trình khám phụ khoa, thầy thuốc cần chẩn đoán được khí hư và tìm ra được nguyên nhân (5,13,14). Khái niệm và phân loại viêm nhiễm đường sinh dục Viêm đường sinh dục theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới là các viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục do bệnh lây truyền qua đường tình dục và viêm nhiễm khác không lây qua quan hệ tình dục tại âm hộ, âm đạo và cổ tử cung. Căn nguyên của bệnh gồm ba nhóm nguyên nhân là vi khuẩn, virus và ký sinh trùng gây ra ba nhóm bệnh (5).
Các viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục (giang mai, lậu, AIDS, nhiễm Chlamydia trachomatis .), các viêm nhiễm nội sinh do phát triển quá mức các vi sinh vật sống cộng sinh trong đường sinh dục (viêm âm đạo không đặc hiệu, nhiễm nấm Candida sp) và các nhiễm khuẩn do vi sinh vật xâm nhập từ ngoài vào không qua đường tình dục như thực hiện các kỹ thuật thăm khám phụ khoa, sinh đẻ hoặc KHHGĐ, từ môi trường tự nhiên không đảm bảo vệ sinh (15). Viêm nhiễm đường sinh dục không chỉ là vấn đề tác nhân gây bệnh, đó là tương quan kết hợp của 3 yếu tố: Cơ quan sinh dục, tác nhân gây bệnh và yếu tố lây truyền. Bình thường âm đạo dễ dàng tự chống lại các tác nhân gây bệnh bằng nhiều cơ chế. Biểu mô niêm mạc âm đạo chứa nhiều glycogen.
Các tế bào biểu mô âm đạo bẻ gãy glycogen thành các monosaccharid rồi sau đó được chuyển đổi thành acid lactic bởi bản thân tế bào và trực khuẩn lactobaccilli (trực khuẩn Doderlein) duy trì pH âm đạo dưới 5,5 không thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển. Mặt khác ở niêm mạc âm đạo có dịch thấm từ mạng tĩnh mạch, bạch mạch có sẵn tính bảo vệ tự nhiên. Các tác nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục phân thành 3 nhóm: Vi khuẩn, vi rút, nấm gây ra các viêm nhiễm đường sinh dục đặc hiệu và không đặc hiệu(5,14,16). - Tác nhân gây VNĐSD đặc hiệu lây truyền bằng tiếp xúc sinh dục và gây ra các thương tổn đặc hiệu gồm Neisseria gonorhoeae, Chlamydia trachomatis, Gardnerella vaginalis, Trichomonas vaginalis, HIV, nấm men Candida sp.
8 - Tác nhân gây VNĐSD không đặc hiệu có thể tìm thấy ở cổ tử cung, âm đạo trong trạng thái bình thường với số lượng ít, khi môi trường âm đạo ở trạng thái không bình thường các tác nhân này mới có cơ hội gây nên tình trạng viêm nhiễm đường sinh dục. Yếu tố lan truyền gồm: Quan hệ tình dục, các thủ thuật sản phụ khoa có thể gây ra nhiễm mầm bệnh không đặc hiệu và các yếu tố trong cơ thể hoặc tại âm đạo, cổ tử cung như dị dạng sinh dục, các khối u lành tính hay ác tính, đặt dụng cụ tử cung, tuổi, có thai, đái tháo đường, thiểu estrogen, suy giảm miễn dịch, toàn trạng suy kiệt, dinh dưỡng kém, môi trường sống, nhà ở, nguồn nước, ánh sáng, bụi. Viêm nhiễm đường sinh dục bao gồm nhiều loại bệnh và mầm bệnh khác nhau. Có nhiều cách phân loại tuỳ theo các tiêu chí lựa chọn và mục đích tiếp cận.
Hiện nay đang phổ biến 4 cách phân loại như sau: Theo cơ chế lây truyền: Gồm các viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục, các viêm nhiễm nội sinh và do vi sinh vật xâm nhập từ ngoài vào không qua đường tình dục. Đây là cách phân loại phổ biến nhất hiện nay. Theo vị trí tổn thương trên lâm sàng: Gồm các viêm nhiễm đường sinh dục dưới (từ âm hộ đến cổ tử cung) và viêm nhiễm đường sinh dục trên (từ tử cung lên buồng trứng). Theo căn nguyên gây bệnh: Viêm nhiễm do vi khuẩn, vi rút hoặc ký sinh trùng.
Theo hình ảnh tế bào bệnh học: Viêm cấp và viêm mạn. Chẩn đoán viêm nhiễm đường sinh dục dưới 1. Lâm sàng Các tác nhân viêm nhiễm dường sinh dục dưới gây ra nhiều bệnh cảnh lâm sàng khác nhau, biểu hiện qua các thời kỳ, giai đoạn khác nhau. Có tác nhân chỉ gây tổn thương ở bộ phận sinh dục, có tác nhân vừa gây bệnh ở bộ phận sinh dục vừa gây bệnh ngoài cơ quan sinh dục.
Tuy nhiên, biểu hiện tại bộ phận sinh dục thường gặp nhất và người bệnh cũng thường quan tâm nhất. Theo hướng dẫn Quốc gia về dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản của Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định 4128/QĐ-BYT ngày 29/7/2016 hướng dẫn cụ thể: Đối với người bệnh nữ, việc khám bệnh bao gồm cả khám bộ phận sinh dục ngoài và 9 khám âm đạo bằng mỏ vịt vô khuẩn để nhìn trực tiếp cổ tử cung và thành âm đạo. Cách tiếp cận theo hội chứng được áp dụng cho các tuyến y tế cơ sở và các đơn vị y tế không có xét nghiệm hỗ trợ. Viêm nhiễm đường sinh dục dưới thường biểu hiện bằng 4 triệu chứng lâm sàng chính: Tăng tiết dịch âm đạo, ngứa, viêm loét và đau bụng dưới.
Trong đó tăng tiết dịch âm đạo và viêm loét là hai triệu chứng quan trọng nhất(5,15,17).