Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 1. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn một thế kỷ trước.
Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9] so với các nhóm giun sán khác thì sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn chưa được đầy đủ. lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam). Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người. Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã.
Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm vào thành phần loài đó là sán Taenia hydatigena và Taenia pisiformis. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10] đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của bộ ăn thịt, kết quả cho thấy: trong các loài mèo rừng, cầy giông, cầy hương, cầy lỏn và chó nhà được mổ khám đã phát hiện thấy các loài Taenia hydatigena, Taenia pisifomis, Multiceps multiceps, Spirometra erinacei-europaei, Dipylidium caninum. Tác giả cũng cho biết: đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định. và các cộng sự đã lập nên một phân giống là Spirometra trong giống Diphyllobothrium.
Đến năm 1935, Mueller đã mô tả loài Diphyllobothrium mansonoides trên mẫu vật tìm được từ chó và mèo ở vùng Syracus (New York). Sau đó đến năm 1937, Muller đã đề xuất giống Spirometra và thống nhất đổi tên loài Diphyllobothrium mansonoides thành loài Spirometra mansonoides. 4 Năm 1918, Rudolphi đã phát hiện ấu trùng của sán dây loài Spirometra ericnaice trên loài nhím ở châu Âu. và các cộng sự cũng đã phát hiện ấu trùng loài này trên nhím ở Trung Quốc và dạng sán trưởng thành ở chó.
Khi nghiên cứu về hệ enzym của loài Spirometra erinacei ở Nhật Bản và ở Australia, Fukumoto S. và cs (1992) [38] có nhận xét rằng hai loài sán này là giống nhau. Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [16] cho biết, từ trước tới nay đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về thành phần sán dây ký sinh trên chó tại miền Bắc Việt Nam: Casaux (1914), Caid và Rongie (1918), Montais (1920), Yoyeux và Houdemer (1928), Đặng Văn Ngữ và Đỗ Dương Thái (1974), Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978), Phạm Sỹ Lăng (1989), Ngô Huyền Thúy (1998). Theo các tác giả trên, 8 loài sán dây đã được xác định ký sinh trên chó là: Diphllobothrium mansoni (Cobbold, 1882), Diphllobothrium reptans (Dies, 1850), Dipylidium caninum (Linnéu, 1758), Taenia hydatigena (Pallas, 1766), Taenia pisiformis (Bloch, 1780), Multiceps multiceps (Leske, 1780), Echinococcus granulosus (Batcah, 1786), Mesocestoides lincolus (Goeze, 1782).
Tuy nhiên, việc mô tả hình thái các loài sán dây này còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam. Sau này một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái và Đặng Văn Ngữ, 1970; Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni. Sự phán đoán này không dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài. Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo nhà, cầy, chó Hà Nội có loài Diphyllobothrium reptans.
Theo Yamaguti (1959), loài này thuộc giống Spirometra. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10] cho biết, ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium mansoni và Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có mẫu. Cũng trong tài liệu này, tác giả đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân 5 loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh 1 loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], Nguyễn Thị Kỳ (1994, 2003) [9], [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970) để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau: Ngành giun dẹp (Plathelminthes) Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Taeniata Skrjabin et Schulz, 1937 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780.
6 Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940 Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782 Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs, (1997) [33]; Nguyễn Thị Kỳ, (1994) [9]; Nguyễn Thị Lê và cs, (1996) [19] khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều có cùng phát hiện về các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt Nam như sau: Loài sán dây Nơi phát hiện ở Việt Nam Vị trí ký sinh Diphllobothrium mansoni Hà Nội, Bắc Bộ, Trung Bộ Ruột non (Cobbold, 1882) Diphllobothrium reptans Hà Nội (1928), Bắc Bộ Ruột (Dies, 1850) Dipylidium caninum Bắc Bộ, Nghệ An, Lạng Sơn, Quảng Ruột (Linnéu, 1758) Ninh Taenia hydatigena (Pallas, Bắc bộ (1925), Hà Nội (1927)Các Ruột 1766) tỉnh phía Bắc (1965, 1967) Taenia pisiformis (Bloch, Bắc Bộ (1925), Hà Nội (1927),Các Ruột 1780) tỉnh phía Bắc (1963) Multiceps multiceps (Leske, Bắc bộ (1925), Các tỉnh phía Bắc Ruột 1780) (1967) Echinococcus granulosus Các tỉnh phía Bắc, Nam bộ (1968) Ruột (Batcah, 1786) Mesocestoides lincolus Bắc Bộ Ruột (Goeze, 1782) Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], hiện đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo, chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó, mèo (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004) [1]. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó * Đặc điểm chung Phan Thế Việt và cs (1977) [33], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19] cho biết: Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau).
Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm. Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc. Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng.
Giác bám là đặc trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ số đơn vị đến vài trăm móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài.
Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu, đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ. Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực. Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả cơ quan sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là không có hệ tiêu hoá. Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa đầy tử cung với vô số trứng sán dây.
Ở những đốt già, cơ quan sinh dục đực bị thoái hoá. Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài. Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét. Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc.
Phần bên trong chứa đầy nhu mô. Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán. Sán dây chó cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hoá, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể. 8 Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó các dây chạy dọc cơ thể.
Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang. Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm. Hô hấp theo kiểu yếm khí. Hệ bài tiết của sán dây theo kiểu nguyên đơn thận.
Gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết. Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính. Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn. Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái.
Sau khi thụ tinh, hệ sinh dục đực teo dần còn lại các cơ quan sinh dục cái. Ở các đốt già, trứng được chứa đầy trong tử cung. Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục. Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài.
Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai. Lông gai nằm trong nang lông gai.