Luận án: Nghiên cứu bệnh gạo lợn do Cysticercus cellulosae tại Sơn La, Điện Biên và biện pháp phòng chống

Luận án tiến sĩ thú y nghiên cứu chi tiết bệnh gạo lợn do Cysticercus cellulosae tại Sơn La, Điện Biên. Đề xuất biện pháp phòng chống hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ thú y

2020

156
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra

Bệnh gạo lợn là bệnh ký sinh trùng nghiêm trọng do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra. Ấu trùng là giai đoạn ấu thể của sán dây Taenia solium. Lợn mắc bệnh khi ăn phải trứng sán dây bài tiết qua phân người nhiễm sán trưởng thành. Trứng vào đường tiêu hóa, nở thành ấu trùng, xuyên qua thành ruột theo máu đến ký sinh tại cơ vân, cơ tim, não và các phủ tạng. Tại các vị trí ký sinh, ấu trùng hình thành nang có kích thước khoảng 5-10 mm, bên trong chứa dịch và đầu sán. Bệnh gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi. Thịt lợn nhiễm bệnh phải tiêu hủy, không được lưu thông trên thị trường. Tại tỉnh Sơn La và Điện Biên, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế. Tập quán chăn nuôi thả rông và ăn thịt sống, thịt tái phổ biến. Những yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu hành của bệnh. Nghiên cứu tổng quan về bệnh giúp xây dựng cơ sở khoa học cho công tác phòng chống hiệu quả tại khu vực này.

1.1. Đặc điểm hình thái và vòng đời của sán dây Taenia solium

Sán dây Taenia solium thuộc lớp Cestoda, bộ Cyclophyllidea. Sán trưởng thành ký sinh trong ruột non người, có chiều dài từ 2-8 mét. Thân sán gồm nhiều đốt, mỗi đốt chứa hàng nghìn trứng. Trứng có hình cầu, đường kính 30-40 micromet, vỏ ngoài dày, bên trong chứa oncosphere có 6 móc. Khi người ăn phải thịt lợn sống có ấu trùng, đầu sán bám vào niêm mạc ruột non, phát triển thành sán trưởng thành sau 2-3 tháng. Sán trưởng thành sống ký sinh nhiều năm, mỗi ngày giải phóng hàng nghìn đốt chứa trứng ra ngoài theo phân. Vòng đời khép kín giữa người và lợn duy trì sự lưu hành của bệnh trong cộng đồng.

1.2. Tình hình lưu hành bệnh gạo lợn tại tỉnh Sơn La và Điện Biên

Tỉnh Sơn La và Điện Biên nằm ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Đây là khu vực có tỷ lệ nhiễm bệnh gạo lợn cao so với các vùng khác. Nguyên nhân chính xuất phát từ tập quán chăn nuôi thả rông. Lợn được nuôi theo hình thức bán tự do, tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài. Nhà vệ sinh tại nhiều bản làng chưa đạt chuẩn. Phân người nhiễm sán dây bị thải ra môi trường mà không qua xử lý. Thêm vào đó, tập quán ăn thịt sống, thịt tái của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số làm tăng nguy cơ lây nhiễm sán dây trưởng thành. Các yếu tố văn hóa, kinh tế và tập quán sinh hoạt đan xen tạo nên bức tranh dịch tễ phức tạp tại hai tỉnh biên giới này.

II. Phân tích thực trạng nhiễm Cysticercus cellulosae ở lợn tại Sơn La Điện Biên

Nghiên cứu tiến hành khảo sát tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn tại nhiều huyện thuộc tỉnh Sơn La và Điện Biên. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm khác nhau giữa các địa phương. Những huyện có điều kiện kinh tế khó khăn, tập quán chăn nuôi lạc hậu thường ghi nhận tỷ lệ nhiễm cao hơn. Lợn trưởng thành có tỷ lệ nhiễm cao hơn lợn non do thời gian tiếp xúc mầm bệnh kéo dài. Về mùa vụ, tỷ lệ nhiễm biến động theo chu kỳ. Mùa mưa, môi trường ẩm ướt thuận lợi cho trứng sán tồn tại lâu hơn. Điều này làm tăng nguy cơ lợn ăn phải trứng sán. Cường độ nhiễm cũng thay đổi tùy theo từng cá thể. Một số lợn chỉ có vài nang ấu trùng, trong khi cá thể khác có hàng trăm nang phân bố rải rác trong cơ. Phân tích huyết thanh bằng kỹ thuật ELISA cho kết quả phát hiện kháng thể kháng C. cellulosae tương đối chính xác. Phương pháp này hỗ trợ đắc lực cho công tác giám sát dịch tễ trên diện rộng.

2.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng theo địa phương tuổi và mùa vụ

Tỷ lệ nhiễm Cysticercus cellulosae ở lợn dao động đáng kể giữa các huyện. Các huyện vùng sâu, vùng xa có tỷ lệ nhiễm cao hơn huyện trung tâm. Lợn nuôi từ 12 tháng tuổi trở lên có nguy cơ nhiễm bệnh cao gấp nhiều lần so với lợn dưới 6 tháng tuổi. Về mùa vụ, giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10 ghi nhận tỷ lệ nhiễm cao nhất. Mưa nhiều khiến trứng sán lan rộng trong môi trường nước và đất. Cường độ nhiễm trung bình từ 5-20 nang ấu trùng trên mỗi kilogram cơ. Cá biệt, một số mẫu lợn ghi nhận trên 100 nang mỗi kilogram cơ, mức độ nhiễm nặng.

2.2. Các yếu tố nguy cơ và cơ chế lây truyền bệnh trong cộng đồng

Yếu tố nguy cơ chính là tập quán nuôi lợn thả rông. Lợn tiếp xúc với phân người chứa trứng sán dây Taenia solium. Nhà tiêu không hợp vệ sinh là nguồn phát tán trứng sán lớn nhất. Nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm cũng góp phần lây truyền bệnh. Yếu tố văn hóa ăn thịt sống, thịt tái duy trì vòng đời sán dây giữa người và lợn. Người nhiễm sán dây trưởng thành trở thành nguồn lây chính. Thiếu kiến thức về phòng bệnh ở cộng đồng nông thôn làm trầm trọng thêm tình hình. Biện pháp phòng chống cần tiếp cận đa ngành, kết hợp y tế và thú y.

III. Biện pháp chẩn đoán và phòng chống bệnh gạo lợn hiệu quả

Chẩn đoán bệnh gạo lợn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp huyết thanh học ELISA được ứng dụng rộng rãi trong giám sát dịch tễ. Kỹ thuật này phát hiện kháng thể IgG kháng Cysticercus cellulosae trong huyết thanh lợn. Độ nhạy đạt 88% và độ đặc hiệu đạt 96% theo đánh giá của bộ kit thương mại. Phương pháp biến thái nội bì cũng được áp dụng, sử dụng kháng nguyên chiết xuất từ đốt sán. Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế do phản ứng chéo với kháng thể của giun sán khác. Chẩn đoán xác định dựa vào mổ khám lâm sàng, quan sát trực tiếp ấu trùng trong cơ. Về điều trị, praziquantel và albendazole là hai thuốc được sử dụng phổ biến. Praziquantel có hiệu quả cao trên cả sán trưởng thành và ấu trùng. Albendazole tác động lên nang ấu trùng, giảm kích thước và tiêu diệt chúng. Phối hợp hai thuốc trong phác đồ điều trị cho kết quả khả quan. Tuy nhiên, phòng bệnh vẫn là biện pháp quan trọng nhất.

3.1. Phương pháp chẩn đoán bệnh gạo lợn bằng kỹ thuật huyết thanh học

Kỹ thuật ELISA là phương pháp chẩn đoán huyết thanh học được ưu tiên sử dụng. Bộ kit ELISA Taenia solium của hãng Scimedx phát hiện kháng thể IgG đặc hiệu trong huyết thanh lợn. Quy trình thực hiện đơn giản, cho phép khảo sát số lượng lớn mẫu trong thời gian ngắn. Máy đọc plate ELISA đo độ hấp thụ ở bước sóng 450 nm và 650 nm. Kết quả được đánh giá dựa trên giá trị ngưỡng cắt. Phương pháp biến thái nội bì sử dụng kháng nguyên từ đốt sán, tiêm dưới da lợn. Phản ứng dương tính thể hiện qua vùng sưng đỏ tại vị trí tiêm sau 15-45 phút. Cả hai phương pháp đều hỗ trợ giám sát dịch tễ hiệu quả tại vùng lưu hành bệnh.

3.2. Các biện pháp phòng bệnh và kiểm soát lây truyền trong cộng đồng

Phòng bệnh gạo lợn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ nhiều biện pháp. Nuôi lợn nhốt hoàn toàn, không thả rông để ngăn lợn tiếp xúc với phân người. Xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh tại vùng nông thôn, đặc biệt là nhà tiêu hai ngăn hoặc tự hoại. Quản lý phân người nhiễm sán dây trước khi thải ra môi trường. Tăng cường kiểm soát giết mổ, phát hiện và tiêu hủy thịt lợn nhiễm bệnh. Tuyên truyền giáo dục cộng đồng về tác hại của ăn thịt sống, thịt tái. Điều trị triệt để người nhiễm sán dây trưởng thành để cắt đứt nguồn lây. Áp dụng đồng bộ các biện pháp trên giúp giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm bệnh.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của luận án tiến sĩ thú y nghiên cứu bệnh gạo lợn

Luận án tiến sĩ thú y đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Kết quả xác định rõ thực trạng nhiễm Cysticercus cellulosae ở lợn tại tỉnh Sơn La và Điện Biên. Tỷ lệ nhiễm biến động theo địa phương, mùa vụ và tuổi lợn. Các yếu tố nguy cơ chính được xác định bao gồm tập quán chăn nuôi thả rông và nhà tiêu không hợp vệ sinh. Phương pháp ELISA được đánh giá là công cụ giám sát dịch tễ hiệu quả trên quy mô lớn. Phác đồ điều trị bằng praziquantel kết hợp albendazole cho kết quả khả quan. Các biện pháp phòng chống tổng hợp được đề xuất phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Đóng góp mới của luận án là cung cấp dữ liệu dịch tễ học chi tiết về bệnh gạo lợn tại khu vực Tây Bắc. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham chiếu cho công tác phòng chống bệnh tại các tỉnh có điều kiện tương tự. Ứng dụng thực tiễn giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

4.1. Đóng góp khoa học mới của luận án về bệnh gạo lợn tại Tây Bắc

Luận án cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học toàn diện về bệnh gạo lợn tại Sơn La và Điện Biên. Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá chi tiết tỷ lệ nhiễm theo huyện, mùa vụ và nhóm tuổi lợn tại khu vực này. Kết quả nghiên cứu xác định mối liên hệ giữa tập quán chăn nuôi và tỷ lệ nhiễm bệnh. Đánh giá hiệu quả kỹ thuật ELISA trong điều kiện thực tế tại vùng Tây Bắc. Nghiên cứu đề xuất mô hình giám sát dịch tễ phù hợp với vùng khó khăn. Những đóng góp này bổ sung kiến thức khoa học quan trọng về bệnh ký sinh trùng tại Việt Nam.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong chăn nuôi và bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp trong công tác phòng chống bệnh tại địa phương. Mô hình nuôi lợn nhốt kết hợp nhà tiêu hợp vệ sinh triển khai tại các bản làng. Chương trình tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh gạo lợn và sán dây. Hệ thống giám sát dựa trên kỹ thuật ELISA được áp dụng tại các trạm thú y huyện. Phác đồ điều trị bằng praziquantel và albendazole được khuyến cáo sử dụng rộng rãi. Các biện pháp kiểm soát giết mổ được tăng cường tại lò mổ địa phương. Ứng dụng đồng bộ các giải pháp giúp giảm tỷ lệ nhiễm bệnh, bảo vệ kinh tế hộ chăn nuôi và sức khỏe cộng đồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ thú y nghiên cứu bệnh gạo lợn do ấu trùng cysticercus cellulosae gây ra tại tỉnh tỉnh sơn la điện biên và biện pháp phòng chống

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số đặc điểm của sán dây Taenia solium và ấu trùng Cysticercus cellulosae 1. Vị trí của sán dây Taenia solium trong hệ thống phân loại động vật Theo Phan Thế Việt và cs.

(1977) [50], Nguyễn Thị Lê và cs. solium - thường gọi là sán dây lợn - có vị trí trong hệ thống phân loại như sau: Lớp sán dây Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Cestoda Carus, 1863 Bộ Cyclophyllidae Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Taeniata Skrjabin et Schulz, 1973 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Liunaeus, 1758 Loài Taenia solium Liunaeus, 1758 1. Đặc điểm của sán dây Taenia solium 1. Đặc điểm chung của sán dây Phan Thế Việt (1977) [50], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [15] cho biết: Sán dây T.

solium có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: cơ thể có hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dẹt theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân. Đầu sán thường có dạng hình cầu, có giác bám dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm.

Cơ quan bám nằm trên đầu là các giác bám và nhiều móc. Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây. Móc bám nằm ngay trên đầu sán dây, sắp xếp thành một hay hai hàng. Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu.

Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ. Thân sán dây gồm nhiều đốt. Các đốt ở phần thân sán dây chia làm 3 loại: đốt chưa thành thục, đốt thành thục và đốt già. Đốt chưa thành thục là những đốt giáp với các đốt cổ, cơ quan sinh dục ở mỗi đốt này chưa phát triển đầy đủ và chỉ có cơ quan sinh dục đực.

Đốt thành thục (ở giữa thân sán) là những đốt có cơ quan sinh dục đã phát triển đầy đủ, có cả cơ quan sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết (mỗi đốt 5 đều có cấu tạo như một cơ thể sán dây độc lập, nhưng không có hệ tiêu hóa). Đốt già (ở cuối thân sán) là những đốt mà các khí quan khác đã teo đi, chỉ còn tử cung chứa đầy trứng sán. Đốt già thường xuyên tách khỏi cơ thể sán dây và theo phân ra ngoài. Đốt sán già có hình 4 cạnh (chiều dài lớn hơn chiều rộng).

Cơ thể sán dây được bao bọc bởi 3 lớp: lớp vỏ, lớp dưới vỏ và lớp cơ, bên dưới lớp cơ là các khí quan nội tạng. Sán dây không có hệ tiêu hóa, sán lấy dinh dưỡng bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể. Theo Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [24], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [16], hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh nằm ở đầu sán, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể.

Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang. Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp của sán dây đã tiêu giảm. Sán dây hô hấp theo kiểu yếm khí. Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết.

Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính. Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục. Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm. Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai.

Lông gai nằm trong nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh. Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong. Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối.

Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vỏ (thể Melis) và tử cung. Sán dây thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sán, ít khi ở phía trước. Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng). Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục.

Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp. Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng. Từ tuyến noãn hoàng, các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc hình thành trứng.

Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng. Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung, tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng. 6 Trứng được rơi ra ngoài bằng các nút thắt cơ thể của đốt. Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ.

Sán dây sinh sản lưỡng tính, sự thụ tinh có thể xảy ra trong cùng một đốt sán (tự thụ tinh) hoặc giữa hai đốt khác nhau trong cùng một con hoặc giữa hai con (thụ tinh chéo). Sán tiêu hóa bằng cách, chất dinh dưỡng đi qua vỏ để thẩm thấu vào thân sán. Dịch tiêu hóa không thể thẩm thấu vào thân sán khi sán còn sống, nhờ đó mà sán không bị tiêu diệt khi sống trong đường tiêu hóa của ký chủ. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây Taenia solium Nhiều tác giả nghiên cứu về sán dây T.

solium đều cho rằng, sán dây có đặc điểm hình thái, cấu tạo như sau: Sán dây dài, dẹp theo hướng lưng - bụng, màu trắng hoặc hơi vàng. Cơ thể bao gồm: đầu, cổ và các đốt. Số lượng các đốt dao động từ vài trăm đốt đến hàng nghìn đốt. Các đốt phía trước là đốt non và bé, càng về sau các đốt càng lớn và già, đốt già nhất ở cuối cơ thể.

Nguyễn Thị Lê và cs. (2000) [25] khi mô tả về hình thái của sán dây đã cho rằng: sán dây T. solium có hình dạng bên ngoài giống sán dây T. saginata (thường gọi là sán dây bò hoặc sán sơ mít), nhưng ngắn hơn.

solium trưởng thành ký sinh ở ruột non của người, dài 2 - 7 mét, tuy nhiên có trường hợp chiều dài lên đến 9 m. Đốt đầu hình cầu, có 4 giác bám, có đỉnh đầu và hai hàng móc đỉnh gồm 22 - 32 móc. Các đốt cổ ngắn và hẹp. Đốt chưa thành thục có chiều dài lớn hơn chiều rộng.

Các đốt càng về sau thân càng lớn, đốt già hình chữ nhật, tử cung phân thành 7 - 12 nhánh (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2006 [20], Chu Thị Thơm và cs. Cổ của sán dây mảnh, nối tiếp với đầu, là nơi sản sinh ra đốt sán. Thân gồm nhiều đốt. Các đốt già cơ quan sinh dục đực tiêu biến chỉ còn thấy tử cung chứa trứng sán.

Một đốt sán có khoảng 55.000 trứng, những đốt già ở cuối thân thường rụng thành từng đoạn ngắn, 5 - 6 đốt dính nhau rồi theo phân ra ngoài và không di động (Nguyễn Mạnh Hùng và cs. Kích thước của sán dây T. solium không thuần nhất, tuy sán đã ký sinh nhiều năm trong cơ thể người (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1976 [34]). Điều đáng chú ý là những người nhiễm nhiều sán dây thì kích thước mỗi con sán dây thường nhỏ, có con chỉ dài chừng 20 cm (Đỗ Dương Thái và cs.

7 Có thể giả thuyết rằng, chế độ ăn uống của bệnh nhân có liên quan đến sự phát triển của đốt sán và chiều dài của sán dây T. Ở những người bệnh có chế độ ăn uống đầy đủ, có nhiều thức ăn giàu protein, đốt sán phát triển nhanh và được thải tương đối đều đặn theo phân. Ngược lại, ở những người ăn thức ăn thiếu protein, đốt sán phát triển chậm và có những thời gian dài đốt sán không rụng theo phân (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1976 [34]). Trước đây, người ta quan niệm người bị bệnh sán dây T.

solium chỉ nhiễm đơn độc một sán dây. Hiện tượng này được giải thích theo nhu cầu dinh dưỡng của sán, nếu số lượng sán quá nhiều, nhu cầu dinh dưỡng sẽ không được giải quyết và chỉ còn sót lại một sán sống. Tuy nhiên, hiện nay vẫn thấy nhiều người có 2 - 5 sán dây ký sinh, cá biệt có người có tới 17 sán dây T. solium trưởng thành ký sinh trên cơ thể (Đỗ Dương Thái và cs., 1974 [33], Lê Bách Quang và cs.

Ở Việt Nam, bệnh sán dây T. solium ở người khá phổ biến, có khoảng 10% bệnh nhân nhiễm từ 2 sán dây trở lên (Lê Bách Quang và cs. Nhiều trường hợp trên một bệnh nhân nhiễm cả sán dây T. solium trưởng thành và ấu trùng của nó.

Tuy nhiên, trên thực tế, bệnh ấu trùng C. cellulosae ở người thường là bệnh thứ phát sau tiền sử có mắc bệnh sán dây trưởng thành T. solium (Nguyễn Văn Đề và cs.1: Đốt trưởng thành T. solium (Nguồn: Prayong Radomyos và cs.

2013) Trứng của sán dây T. solium có hình cầu hoặc hình tròn, màu vàng xám hoặc nâu sẫm. Bên trong là khối có hạt chiết quang nằm trong nhân, đường kính từ 31 - 56 µm, có màu nâu sẫm. Vỏ trứng dày, có 2 lớp và có vạch hướng tâm từ trong ra ngoài, bên trong chứa một phôi 6 móc và không nhìn thấy bằng mắt thường (Phạm Văn Thân, 2009 [36], Phan Anh Tuấn, 2013 [42], Lê Thị Xuân, 2015 [51]).

8 Lớp ngoài của vỏ trứng sán dây T. solium rất mỏng nên khi trứng ra bên ngoài môi trường thì vỡ ngay, lớp vỏ sát phôi 6 móc rất dày, có khía ngang như nan hoa (Lê Bách Quang và cs. solium nằm trong đốt sán nên chỉ khi nào đốt sán bị phân hủy mới giải phóng trứng. Ở môi trường bên ngoài, nhiệt độ trên 70oC mới có khả năng diệt được trứng sán (Lê Bách Quang và cs.

Sau khi đốt sán phân hủy, giải phóng trứng sán thì trứng sán có thể sống 1 tháng ở môi trường bên ngoài. solium không cần thời gian phát triển ở ngoại cảnh. Trứng có sức đề kháng cao với các hóa chất thông thường. Tuy nhiên, trong dung dịch formol và cresyl nồng độ 5%, trứng bị diệt sau 2 giờ (Nguyễn Văn Đề và cs.

Chu kỳ sinh học của sán dây Taenia solium Như đã nói ở trên, sán dây T.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ