ĐẶT VẤN ĐỀ Cá tra là một trong những đối tượng nuôi chủ lực tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, Bến Tre (có diện tích nuôi khoảng 700 ha) và An Giang (có diện tích nuôi khoảng 1280 ha) là những tỉnh trọng điểm về nuôi cá tra, với diện tích nuôi chiếm trên 26% tổng diện tích nuôi cá tra của cả nước (khoảng 5.100 ha vào năm 2016); năng suất nuôi cá tra của hai tỉnh đạt khoảng 369.840 tấn, chiếm 30% tổng sản lượng cá tra cả nước (Tổng cục Thủy sản, 2016). Báo cáo của các địa phương cho thấy trong năm 2015, dịch bệnh trên cá tra đã xảy ra tại 89 xã của 24 huyện thuộc 4 tỉnh (Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long và Hậu Giang) với tổng diện tích bị thiệt hại là 542 ha. Trong đó, bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và bệnh xuất huyết do vi khuẩn Aeromonas hydrophila là hai bệnh xảy ra nhiều nhất và gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi cá tra.
Ngoài ra, còn một số bệnh khác như vàng da, trắng mang - trắng gan, bệnh đỏ mang và bệnh ký sinh trùng cũng gây ảnh hưởng đáng kể hiệu quả kinh tế trong nuôi cá tra. Việt Nam là nước xuất khẩu cá tra lớn nhất thế giới, cá tra và sản phẩm cá tra đã được xuất bán ở trên 161 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều thị trường nhập khẩu đã đưa ra các rào cản kỹ thuật nhằm hạn chế, thậm chí ngừng nhập khẩu sản phẩm cá tra của Việt Nam. Một trong các rào cản chính là các nước nhập khẩu yêu cầu Việt Nam phải xây dựng, tổ chức giám sát tình hình dịch bệnh trên cá tra và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện (Cục Thú y, 2015).
Do đó, để hạn chế tối đa thiệt hại do dịch bệnh và đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu, Cục Thú y đã xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 4995/QĐ-BNN-TY ngày 20/11/2014 phê duyệt “Kế hoạch quốc gia phòng, chống dịch bệnh trên cá tra giai đoạn 2015-2020”. Sau đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục ban hành Công văn số 7270/BNN-TY ngày 04/9/2015 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang (vì đây là 3 tỉnh có tổng diện tích nuôi lớn nhất, chiếm trên 70% diện tích của cả nước và thường xuyên có dịch bệnh trên cá tra xuất hiện) về việc tổ chức phòng, chống và kiểm soát các loại nguyên vật liệu đầu vào; trong đó có nội dung giám sát dịch bệnh trên cá tra. Tuy 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, do điều kiện khách quan nên ngày 09/3/2016 Chi cục Thú y Đồng Tháp đã có Công văn số 275/TY-DT gửi Cục Thú y báo cáo chưa triển khai hoạt động giám sát chủ động phát hiện bệnh trên cá tra như kế hoạch. Để có cơ sở khoa học nhằm giúp các địa phương xây dựng và triển khai đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên cá tra; đồng thời được sự hỗ trợ và bố trí kinh phí của Cục Thú y, sự phối hợp của Chi cục Chăn nuôi và Thú y các tỉnh Bến Tre và An Giang, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết trên cá tra nuôi tại tỉnh Bến Tre và An Giang năm 2016”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định mức độ lưu hành và một số đặc điểm dịch tễ của bệnh gan thận mủ do vi khuẩn E. ictaluri và bệnh xuất huyết do vi khuẩn A. hydrophila; xác định và lượng hóa các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến mức độ lưu hành bệnh nhằm đề xuất các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên cá tra hiệu quả và kịp thời. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết trên cá tra nuôi tại tỉnh Bến Tre và An Giang năm 2016.
Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Xác định được mức độ lưu hành và một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh gan thận mủ do vi khuẩn E. ictaluri và bệnh xuất huyết do vi khuẩn A. hydrophila; xác định khả năng mẫn cảm, kháng kháng sinh của vi khuẩn đã lựa chọn. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Cung cấp bức tranh tổng thể về tình hình nuôi cá tra, tình hình dịch bệnh, mức độ lưu hành bệnh gan thận mủ và xuất huyết.
Xác định được các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến lưu hành bệnh gan thận mủ và xuất huyết nhằm đề xuất các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên cá tra kịp thời, hiệu quả và khả thi tại hai tỉnh Bến Tre và An Giang. Giúp người nuôi trồng thủy sản đưa ra biện pháp phòng bệnh hiệu quả; lựa chọn thuốc điều trị theo đúng nguyên tắc sử dụng kháng sinh tránh gây ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc gây ô nhiễm môi trường và hạn chế được tồn dư kháng sinh trong cá sản phẩm cá tra, đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.ư 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH NUÔI VÀ XUẤT KHẨU CÁ TRA 2.
Tình hình sản xuất giống và nuôi cá tra Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là một trong những đối tượng cá nuôi nước ngọt chính của Việt Nam, cung cấp thực phẩm trong nước và là mặt hàng xuất khẩu thủy sản quan trọng. Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu cá tra lớn nhất thế giới. Cá tra được nuôi tập trung chủ yếu tại 10 tỉnh ĐBSCL, gồm: Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang và Trà Vinh. Từ năm 2009 - 2016, diện tích nuôi, sản lượng và giá trị xuất khẩu cá tra ít biến động, nhưng đang có xu hướng giảm dần (từ 6.100 ha, giảm khoảng 17% diện tích nuôi).
So với cùng kỳ năm 2015, mặc dù số lượng giống thả nuôi giảm 11,1%, diện tích thả nuôi tăng 3,1%, nhưng sản lượng tăng 8,9%. Sản lượng thu hoạch tăng do kích cỡ cá thu hoạch để tiêu thụ sang thị trường Trung Quốc tăng hơn so với năm 2015. Các tỉnh có diện tích thả nuôi tăng so với cùng kỳ năm 2015 gồm: Đồng Tháp (diện tích tăng 85 ha, sản lượng tăng 23.970 tấn); Bến Tre (diện tích tăng 22 ha, sản lượng tăng 13.420 tấn) và An Giang (diện tích tăng 75 ha, sản lượng tăng 11. Năm 2016, tổng diện tích thả nuôi cả nước đạt khoảng 5.100 ha, với sản lượng 1.
Mặc dù vậy, về tổng thể cho thấy tốc độ tăng trưởng trong ngành hàng cá tra là rất cao, có vai trò rất quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế chung của ngành Nông nghiệp. Về sản xuất giống, đến nay cả nước có 230 cơ sở sản xuất giống cá tra, hơn 4.000 hộ ương dưỡng cá giống với diện tích hơn 2.250 ha, sản xuất được khoảng 25 - 28 tỷ con cá bột (hơn 2,0 tỷ cá tra giống), tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang và cung cấp đủ cho nhu cầu thả nuôi của người dân (Tổng cục Thủy sản, 2016). Tuy nhiên, như một qui luật tự nhiên, khi hoạt động nuôi phát triển thì dịch bệnh cũng xuất hiện. Theo báo cáo của các địa phương trong những năm gần đây cho thấy tình hình dịch bệnh trên cá tra có chiều hướng gia tăng mạnh, tác động tiêu cực đến quá trình nuôi, xuất khẩu cá tra của nước ta.
Đã có một số nước yêu cầu Việt Nam phải có kế hoạch phòng, chống dịch bệnh trên cá tra, nhất là các bệnh như gan thận mủ, xuất huyết (Bùi Thị Việt Hằng và cs. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình xuất khẩu cá tra Diện tích nuôi và sản lượng cũng như giá trị kim ngạch xuất khẩu từ cá tra có xu hướng tăng liên tục từ năm 2001 - 2009 (Tổng cục Thủy sản, 2016) (Hình 2. Năm 2016, tổng diện tích nuôi cá tra của cả nước là 5.050 ha, đạt 99% so với kế hoạch.
Sản lượng thu hoạch là 1,15 triệu tấn (Tổng cục Thủy sản, 2016). Cá tra và sản phẩm cá tra đã được xuất sang trên 140 quốc gia (tăng thêm 04 thị trường so với 2015) và vùng lãnh thổ thuộc châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương, trong đó Mỹ và EU là hai thị trường lớn nhất (Bảng 2. Nguồn: Tổng cục Thủy sản (2016) Hình 2. Tình hình nuôi và xuất khẩu cá tra từ năm 2001 - 2015.
Thị trường xuất khẩu cá tra của Việt Nam từ năm 2011 - 2016. ĐVT: Triệu USD Thị trường 2011 2012 2013 2014 2015 2016 EU 526 426 385 344 285 218 Mỹ 332 359 381 337 315 320 Bra-xin 85 79 122 123 78 50 Me-hi-cô 109 102 98 115 96 70 ASEAN 111 110 125 137 135 112 Trung Quốc và Hồng Kông 56 73 91 113 162 236 Cô-lôm-bi-a - 52 59 70 59 46 Ả-rập xê-út 59 21 49 59 62 43 Nước khác 529 523 451 470 374 296 Tổng 1.391 Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016) 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu cá tra đang ngày một trở nên khó khăn do các nước liên tục đưa ra các rào cản kỹ thuật để bảo hộ sản xuất trong nước như Liên bang Nga, Brazil và mới đây là Hoa Kỳ. Cụ thể, từ ngày 20-31/10/2014, Cơ quan Giám sát và Kiểm dịch Động Thực vật Liên bang Nga (FSVPS) đã cử đoàn thanh tra sang Việt Nam để thanh tra các doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu thủy sản từ Việt Nam vào Liên minh Hải quan Nga - Kazakstan - Belarus và Liên bang Nga. Sản phẩm cá tra của nhiều doanh nghiệp Việt Nam không xuất khẩu được vào thị trường Liên bang Nga do không đạt yêu cầu an toàn thực phẩm, an toàn vệ sinh thú y của Liên minh Hải quan và Liên bang Nga và một trong các nguyên nhân là đã phát hiện cá tra bị nhiễm mầm bệnh xuất huyết do Aeromonas, bệnh gan thận mủ do E.
ictaluri và Pseudomonas; tại các trang trại đoàn đến thanh tra, đã không có hoạt động giám sát dịch bệnh chủ động, đây cũng là “lỗ hổng” lớn nhất của Việt Nam trong việc chứng minh kiểm soát tốt cũng như đảm bảo an toàn dịch bệnh. Tương tự Liên bang Nga, để nhập khẩu các sản phẩm cá tra, Bộ Thủy sản và Nuôi trồng thủy sản của Bra-xin (MPA) đã sang Việt Nam đánh giá hệ thống kiểm soát dịch bệnh trên cá tra và cơ sở nuôi cá tra trong thời gian từ 04- 15/3/2013.