Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ địa chất chuyên ngành Địa hóa học (mã số: 62 44 57 10) của tác giả Trần Đăng Quy, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Mai Trọng Nhuận và TS. Đào Mạnh Tiến tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012, mang tên: "Nghiên cứu đặc điểm địa hoá môi trường phục vụ sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên khu vực vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh".
Vịnh Tiên Yên là một vịnh biển kín ven bờ có tính đa dạng sinh học và tài nguyên cao (đặc biệt là diện tích bãi triều, đất ngập nước, rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy đặc sản như sá sùng, bông thùa, sò huyết). Do áp lực phát triển kinh tế ven bờ, tài nguyên thiên nhiên nơi đây suy giảm nghiêm trọng, rừng ngập mặn bị tàn phá, các nguồn thải lục địa gia tăng nguy cơ ô nhiễm. Các nghiên cứu trước đây chỉ mô tả sơ lược hoặc tiến hành trên phạm vi hẹp ở một vài cửa sông, thiếu hẳn các nghiên cứu đồng bộ về đặc điểm địa hóa môi trường nước và trầm tích tầng mặt toàn vịnh, trầm tích bãi triều theo chiều sâu, cũng như chưa định lượng được nguồn gốc vật chất hữu cơ và vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn đối với vịnh.
Mục tiêu chung của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề địa hóa môi trường bao gồm sự phân bố của các nguyên tố vi lượng và vật chất hữu cơ trong nước và trầm tích khu vực vịnh Tiên Yên, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc định hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.
Luận án đặt ra 5 nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến địa hóa môi trường khu vực vịnh Tiên Yên, đặc biệt là yếu tố địa hình và thủy - hải văn khống chế sự phân bố trầm tích, vật chất hữu cơ và nguyên tố vi lượng.
- Đánh giá các đặc điểm trầm tích tầng mặt trong mối liên quan với khả năng lưu giữ các nguyên tố vi lượng, đặc trưng trầm tích tầng sâu bãi triều, đặc điểm pH, Eh trong nước và trầm tích.
- Nghiên cứu sự phân bố của các nguyên tố vi lượng trong môi trường nước và trầm tích tầng mặt, tầng sâu bãi triều, đánh giá mức độ tích lũy và mức độ ô nhiễm các nguyên tố vi lượng trong nước và trầm tích.
- Nghiên cứu sự phân bố và nguồn gốc của vật chất hữu cơ trong trầm tích tầng mặt và tầng sâu bãi triều, vai trò của rừng ngập mặn trong việc cung cấp vật chất hữu cơ và xây dựng lại điều kiện cổ môi trường lắng đọng trầm tích.
- Trên cơ sở nghiên cứu địa hóa môi trường, đề xuất định hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường khu vực vịnh Tiên Yên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Môi trường nước biển, trầm tích tầng mặt và trầm tích tầng sâu bãi triều tại khu vực vịnh Tiên Yên; các nguyên tố vi lượng và các chỉ số địa hóa hữu cơ (TOC, TN, tỉ số TOC/TN, đồng vị bền $\delta^{13}\text{C}$).
- Phạm vi không gian: Tọa độ từ $21^\circ 07'24''$ đến $21^\circ 27'27''$ vĩ độ Bắc và $107^\circ 23'58''$ đến $107^\circ 52'57''$ kinh độ Đông. Khu vực nghiên cứu bao gồm phần ngập nước thường xuyên của vịnh Tiên Yên (khoảng 400 $\text{km}^2$), đới bãi triều ven bờ thuộc các huyện Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và phần biển bên ngoài các đảo chắn (Cái Bầu, Vạn Vược, Vạn Nước, Cái Chiên, Vĩnh Thực) ra đến độ sâu khoảng 30 m nước.
- Phạm vi thời gian: Tài liệu thực địa và mẫu vật phân tích được khảo sát và thu thập trực tiếp trong giai đoạn 2007 - 2011 qua ba đợt công tác thực địa (tháng 7/2007, tháng 1/2008 và tháng 6/2009). Thí nghiệm phân tích trong phòng thực hiện trong giai đoạn 2008 - 2009.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trên thế giới, nghiên cứu địa hóa môi trường bắt đầu được chú ý sau khi Kothny đưa ra danh từ "Environmental Geochemistry" vào năm 1971. Nhiều công trình nghiên cứu về hành vi địa hóa và tích tụ nguyên tố vi lượng trong trầm tích đới bờ đã được triển khai tại các vịnh như vịnh Newark (Hoa Kỳ) của Bonnevie và cộng sự (1994), vịnh Manila (Philippines), vịnh Hạ Môn (Trung Quốc), vịnh Taranto (Italy), vịnh Izmit và vịnh Saros (Thổ Nhĩ Kỳ). Các nghiên cứu này chỉ rõ quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ven bờ làm gia tăng hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích đáy. Bên cạnh đó, việc áp dụng tỉ số đồng vị bền $\delta^{13}\text{C}$ và $\delta^{15}\text{N}$ kết hợp với TOC và TN để xác định nguồn gốc vật chất hữu cơ và tái hiện cổ môi trường lắng đọng đã được áp dụng rộng rãi tại vịnh Lăng Đinh (Trung Quốc), vịnh Trieste (Italy) và vịnh Papua (Papua New Guinea).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu địa chất và địa hóa biển được tiến hành sơ bộ từ năm 1922 và phát triển thành các chương trình điều tra tổng hợp biển cấp nhà nước giai đoạn 1976 - 1990. Từ năm 1990 trở lại đây, các nghiên cứu chuyên sâu về địa hóa môi trường biển được triển khai bởi Mai Trọng Nhuận và các cộng sự thông qua các chương trình điều tra đới ven bờ 0 - 30 m nước (1990 - 2001), điều tra địa chất môi trường vùng biển Nam Trung Bộ, lập bản đồ địa chất môi trường Hải Phòng - Quảng Ninh (2007), và đề tài KC.05/06-10 đánh giá tài nguyên môi trường các vịnh trọng điểm (Tiên Yên, Cam Ranh). Tại khu vực vịnh Tiên Yên, các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thị Thục Anh (2006) mới chỉ khảo sát trầm tích bãi triều ở độ sâu 0,6 m tại cửa sông Ba Chẽ và Hà Cối; các nghiên cứu khác chỉ phục vụ quy hoạch nuôi trồng thủy sản cục bộ cấp huyện. Ứng dụng đồng vị bền $\delta^{13}\text{C}$ xác định nguồn gốc hữu cơ ven bờ tại Việt Nam chỉ mới bắt đầu ở cửa Ba Lạt bởi Nguyễn Tài Tuệ và cộng sự (2008 - 2011).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
- Thiếu nghiên cứu hệ thống và toàn diện về địa hóa môi trường nước và trầm tích tầng mặt trên toàn bộ diện tích không gian của vịnh Tiên Yên và vùng biển kế cận bên ngoài đảo chắn.
- Thiếu dữ liệu địa hóa theo chiều sâu của các tập trầm tích bãi triều nhằm làm rõ quá trình tích lũy kim loại và lịch sử lắng đọng trầm tích.
- Chưa có nghiên cứu định lượng nguồn gốc vật chất hữu cơ và vai trò cung cấp sinh khối của rừng ngập mặn đối với hệ sinh thái vịnh bằng phương pháp đồng vị bền $\delta^{13}\text{C}$ kết hợp tỉ số TOC/TN.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên 4 cách tiếp cận phương pháp luận: tiếp cận hệ thống, tiếp cận phát triển bền vững, tiếp cận sinh thái học và tiếp cận tích hợp - liên ngành giữa khoa học địa chất, khoa học môi trường và khoa học xã hội.
Các khái niệm, chỉ số và mô hình địa hóa được sử dụng:
- Hệ số tích lũy ($T$): Do Mai Trọng Nhuận (2001) đề xuất: $T = C_{tb} / C_n$ ($C_{tb}$ là hàm lượng trung bình khu vực, $C_n$ là hàm lượng nền). Trong môi trường nước biển gọi là hệ số Talasofil ($Ta$), trong môi trường trầm tích gọi là hệ số tập trung ($Td$). Luận án sử dụng hàm lượng trung bình của các nguyên tố trong nước và trầm tích biển nông thế giới theo Vinogradov (1967) làm nền so sánh. Phân cấp: $T < 1$ (không tập trung), $1 < T \le 3$ (tập trung trung bình), $T > 3$ (tập trung cao).
- Hệ số nhiễm bẩn ($CF$) và Chỉ số tải ô nhiễm ($PLI$): Theo Müller (1979), $CF = C_m / C_n$; $PLI = \sqrt[n]{CF_1 \times CF_2 \times \dots \times CF_n}$. Mức độ ô nhiễm gồm 5 cấp ($PLI < 1$: không ô nhiễm; $1 < PLI < 3$: ô nhiễm nhẹ; $3 < PLI < 12$: ô nhiễm trung bình; $12 < PLI < 48$: ô nhiễm nặng; $PLI > 48$: ô nhiễm rất nặng).
- Hệ số địa tích lũy ($I_{geo}$): Theo Müller (1979): $I_{geo} = \log_2 [C_n / (1,5 \times B_n)]$, với $B_n$ là hàm lượng nền trong đá phiến sét thế giới của Turekian và Wedepohl (1961), hệ số 1,5 dùng để triệt tiêu biến thiên nền tự nhiên.
- Quy chuẩn so sánh chất lượng: QCVN 10:2008/BTNMT cho nước biển; Hướng dẫn tạm thời đánh giá chất lượng trầm tích của Canada (ISQGs và PEL).
- Đồng vị bền $\delta^{13}\text{C}$ và tỉ số TOC/TN: Thực vật C3 lục địa và rừng ngập mặn có $\delta^{13}\text{C} \approx -27‰$, TOC/TN > 20; thực vật phù du biển có $\delta^{13}\text{C}$ dao động từ $-20‰$ đến $-22‰$, TOC/TN từ 4 đến 7; thực vật C4 có $\delta^{13}\text{C} \approx -14‰$. Luận án sử dụng mô hình hỗn hợp hai nguồn (two-source mixing model) để tính tỉ lệ đóng góp của vật chất hữu cơ rừng ngập mặn ($f_T$) và biển ($f_M$):
$$f_T = \frac{\delta^{13}\text{C}_S - \delta^{13}\text{C}_M}{\delta^{13}\text{C}_T - \delta^{13}\text{C}_M} \quad \text{và} \quad f_M = 1 - f_T$$
Phương pháp thực nghiệm, phân tích và nguồn số liệu:
- Thu thập mẫu thực địa:
- Đợt 1 (7/2007): 120 mẫu nước (80 mẫu tầng mặt, 20 mẫu tầng đáy, 20 mẫu quan trắc chu kỳ triều) và 36 mẫu trầm tích tầng mặt (lấy bằng gàu inox). Đo trực tiếp pH, Eh trong nước bằng máy WQC-22A (DDK-TOA, Nhật Bản).
- Đợt 2 (1/2008): 3 cột mẫu trầm tích bãi triều bằng ống nhựa PVC $\varnothing 90$ mm tại xã Đồng Rui (C1, bờ phải sông Tiên Yên), xã Đầm Hà (C2, bờ phải sông Đầm Hà) và cồn đảo xã Tiến Tới (C3, cửa sông Đường Hoa). Cắt lát mẫu với bề dày 2 cm/mẫu, gọt bỏ phần biên bằng dao vòng.
- Đợt 3 (6/2009): 6 mẫu POM (lọc qua màng Whatman GF/F 0,45 $\mu\text{m}$, $\varnothing 47$ mm) và mẫu lá sú vẹt tại 3 vị trí trên.
- Phân tích độ hạt: Sử dụng phương pháp kết hợp rây khô/ướt và ống hút pipet (4 cấp hạt mịn ứng với các khoảng thời gian 40 giây, 16 phút, 59 phút và 15 giờ; cấp hạt thô qua các rây $2,0 - 0,063$ mm), xử lý số liệu độ hạt bằng phần mềm MDH (Đàm Quang Minh, 2001) để tính kích thước hạt trung bình (Md) và hệ số chọn lọc (So). Phân tích tổng số 121 mẫu.
- Phân tích nguyên tố vi lượng: Phá mẫu bằng hệ thống vi sóng (Microwave Digestion System Model 7295, OI Analytical) với hỗn hợp axit đặc $\text{HNO}_3 + \text{H}_2\text{SO}_4$. Đo hàm lượng 13 nguyên tố vi lượng trong trầm tích (Ni, Co, V, Cd, Cu, Mn, Mo, Cr, Pb, Zn, As, Hg, Sb) và 7 nguyên tố vi lượng trong nước (Cu, Sb, Mn, Zn, Cd, Hg, Pb) bằng khối phổ plasma cảm ứng (ICP-MS Elan 9000, PerkinElmer). Phân tích riêng As trong nước biển bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS AA-6800, Shimadzu) kỹ thuật hydrua hóa.
- Phân tích TOC, TN và $\delta^{13}\text{C}$: Xử lý mẫu bột trầm tích bằng $\text{HCl } 1\text{N}$ để loại bỏ carbonat vô cơ, ly tâm 3.000 vòng/phút, rửa sạch bằng nước Milli-Q. Đo trên máy khối phổ tỉ số đồng vị (IRMS ANCA-SL, PDZ Europa Ltd.) tại Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Biển (CMES), Đại học Ehime, Nhật Bản. Mẫu chuẩn là Histidine và chuẩn quốc tế Pee Dee Belemnite (PDB). Phân tích tổng số 117 mẫu.
- Xử lý số liệu và mô hình hóa không gian: Phần mềm SPSS 16 (thống kê mô tả, phân tích tương quan Pearson, tương quan riêng phần, ANOVA, phân tích chùm có thứ bậc - Cluster analysis, phân tích thành phần chính - PCA); phần mềm MapInfo 9.0 kết hợp Vertical Mapper 3.0 và OriginLab 7.5.
| Hạng mục đối tượng |
Khối lượng mẫu |
Chỉ tiêu phân tích chính |
Thiết bị / Kỹ thuật phân tích |
Địa điểm thí nghiệm |
| Trầm tích tầng mặt |
36 mẫu |
13 nguyên tố vi lượng |
ICP-MS Elan 9000 |
PTN Hóa vật liệu, ĐHKHTN Hà Nội |
| Trầm tích cột bãi triều |
82 mẫu (C1: 29; C2: 34; C3: 19) |
13 nguyên tố vi lượng |
ICP-MS Elan 9000 |
PTN Hóa vật liệu, ĐHKHTN Hà Nội |
| Trầm tích (mặt và cột) |
117 mẫu |
TOC, TN, $\delta^{13}\text{C}$ |
IRMS ANCA-SL (PDZ Europa) |
CMES, Đại học Ehime, Nhật Bản |
| Trầm tích (mặt và cột) |
121 mẫu |
Cấp hạt mịn, cát, bùn, Md, So |
Phương pháp rây và pipet, phần mềm MDH |
PTN Trầm tích, Khoa Địa chất, ĐHKHTN |
| Nước biển |
120 mẫu (mặt, đáy, triều) |
8 nguyên tố (7 ICP-MS, As AAS) |
ICP-MS Elan 9000, AAS AA-6800 |
PTN Hóa vật liệu, ĐHKHTN Hà Nội |
| Nước biển tại hiện trường |
86 trạm |
Độ muối, pH, Eh |
Máy đo WQC-22A (DDK-TOA) |
Thực địa vịnh Tiên Yên |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lịch sử nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày tổng quan lịch sử nghiên cứu địa hóa môi trường các vũng vịnh trên thế giới và tại Việt Nam; hệ thống hóa phương pháp luận, cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận sinh thái học, phát triển bền vững và phương pháp liên ngành. Chương 1 làm rõ quy trình lấy mẫu thực địa (nước biển, trầm tích tầng mặt, cột trầm tích bãi triều bằng ống PVC, mẫu màng lọc POM), quy trình phá mẫu bằng vi sóng, quy trình loại bỏ carbonat bằng axit $\text{HCl } 1\text{N}$, các quy chuẩn kỹ thuật phân tích dụng cụ (ICP-MS, AAS hydrua hóa, IRMS) và hệ phương pháp toán thống kê địa hóa (SPSS 16) cùng kỹ thuật thành lập bản đồ địa hóa chuyên đề (MapInfo 9.0, Vertical Mapper 3.0). Tác giả thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá bao gồm hệ số Talasofil ($Ta$), hệ số tập trung ($Td$), hệ số địa tích lũy ($I_{geo}$ theo chuẩn đá phiến sét của Turekian và Wedepohl), hệ số nhiễm bẩn ($CF$), và chỉ số tải ô nhiễm ($PLI$).
Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc trưng địa hóa môi trường nước và trầm tích khu vực vịnh Tiên Yên
Chương 2 phân tích đặc điểm các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội khống chế trường địa hóa khu vực:
- Đặc điểm địa hình, địa mạo: Phân hóa thành các đơn vị sườn xâm thực - rửa trôi (độ dốc trung bình khoảng $15^\circ$), phức hệ thềm biển Đệ tứ, bề mặt tích tụ nguồn gốc biển Holocen muộn ($Q_2^3$), bãi triều cao phủ rừng ngập mặn bị chia cắt bởi lạch triều, các trũng xâm thực do dòng triều tại các cửa vịnh (Cửa Đại, Cửa Tiểu, Cửa Mô) và bề mặt tích tụ đáy vịnh cấu tạo bởi bùn cát và cát.
- Đặc điểm khí hậu và thủy - hải văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình năm (2004 - 2009) đạt 2.316,7 mm, tập trung vào tháng 6 đến tháng 9; nhiệt độ không khí trung bình năm $23^\circ\text{C}$ (tháng 1 thấp nhất $15,5^\circ\text{C}$, tháng 7 - 8 cao nhất $27 - 28^\circ\text{C}$). Chế độ nhật triều thuần nhất với biên độ triều lớn (lớn nhất đạt 4,0 m, có 101 ngày trong năm biên độ vượt 3,5 m). Dòng triều rút mùa lũ đạt trên 1,0 m/s; tốc độ dòng chảy trong vịnh nhỏ (6 - 10 cm/s), tăng cao tại các cửa thoát nước như Cửa Đại (49,3 cm/s) và Cửa Mô (74,2 cm/s).
| Hệ thống sông |
Diện tích lưu vực ($\text{km}^2$) |
Chiều dài sông (km) |
Độ dốc lưu vực bình quân (%) |
Mật độ sông suối ($\text{km}/\text{km}^2$) |
Tổng lượng dòng chảy năm ($\text{km}^3$) |
| Sông Tiên Yên |
1.070 |
82,0 |
28,1 |
1,34 - 1,46 |
1,10 |
| Sông Ba Chẽ |
978 |
78,5 |
15,4 |
1,11 |
0,96 |
| Sông Hà Cối |
206 |
32,0 |
22,5 |
1,54 |
— |
| Sông Đầm Hà |
106 |
25,0 |
18,5 |
1,16 |
— |
- Đặc tính lý hóa nước biển: Khảo sát trên 86 mẫu nước mặt cho thấy độ muối tương đối cao và đồng nhất (trung bình 31,3 ‰), có sự suy giảm cục bộ tại vùng cửa sông (cửa sông Hà Cối 10,4 ‰; cửa sông Tiên Yên 28,3 ‰); môi trường kiềm yếu với pH trung bình 8,25 (biến thiên 6,85 - 8,30); thế oxy hóa khử Eh trung bình 122 mV (biến thiên 120 - 135 mV), thể hiện môi trường oxy hóa yếu.
| Tham số thống kê ($n = 86$) |
Độ muối (‰) |
pH |
Eh (mV) |
| Giá trị trung bình |
31,3 |
8,25 |
122 |
| Trung vị |
31,2 |
8,24 |
122 |
| Độ lệch tiêu chuẩn (SD) |
0,79 |
0,03 |
1,04 |
| Hệ số biến phân ($V$, %) |
3,0 |
0 |
1,0 |
| Giá trị nhỏ nhất ($C_{min}$) |
10,4 |
6,85 |
120 |
| Giá trị lớn nhất ($C_{max}$) |
32,9 |
8,30 |
135 |
| Phân vị 25% |
30,7 |
8,23 |
122 |
| Phân vị 75% |
31,7 |
8,27 |
123 |
Chương 3: Đặc điểm địa hóa môi trường các nguyên tố vi lượng trong nước và trầm tích khu vực vịnh Tiên Yên
Chương 3 công bố các số liệu phân tích định lượng nguyên tố vi lượng trong hai môi trường:
- Trong môi trường nước biển: Khảo sát 8 nguyên tố (Cu, Sb, Mn, As, Zn, Cd, Hg, Pb) trên 80 mẫu nước tầng mặt và các mẫu tầng đáy. Hàm lượng các nguyên tố đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 10:2008/BTNMT đối với vùng bãi tắm và nuôi trồng thủy sản. Môi trường nước biển chưa bị ô nhiễm bởi các nguyên tố vi lượng. Hệ số Talasofil ($Ta$) cho thấy hầu hết các nguyên tố không tập trung trong nước biển so với chuẩn đại dương thế giới, ngoại trừ một số điểm ven bờ có biểu hiện tích lũy nhẹ Pb và Sb do ảnh hưởng giao thông thủy và rửa trôi đất đá lục địa.
- Trong trầm tích tầng mặt (36 trạm): Phân tích 13 nguyên tố vi lượng (Ni, Co, V, Cd, Cu, Mn, Mo, Cr, Pb, Zn, As, Hg, Sb). Hàm lượng các nguyên tố có quy luật phân bố rõ rệt: giảm dần từ phía trong vịnh ra phía biển hở ngoài đảo chắn, đồng thời tăng dần từ phía đông bắc xuống phía tây nam. Phân tích ma trận tương quan Pearson, tương quan riêng phần và phân tích phương sai đa nhân tố chứng minh hàm lượng các nguyên tố vi lượng phụ thuộc thuận chặt chẽ với tỉ lệ cấp hạt mịn (bùn $< 0,063$ mm) và hàm lượng tổng carbon hữu cơ (TOC). Địa hình trũng kín và động lực dòng chảy yếu phía tây nam thúc đẩy sự lắng đọng vật liệu hạt mịn giàu hữu cơ, kéo theo sự tích lũy kim loại.
- Trong các tập trầm tích bãi triều (C1, C2, C3): Hàm lượng các nguyên tố vi lượng biến đổi mạnh theo chiều thẳng đứng nhưng luôn đồng biến với hàm lượng bùn mịn và TOC.
- Đánh giá mức độ ô nhiễm trầm tích: So sánh với tiêu chuẩn ISQGs và PEL của Canada cho thấy một số trạm có hàm lượng As và Cu vượt ngưỡng ISQGs. Đánh giá bằng hệ số địa tích lũy ($I_{geo}$) với nền đá phiến sét Turekian & Wedepohl (1961) và chỉ số tải ô nhiễm ($PLI$) chỉ ra rằng trầm tích vịnh Tiên Yên ở trạng thái từ không ô nhiễm đến ô nhiễm nhẹ/trung bình bởi As, Sb, Pb. Quá trình ô nhiễm có nguồn gốc chủ yếu từ tự nhiên (phong hóa, rửa trôi từ các thành tạo địa chất lục địa giàu sulfide và khoáng hóa chứa quặng trên lưu vực sông Tiên Yên, Ba Chẽ, Đầm Hà) kết hợp với điều kiện lắng đọng trầm tích hạt mịn yếm khí tại bãi triều.
Chương 4: Đặc điểm địa hóa hữu cơ trầm tích khu vực vịnh Tiên Yên
Chương 4 tập trung giải quyết bài toán nguồn gốc vật chất hữu cơ bằng chỉ thị phân tử và đồng vị bền:
- Phân bố TOC và TN trong trầm tích tầng mặt: TOC dao động mạnh, đạt giá trị cao nhất tại các bãi triều có rừng ngập mặn phát triển và giảm dần ra vùng nước sâu giữa vịnh và ngoài đảo. TN có xu hướng phân bố tương đồng với TOC. Quan hệ tuyến tính giữa TN và TOC có hệ số tương quan rất cao và đường hồi quy đi qua sát gốc tọa độ, chứng minh nitơ vô cơ ($N_{vc}$) trong trầm tích chiếm tỉ lệ không đáng kể, cho phép sử dụng tỉ số TOC/TN để truy nguyên nguồn gốc hữu cơ.
- Nhận diện nguồn gốc bằng tỉ số TOC/TN và $\delta^{13}\text{C}$:
- Mẫu lá sú biển có $\delta^{13}\text{C}$ đặc trưng khoảng $-27‰$ đến $-28‰$, TOC/TN > 20 (thực vật C3 điển hình).
- Trầm tích bãi triều rừng ngập mặn có $\delta^{13}\text{C}$ dao động từ $-25‰$ đến $-27‰$, tỉ số TOC/TN cao (15 - 22), chứng minh nguồn gốc hữu cơ tại chỗ từ sinh khối rừng ngập mặn chiếm ưu thế tuyệt đối.
- Trầm tích giữa vịnh và vùng biển ngoài đảo có $\delta^{13}\text{C}$ tăng lên mức $-21‰$ đến $-23‰$, tỉ số TOC/TN giảm xuống 6 - 10, phản ánh sự chiếm ưu thế của vật chất hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật phù du biển.
- Mô hình pha trộn hai nguồn: Áp dụng mô hình tính toán cho thấy tỉ lệ vật chất hữu cơ có nguồn gốc từ rừng ngập mặn đạt từ 70% đến hơn 90% ở đới bãi triều ven bờ, giảm dần xuống dưới 30% ở trung tâm vịnh và chỉ còn dưới 10% ở vùng biển hở bên ngoài đảo chắn. Rừng ngập mặn giữ vai trò cung cấp vật chất hữu cơ nền tảng nhưng sinh khối hữu cơ này chủ yếu được lưu giữ, chôn vùi tại chỗ ở vùng ven bờ và đáy vịnh do cấu trúc vịnh kín và động lực dòng chảy yếu, rất ít bị vận chuyển thoát ra ngoài khơi.
- Biến động vật chất hữu cơ theo chiều sâu cột trầm tích bãi triều: Dọc theo các cột khoan C1 (Đồng Rui), C2 (Đầm Hà), C3 (Đường Hoa), các pha chuyển biến giữa tỉ số TOC/TN và giá trị $\delta^{13}\text{C}$ là chỉ báo phản ánh lịch sử tiến hóa môi trường: phân biệt rõ rệt giữa trầm tích bãi trên triều (giàu hữu cơ lục địa/rừng ngập mặn, $\delta^{13}\text{C}$ âm sâu, TOC/TN cao) và bãi gian triều (tăng cường ảnh hưởng của sinh vật biển, $\delta^{13}\text{C}$ dương hơn, TOC/TN thấp). Quy luật này phản ánh rõ nét các chu kỳ nâng cao và hạ thấp của mực nước biển tương đối trong quá khứ tại đới bờ Tiên Yên.
Chương 5: Định hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên khu vực vịnh Tiên Yên trên cơ sở nghiên cứu địa hóa môi trường
Từ các dữ liệu địa hóa môi trường nước, trầm tích và sinh thái hữu cơ, tác giả xây dựng định hướng không gian và giải pháp kỹ thuật quản trị đới bờ:
- Phân vùng chức năng môi trường vịnh Tiên Yên: Dựa trên sức chịu tải môi trường, tính nhạy cảm sinh thái và đặc trưng phân bố địa hóa, luận án đề xuất cấu trúc phân vùng chức năng môi trường gồm 4 vùng:
- Vùng bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái: Toàn bộ diện tích rừng ngập mặn tự nhiên tập trung tại Đồng Rui, cửa sông Tiên Yên, Đầm Hà; bảo tồn bãi đẻ thủy sản và các loài đặc sản (sá sùng, bông thùa).
- Vùng đệm sinh thái và hạn chế phát triển: Vành đai chuyển tiếp ven bãi triều cao và rừng ngập mặn tái sinh, kiểm soát chặt chẽ việc đào đắp đầm nuôi trồng thủy sản.
- Vùng sử dụng phát triển kinh tế biển: Vùng nước sâu đáy vịnh và các luồng lạch chính phục vụ giao thông thủy, cảng biển và quy hoạch nuôi hải sản lồng bè có kiểm soát mật độ.
- Vùng biển bên ngoài các đảo chắn: Khai thác hải sản xa bờ, phát triển du lịch sinh thái biển đảo (Cái Chiên, Vĩnh Thực).
- Hệ thống giải pháp thực hiện: Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:
- Tăng cường luật pháp và chính sách quản lý tài nguyên đới bờ.
- Áp dụng mô hình đồng quản lý tài nguyên môi trường dựa vào cộng đồng địa phương.
- Triển khai phương thức quản lý tổng hợp đới bờ (ICM).
- Giải pháp khoa học công nghệ: thiết lập mạng lưới quan trắc định kỳ địa hóa trầm tích, kiểm soát nguồn thải kim loại từ các sông đổ vào vịnh, áp dụng công nghệ xử lý nước thải đầm nuôi tôm công nghiệp.
- Giải pháp tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng ven biển.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án:
- Đóng góp lý luận:
- Luận điểm 1: Xác định được quy luật phân bố của các nguyên tố vi lượng trong trầm tích tầng mặt vịnh Tiên Yên có xu thế giảm dần từ trong vịnh ra phía biển ngoài khơi, tăng dần từ phía đông bắc xuống phía tây nam; quy luật này phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm trầm tích (tỉ lệ cấp hạt mịn $< 0,063$ mm), hàm lượng TOC, địa hình lòng vịnh và chế độ thủy động lực. Môi trường nước biển chưa bị ô nhiễm, trong khi trầm tích tầng mặt và tầng sâu bãi triều đã bị tích lũy và ô nhiễm cục bộ một số nguyên tố (As, Sb, Pb) do các yếu tố địa chất tự nhiên chi phối là chủ yếu.
- Luận điểm 2: Làm rõ quy luật vật chất hữu cơ từ rừng ngập mặn có xu thế giảm dần từ bãi triều ra giữa vịnh và hầu như bị giữ lại trong bãi triều và đáy vịnh kín, ít bị cuốn trôi ra khỏi vịnh; chứng minh sự biến đổi tỉ số TOC/TN và giá trị đồng vị bền $\delta^{13}\text{C}$ theo chiều sâu các tập trầm tích bãi triều là chỉ thị phân biệt môi trường bãi trên triều với bãi gian triều, đồng thời phản ánh các chu kỳ dao động mực nước biển tương đối trong quá trình lắng đọng trầm tích tại vịnh Tiên Yên.
- Ứng dụng thành công phương pháp phân tích đồng vị bền carbon $\delta^{13}\text{C}$ kết hợp tỉ số TOC/TN vào nghiên cứu địa hóa hữu cơ và cổ môi trường trầm tích ven biển Việt Nam.
- Đóng góp thực tiễn:
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước và mức độ tích lũy kim loại trong trầm tích, chứng minh vai trò cung cấp dinh dưỡng và tích trữ carbon sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn Đồng Rui - Tiên Yên.
- Đề xuất cơ sở khoa học địa hóa môi trường phục vụ quy hoạch phân vùng chức năng không gian sử dụng biển và bãi triều vịnh Tiên Yên.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp tổng thể (chính sách, quản lý cộng đồng, quản lý tổng hợp đới bờ, khoa học kỹ thuật và giáo dục môi trường) nhằm giảm thiểu ô nhiễm và sử dụng bền vững tài nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Mạng lưới lấy mẫu cột trầm tích tầng sâu mới chỉ thực hiện được tại 3 bãi triều đại diện (Đồng Rui - C1, Đầm Hà - C2, Đường Hoa - C3) mà chưa phủ kín được tất cả các cửa sông đổ vào vịnh.
- Số liệu đo đạc cổ môi trường và dao động mực nước biển tương đối mới dựa trên chỉ thị $\delta^{13}\text{C}$, TOC/TN và trầm tích học mà chưa có sự đối chiếu với dữ liệu tuổi tuyệt đối carbon phóng xạ ($^{14}\text{C}$) cho từng lát mẫu của các cột trầm tích.
- Khảo sát các thông số lý hóa và nguyên tố vi lượng trong nước biển tập trung chủ yếu vào mùa hè (tháng 7/2007) và trạm quan trắc triều ngắn hạn, thiếu chuỗi quan trắc liên tục đa thời gian trong nhiều năm để đánh giá biến thiên mùa khô rõ nét hơn.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Bổ sung định tuổi tuyệt đối ($^{14}\text{C}$, $^{210}\text{Pb}$) cho các cột trầm tích bãi triều để xác định chính xác tốc độ lắng đọng trầm tích và thiết lập biểu đồ thời gian tuyệt đối cho các giai đoạn dao động mực nước biển.
- Mở rộng phân tích đồng vị bền nitơ ($\delta^{15}\text{N}$) nhằm đánh giá chi tiết hơn nguồn thải hữu cơ từ chất thải sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản ven bờ.
- Thiết lập hệ thống trạm quan trắc địa hóa môi trường nước và trầm tích cố định để theo dõi diễn biến phát tán chất ô nhiễm theo mùa và chu kỳ khí hậu nhiều năm.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Địa hóa học, Địa chất biển, Khoa học Môi trường và Quản lý tài nguyên môi trường: Tham khảo khung phương pháp luận nghiên cứu địa hóa đới bờ, quy trình phá mẫu vi sóng, phương pháp phân tích nguyên tố vi lượng bằng ICP-MS, kỹ thuật phân tích độ hạt rây - pipet, và phương pháp tách lọc carbonat đo $\delta^{13}\text{C}$, TOC, TN bằng IRMS.
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban nhân dân các huyện Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà có cơ sở dữ liệu nền về địa hóa môi trường nước, trầm tích tầng mặt và bãi triều để xây dựng quy hoạch không gian biển, phân vùng bảo tồn rừng ngập mặn và cấp phép nuôi trồng thủy sản, phát triển cảng biển.
- Các dự án bảo tồn và biến đổi khí hậu: Các nhà nghiên cứu về biến đổi khí hậu có thể khai thác dẫn liệu về $\delta^{13}\text{C}$ và TOC/TN trong các cột trầm tích bãi triều để so sánh diễn biến mực nước biển và cổ môi trường lắng đọng tại khu vực vịnh Bắc Bộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Môi trường nước biển khu vực vịnh Tiên Yên có bị ô nhiễm bởi các nguyên tố vi lượng hay không?
Không. Kết quả phân tích 8 nguyên tố vi lượng (Cu, Sb, Mn, As, Zn, Cd, Hg, Pb) trên 80 mẫu nước tầng mặt và 20 mẫu nước tầng đáy cho thấy hàm lượng của tất cả các nguyên tố đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 10:2008/BTNMT đối với vùng bãi tắm và vùng nuôi trồng thủy sản. Môi trường nước biển khu vực vịnh Tiên Yên chưa bị ô nhiễm bởi các nguyên tố vi lượng.
2. Trầm tích tầng mặt và bãi triều vịnh Tiên Yên bị ô nhiễm bởi những nguyên tố nào và do nguyên nhân gì?
Trầm tích tầng mặt và tầng sâu bãi triều bị tích lũy và ô nhiễm nhẹ đến trung bình bởi các nguyên tố As, Sb và Pb (theo chỉ số $I_{geo}$ và đối sánh hướng dẫn ISQGs). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ các yếu tố tự nhiên: quá trình phong hóa, rửa trôi quặng hóa và đá giàu sulfide từ lưu vực các sông miền núi ngắn và dốc (Tiên Yên, Ba Chẽ, Đầm Hà) đổ ra vịnh kín, kết hợp với môi trường khử yếu và tỉ lệ cấp hạt mịn ($< 0,063$ mm) cao tạo điều kiện cho các nguyên tố này bị hấp phụ và lưu giữ trong trầm tích.
3. Khối lượng mẫu thực tế mà tác giả đã thu thập và phân tích trong luận án là bao nhiêu?
Tác giả đã trực tiếp thu thập và phân tích: 118 mẫu trầm tích phân tích nguyên tố vi lượng bằng ICP-MS (36 mẫu tầng mặt, 29 mẫu cột C1, 34 mẫu cột C2, 19 mẫu cột C3); 117 mẫu trầm tích phân tích TOC, TN và $\delta^{13}\text{C}$ bằng IRMS (36 mẫu tầng mặt, 75 mẫu cột bãi triều, 6 mẫu POM và lá sú vẹt); 121 mẫu phân tích độ hạt (36 mẫu tầng mặt, 85 mẫu cột); kế thừa và phân tích 120 mẫu nước (80 mẫu mặt, 20 mẫu đáy, 20 mẫu trạm quan trắc triều) từ Đề tài KC.05/06-10; cùng 86 trạm đo các thông số lý hóa nước tại hiện trường (độ muối, pH, Eh).
4. Dựa vào những tiêu chí nào tác giả xác định được nguồn gốc vật chất hữu cơ trong trầm tích vịnh Tiên Yên?
Tác giả dựa vào sự kết hợp giữa tỉ số khối lượng TOC/TN và giá trị tỉ số đồng vị bền carbon ($\delta^{13}\text{C}$):
- Vật chất hữu cơ từ rừng ngập mặn và thực vật C3 trên cạn có $\delta^{13}\text{C}$ âm sâu (khoảng $-27‰$ đến $-28‰$) và tỉ số TOC/TN cao (> 20).
- Vật chất hữu cơ từ thực vật phù du biển có $\delta^{13}\text{C}$ dương hơn (khoảng $-20‰$ đến $-22‰$) và tỉ số TOC/TN thấp (4 đến 7).
Hàm lượng nitơ vô cơ ($N_{vc}$) trong trầm tích đã được kiểm chứng là không đáng kể qua tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa TN và TOC cắt gần gốc tọa độ. Tác giả áp dụng mô hình pha trộn hai nguồn để định lượng tỉ lệ đóng góp của từng nguồn.
5. Hai luận điểm bảo vệ cốt lõi của luận án khẳng định điều gì?
- Luận điểm 1: Hàm lượng nguyên tố vi lượng trong trầm tích tầng mặt giảm dần từ trong vịnh ra ngoài biển, tăng dần từ đông bắc xuống tây nam, phụ thuộc chủ yếu vào trầm tích hạt mịn, hàm lượng TOC, địa hình và động lực vịnh; nước biển chưa ô nhiễm nhưng trầm tích mặt và bãi triều ô nhiễm cục bộ một số nguyên tố do nguyên nhân tự nhiên là chính.
- Luận điểm 2: Vật chất hữu cơ từ rừng ngập mặn giảm dần từ bãi triều ra giữa vịnh và hầu hết bị giữ lại trong vịnh kín; sự biến thiên tỉ số TOC/TN và giá trị $\delta^{13}\text{C}$ theo chiều sâu bãi triều là chỉ thị phân biệt môi trường bãi trên triều với bãi gian triều, đồng thời phản ánh sự biến động mực nước biển tương đối theo thời gian lắng đọng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trần Đăng Quy đã làm sáng tỏ một cách toàn diện đặc điểm địa hóa môi trường nước và trầm tích khu vực vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Công trình xác lập quy luật phân bố, kiểm soát động lực của các nguyên tố vi lượng và định lượng thành công nguồn gốc vật chất hữu cơ thông qua phương pháp đồng vị bền $\delta^{13}\text{C}$ kết hợp tỉ số TOC/TN. Kết quả nghiên cứu khẳng định trầm tích bãi triều và đáy vịnh là bồn lưu giữ vật chất hữu cơ và kim loại có nguồn gốc tự nhiên từ lục địa, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ phân vùng chức năng môi trường và hoạch định giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên đới bờ vịnh Tiên Yên.