Nghiên Cứu Thực Trạng và Đề Xuất Sử Dụng Đất Ổn Định Dân Cư Biên Giới Tỉnh Cao Bằng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng đất phục vụ ổn định dân cư biên giới trên địa bàn tỉnh cao, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

253
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. Lời cam đoan

1.2. Mục lục

1.3. Danh mục chữ viết tắt

1.4. Danh mục bảng

1.5. Danh mục hình

1.6. Trích yếu luận án

1.6.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.6.2. Mục tiêu của đề tài

1.6.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.6.3.1. Đối tượng nghiên cứu
1.6.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.6.4. Những đóng góp mới của đề tài

1.6.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.6.5.1. Ý nghĩa khoa học
1.6.5.2. Ý nghĩa thực tiễn

1.7. Tổng quan tài liệu

1.7.1. Cơ sở lý luận về sử dụng đất phục vụ ổn định dân cư biên giới

1.7.1.1. Cơ sở lý luận về sử dụng đất đai
1.7.1.2. Sử dụng đất

1.7.2. Chính sách ổn định dân cư vùng biên giới của các tổ chức quốc tế và một số nước trên thế giới

1.7.2.1. Một số khái niệm về phân bố dân cư
1.7.2.2. Chính sách ổn định dân cư vùng biên giới của các tổ chức quốc tế
1.7.2.3. Bài học kinh nghiệm quốc tế về chính sách ổn định dân cư vùng biên giới

1.7.3. Chính sách ổn định dân cư vùng biên giới của Việt Nam

1.7.3.1. Chính sách pháp luật về phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc thiểu số và ổn định dân cư vùng biên giới
1.7.3.2. Chính sách định canh định cư, ổn định dân cư

1.7.4. Tình hình thực hiện ổn định dân cư vùng biên giới Việt Trung giai đoạn 2005 - 2019

1.7.5. Định hướng nghiên cứu

1.7.6. Nhận xét về tổng quan tài liệu

1.8. Khung logic nghiên cứu

1.9. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

1.9.1. Nội dung nghiên cứu

1.9.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng và vùng Biên giới Việt Trung

1.9.3. Thực trạng sử dụng đất và ổn định dân cư vùng biên giới Cao Bằng

1.9.4. Đánh giá một số đề án mô hình ổn định dân cư biên giới tỉnh Cao Bằng

1.9.5. Đề xuất bố trí và giải pháp ổn định dân cư biên giới tỉnh Cao Bằng

1.9.6. Phương pháp nghiên cứu

1.9.6.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
1.9.6.2. Phương pháp điều tra, thu thập thông tin
1.9.6.3. Phương pháp áp dụng thang đo Likert để đánh giá
1.9.6.4. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
1.9.6.5. Phương pháp sử dụng công nghệ GIS thành lập bản đồ
1.9.6.6. Phương pháp tham vấn chuyên gia

1.10. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1.10.1. Đặc điểm Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng và vùng biên giới Việt - Trung

1.10.1.1. Đặc điểm chung tỉnh Cao Bằng
1.10.1.2. Đặc điểm vùng biên giới Việt - Trung tỉnh Cao Bằng

1.10.2. Thực trạng sử dụng đất và ổn định dân cư vùng biên giới Cao Bằng

1.10.2.1. Thực trạng sử dụng đất tỉnh Cao Bằng
1.10.2.2. Thực trạng phân bố dân cư biên giới tỉnh Cao Bằng

1.10.3. Đánh giá một số đề án mô hình ổn định dân cư biên giới tỉnh Cao Bằng

1.10.3.1. Mô hình ổn định dân cư có phát triển dịch vụ, cửa khẩu (MH1)
1.10.3.2. Mô hình ổn định dân cư vùng cao, núi đá (MH2)
1.10.3.3. Mô hình ổn định dân cư vùng cao khó khăn (MH3)
1.10.3.4. Mô hình ổn định dân cư xã vùng thấp bằng (MH4)
1.10.3.5. Đánh giá chung về 4 mô hình

1.10.4. Đề xuất sử dụng đất và giải pháp ổn định dân cư biên giới tỉnh Cao Bằng

1.10.4.1. Đề xuất sử dụng đất ổn định dân cư biên giới tỉnh Cao Bằng
1.10.4.2. Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp phục vụ ổn định dân cư biên giới Cao Bằng
1.10.4.3. Đề xuất giải pháp ổn định dân cư biên giới tỉnh Cao Bằng

1.11. Kết luận và đề nghị

Danh mục công trình khoa học công bố liên quan đến luận án

Tài liệu tham khảo

Phần phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Đề Xuất Sử Dụng Đất Tại Cao Bằng

Nghiên cứu đề xuất sử dụng đất ổn định dân cư biên giới tỉnh Cao Bằng là một vấn đề cấp thiết. Tỉnh Cao Bằng, với vị trí địa lý đặc biệt và dân cư chủ yếu là các dân tộc thiểu số, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý và sử dụng đất. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện đời sống người dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực.

1.1. Tình Hình Dân Cư Và Đặc Điểm Địa Lý Tỉnh Cao Bằng

Tỉnh Cao Bằng có địa hình chủ yếu là đồi núi, với nhiều xã biên giới. Dân cư tại đây chủ yếu là các dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ cao. Điều này tạo ra những thách thức trong việc quy hoạch sử dụng đất và ổn định dân cư.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Sử Dụng Đất Ổn Định Dân Cư

Việc sử dụng đất ổn định dân cư không chỉ giúp cải thiện đời sống mà còn đảm bảo an ninh quốc phòng. Đề xuất các mô hình sử dụng đất phù hợp sẽ tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế và xã hội.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Quản Lý Đất Đai Tại Cao Bằng

Quản lý đất đai tại tỉnh Cao Bằng đang gặp nhiều khó khăn. Tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những vấn đề nghiêm trọng. Ngoài ra, việc di cư tự do và tốc độ tăng dân số nhanh cũng gây áp lực lên nguồn tài nguyên đất.

2.1. Thiếu Đất Ở Và Đất Sản Xuất

Nhiều hộ gia đình không có đủ đất ở và đất sản xuất, dẫn đến tình trạng nghèo đói. Việc phân bổ đất không hợp lý cũng là nguyên nhân chính gây ra tình trạng này.

2.2. Tác Động Của Di Cư Tự Do

Di cư tự do làm gia tăng áp lực lên nguồn tài nguyên đất. Nhiều người dân di chuyển đến các khu vực biên giới mà không có kế hoạch sử dụng đất hợp lý, dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đề Xuất Sử Dụng Đất Tại Cao Bằng

Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập dữ liệu và phân tích tình hình sử dụng đất. Các phương pháp này bao gồm khảo sát thực địa, phỏng vấn và sử dụng công nghệ GIS để lập bản đồ.

3.1. Phương Pháp Khảo Sát Thực Địa

Khảo sát thực địa giúp thu thập thông tin chính xác về tình hình sử dụng đất và nhu cầu của người dân. Đây là bước quan trọng để đưa ra các đề xuất hợp lý.

3.2. Sử Dụng Công Nghệ GIS Trong Nghiên Cứu

Công nghệ GIS được sử dụng để lập bản đồ và phân tích dữ liệu không gian. Điều này giúp xác định các khu vực cần ưu tiên trong quy hoạch sử dụng đất.

IV. Đề Xuất Mô Hình Sử Dụng Đất Ổn Định Dân Cư Tại Cao Bằng

Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhiều mô hình sử dụng đất đã được đề xuất nhằm ổn định dân cư tại các xã biên giới. Các mô hình này không chỉ tập trung vào phát triển kinh tế mà còn đảm bảo an sinh xã hội.

4.1. Mô Hình Ổn Định Dân Cư Phát Triển Dịch Vụ

Mô hình này tập trung vào việc phát triển dịch vụ tại các khu vực biên giới, giúp tăng thu nhập cho người dân và cải thiện đời sống.

4.2. Mô Hình Nông Lâm Kết Hợp

Mô hình nông - lâm kết hợp giúp tăng cường độ che phủ rừng và cải thiện môi trường. Đây là giải pháp bền vững cho việc sử dụng đất tại Cao Bằng.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các mô hình sử dụng đất hợp lý có thể cải thiện đáng kể đời sống của người dân. Các mô hình này đã được thử nghiệm và cho thấy hiệu quả tích cực.

5.1. Kết Quả Thực Hiện Các Mô Hình

Các mô hình đã được triển khai tại một số xã biên giới và cho thấy sự cải thiện rõ rệt về thu nhập và đời sống của người dân.

5.2. Đánh Giá Hiệu Quả Sử Dụng Đất

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cho thấy rằng các mô hình đề xuất không chỉ giúp ổn định dân cư mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Sử Dụng Đất Tại Cao Bằng

Nghiên cứu đề xuất sử dụng đất ổn định dân cư tại Cao Bằng là một bước quan trọng trong việc phát triển bền vững khu vực biên giới. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục được mở rộng và áp dụng vào thực tiễn.

6.1. Tương Lai Của Các Mô Hình Sử Dụng Đất

Các mô hình sử dụng đất cần được điều chỉnh và phát triển để phù hợp với tình hình thực tế tại các xã biên giới.

6.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương để đảm bảo việc thực hiện các mô hình sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng đất phục vụ ổn định dân cư biên giới trên địa bàn tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cuộc cách mạng công nghiệp, thế giới bước vào thời đại văn minh công nghiệp. Những ngưòi dân nông thôn di cư ra thành phố tìm kế sinh nhai đã không tìm thấy chỗ ở và các phương tiện sinh tồn tối thiểu ở các thành phố đông đúc của Châu Âu, đã di chuyển đến các khu thịnh vượng của thế giới mới "The New World", tạo ra một làn sóng di dân lớn nhất thời đại. Những người dân di cư đó đã góp phần tạo nên diện mạo mới của các đô thị như Manchester, Liverpool của Anh, Chicago, New York của Mỹ và khu vực Ruhr của Đức. Sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng để đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, cấp thoát nước, công nghiệp, nhà ở đô thị (Hammond World Attlas Corporation, 2010).

Làn sóng thứ ba: Theo Nguyễn Đình Bồng & cs. (2013), khởi đầu từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay với cuộc cách mạng về khoa học công nghệ mới, đã làm thay đổi cơ bản đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại. Sau chiến tranh thế giới thứ II, thời kỳ 1950 - 1970 các nước trên thế giới tập trung khôi phục phát triển kinh tế, nước Mỹ không chịu ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh, nông nghiệp tiếp tục phát triển mạnh với việc mở rộng quy mô sản xuất các trang trại, phát triển công nghiệp và đô thị; các nước Châu âu khôi phục công nghiệp và xây dựng lại các đô thị bị tàn phá trong chiến tranh (Đức, Anh, Pháp), các nước Đông Á khôi phục sản xuất nông nghiệp với việc tiến hành cải cách ruộng đất (Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc). Đến những năm 70 của thế kỷ trước, kinh tế các nước đã hồi phục và bước vào thời kỳ phát triển hưng thịnh; tuy nhiên lại phải đương đầu với những thách thức mới của quá trình đô thị hoá với tốc độ cao.

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: Sự tăng trưởng đô thị với tốc độ cao của nước Mỹ sau chiến tranh đã sản sinh ra hiện tượng hai cực là tạo nên khu đô thị có nhân khẩu tập trung cao và khu ngoại ô hoá để đối phó, chính quyền Liên Bang và các Bang đã đưa ra sách lược quản lý tăng trưởng đa mục sau: i) Cung cấp đầy đủ thiết bị công cộng hỗ trợ nhu cầu tăng trưởng kinh tế và nhân khẩu; ii) Bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và môi trường, tránh bị phá hoại do khai thác không thoả đáng hoặc phát triển nhảy cóc; iii) Bảo vệ và duy trì đời sống kinh tế mang tính chất địa phương, tính khu vực và cơ hội việc làm; iv) Duy trì sự cân bằng về nhà 9 ở có tính địa phương, tính khu vực và sự ổn định về giá cả nhà ở; v) Nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phối trí thiết bị công cộng, cải thiện cảnh quan đô thị và chất lượng cuộc sống (Lại Tông Dụ, 1999). Vương quốc Anh: năm 1947 Chính phủ Anh đã sửa đổi và công bố Luật Kế hoạch đô thị và nông thôn, trong đó điều thay đổi quan trọng nhất là xác lập chế độ quốc hữu về quyền phát triển và xây dựng chế độ cho phép khai thác. Quy định mọi loại đất đều phải đưa vào chế độ quản lý, mọi người nếu muốn khai thác đất đai, trước hết phải được cơ quan quy hoạch địa phương đó cho phép khai thác, chế độ cho phép khai thác trở thành biện pháp chủ yếu của chế độ quản lý quy hoạch đất đai (Lại Tông Dụ, 1999). Nhật Bản: sau thất bại trong chiến tranh thế giới thứ II; Nhật Bản bị lực lượng Đồng Minh chiếm đóng.

Năm 1946, các cuộc cải cách ruộng đất đã tạo ra một quốc gia với rất nhiều trang trại nhỏ, quy mô trung bình khoảng 1,0 ha với các thửa nhỏ manh mún, chia cắt, đã tác động đổi mới hệ thống đất đai Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới lần thứ II (Yohei, 1996). Hàn Quốc: đô thị hoá nhanh và nhân khẩu tập trung quá độ vào đô thị lớn, năm 1960 nhân khẩu đô thị chiếm 28% nhân khẩu của Hàn Quốc, đến năm 1990 tăng lên 75%. Năm 1972 "Luật sử dụng và quản lý đất đai quốc gia", chia toàn bộ đất đai cả nước thành 10 loại phân khu sử dụng. Đồng thời chỉ định các khu hạn chế phát triển gọi là đai xanh, trong khu hạn chế này ngoài những vật kiến trúc phải duy trì ra, cấm tất cả mọi khai thác, ý đồ dùng sự ngăn cách của các đai xanh để khống chế sự phát triển nhảy cóc, bảo vệ đất nông nghiệp và các điều kiện nghỉ ngơi giải trí; bảo đảm cung ứng đất làm nhà ở một cách hợp lý.

"Kế hoạch 10 năm về phát triển tổng hợp toàn quốc với mục đích là phân tán nhân khẩu của đô thị lớn, đồng thời phối hợp với "Phương án phát triển khu vực" để kích thích tăng trưởng của vùng sâu vùng xa, thu hút nhân khẩu quay về. Tuy nhiên, trên thực tế Hàn Quốc sau hai mươi, ba mươi năm nỗ lực, cuối cùng vẫn đối mặt với thất bại: giá nhà tăng cao, tiền bồi thường đất quá cao, việc thu hồi đất đai để xây dựng thiết bị công cộng của Chính phủ gặp khó khăn và bế tắc đất đai (Lại Tông Dụ, 1999). Trung Quốc: trong chiến lược đảm bảo an ninh lương thực cho trên 1 tỷ dân, đã thi hành nhiều giải pháp nhằm thực hiện chính sách bảo vệ đất nông nghiệp và sử dụng đất tiết kiệm, cụ thể: trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải xác định cho được 1.200 ngàn km2 đất canh tác cần phải bảo vệ nghiêm ngặt, trong đó phải chỉ rõ diện tích đất canh tác cơ bản (chiếm 80% tổng diện 10 tích canh tác) có chất lượng tốt nhất cần đựơc duy trì vĩnh cửu và không được phép chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009c). Sử dụng đất đồi núi a.

Sử dụng đất đồi núi trên thế giới Tài nguyên đất trên thế giới có khoảng 13.500 triệu ha, trong đó 1000 triệu ha (chiếm 14,7%) là đất đồi núi có khả năng sản xuất nông, lâm nghiệp. Đó là nguồn tài nguyên lớn mang tính chiến lược quốc gia của nhiều nước vì giá trị sản phẩm nông, lâm nghiệp lớn, đồng thời đó còn là những vùng đất nuôi sống hàng trăm triệu người và bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân loại (Nguyễn Thế Đặng & cs. Diện tích đất đồi núi ở khu vực Đông Nam Á được phân bố ở tất cả các nước trong khu vực, trong đó nhiều nhất là ở Việt Nam (chiếm 75% tổng diện tích toàn quốc) và ở Lào (chiếm 73% tổng diện tích toàn quốc). Phần lớn diện tích đất đồi núi được sử dụng cho lâm nghiệp (bảo tồn rừng tự nhiên hoặc trồng rừng khai thác, rừng sinh thái) cũng như được khai thác trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả dài ngày.

Một phần nhỏ diện tích đất đồi núi dạng thung lũng, dốc thấp, bình nguyên, cao nguyên địa hình thấp, khá bằng phẳng hoặc lượn sóng, thuận lợi cho canh tác thì được sử dụng trồng hoa màu, lương thực. Đại bộ phận hệ thống canh tác vùng đồi núi là canh tác nước trời, trừ diện tích lúa nước hai vụ dạng ruộng bậc thang hoặc diện tích trồng rau ven bãi bồi các sông suối là sử dụng nước tưới (Lê Trọng Cúc, 2002). Để bảo vệ đất dốc, nhiều nước trên thế giới sử dụng cây cỏ 3 lá vào hệ thống cây trồng, hoặc đưa cây đậu tương vào trồng xen với ngô, hoặc trồng theo đường đồng mức. Từ những năm thập kỷ 80 - 90, hệ thống nông lâm kết hợp và đa dạng hóa cây trồng trên đất đồi núi đã được thử nghiệm và lan rộng khắp nơi bởi tính ưu việt về sử dụng đất bền vững và hiệu quả của hệ thống này.

Năm 1983, ICRAF đã đưa ra định nghĩa khá hoàn hảo về hệ thống nông lâm kết hợp: “Đó là hệ thống sử dụng đất bao gồm các cây gỗ lâu năm và các cây nông nghiệp hàng năm hoặc cây thức ăn gia súc, hoặc cả hai trên cùng một mảnh đất đồng thời hay luân phiên với mục đích cho sản phẩm tối đa và duy trì sản xuất lâu bền do bảo vệ và tăng cường được độ màu mỡ đất”. 11 Bên cạnh những nghiên cứu kỹ thuật về sử dụng hiệu quả và bảo vệ chống suy thoái đất dốc, ngày nay sử dụng đất đồi núi bền vững còn đặc biệt chú trọng đến khía cạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng đồi núi nhằm bảo vệ một hệ thống sử dụng đất bền vững cho đất dốc nói riêng và đất vùng đồi núi nói chung. Nhóm công tác về “khung đánh giá đất dốc bền vững” (Nairobori, 1991) đã nêu lên quan điểm “ Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và các hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế - xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời (i) duy trì hoặc nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất), (ii) giảm rủi do sản xuất (an toàn), (iii) bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hóa đất và nước (bảo vệ), (iv) có hiệu quả lâu dài (lâu bền) và (vi) được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận)”. Sử dụng đất đồi núi ở Việt Nam Sử dụng đất đồi núi Việt Nam có lịch sử rất lâu đời với tập quán xa xưa lạc hậu là du canh du cư, phá rừng đốt rẫy, trồng lúa nương, hoa màu ngắn ngày.

Vì vậy, diện tích đất bị thoái hóa tăng nhanh chóng (đến nay có hơn nửa triệu ha đất xói mòn trơ sỏi đá), diện tích đất có độ che phủ rừng giảm rõ rệt từ 43% năm 1945 xuống còn 28% năm 1995. Mất rừng kéo theo sự thoái hóa đất (đất bị bạc màu hóa, xói mòn trơ sỏi đá), làm mất đi chức năng phục vụ sinh thái của rừng là điều hòa khí hậu và bảo vệ nguồn nước. Đã có lúc diện tích đất trống đồi núi trọc vùng đồi núi lên đến 13 triệu ha (Lê Trọng Cúc, 2002). Từ những năm của thập kỷ 80 và 90 thế kỷ 20 đến nay, các chương trình nghiên cứu và sử dụng đất đồi núi tập trung vào các dự án đánh giá đất và xây dựng các mô hình sản xuất như hệ thống nông lâm kết hợp, hệ thống vườn ao chuồng rừng (VACR) và trang trại sản xuất rừng đồi, vườn đồi .Các chương trình phát triển nông lâm nghiệp, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ phát triển đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng nông thôn, quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ