chương 1, luận văn nghiên cứu các khái niệm và khái quát tác giả liên quan đến nội dung nghiên cứu để làm cơ sở lý luận nghiên cứu các vấn đề của đề tài 1. Khái quát về đề tài chiến tranh trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam 1.1 Khái niệm về nghệ thuật tạo hình * Khái niệm nghệ thuật Theo cuốn “Từ điển mỹ thuật Phổ thông” của Đặng Bích Ngân giải thích nghệ thuật là các phương pháp tiến hành để làm ra các sản phẩm chứng tỏ tài khéo léo, sự suy nghĩ, trí tưởng tượng, cảm xúc và sự sáng tạo của con người. Nghệ thuật thường phản ánh những tiêu chuẩn thẩm mỹ trong các loại hình như văn học, âm nhạc, hội họa, sân khấu… Trong mỹ thuật, nghệ thuật là sự sáng tạo của con người thông qua cảm xúc, sự quan sát tinh tế và đôi bàn tay thành thục nghề. Nghệ thuật phản ánh các tiêu chuẩn đẹp, khéo và sáng tạo.
Đặc biệt, nghệ thuật thường khai thác sự đối lập giữa các yếu tố để sáng tạo. Người nghệ sĩ tinh tế phát hiện được các yếu tố khác nhau trong nội dung, kỹ thuật, quan điểm để sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật. [14;tr101] Vậy nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức. 12 * Khái niệm tạo hình Theo “Từ điển tiếng Việt” – Viện ngôn ngữ học thì tạo hình là: “Tạo ra các hình thể bằng đường nét, màu sắc, hình khối.
Trong “Từ điển tiếng Việt 1994” – Nxb Khoa học xã hội có ghi tạo hình là: “ nghệ thuật biểu hiện bằng cách ghi lại, tạo nên những hình thể với những bức họa, pho tượng” [8; tr.716] Trong cuốn “Từ điển bách khoa Việt Nam tập 4” thì tạo hình là “thủ pháp sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ hình khối, màu sắc, chất cảm, không gian, bố cục. Theo nghĩa rộng, tạo hình bao gồm hoạt động hội họa, điêu khắc, mỹ thuật ứng dụng, kiến trúc, nhiếp ảnh. Theo nghĩa hẹp, tạo hình là hoạt động thuộc hội họa giá vẽ và điêu khắc. Hội họa là nghệ thuật tạo hình trên mặt phẳng, bằng các yếu tố đường nét, màu sắc, hình diện.
Điêu khắc là nghệ thuật tạo hình trong không gian ba chiều, bằng các khối có thể tích. Mỹ thuật ứng dụng và kiến trúc sử dụng các phương tiện tạo hình vào việc tạo dáng sản phẩm, sáng tạo môi trường không gian mang giá trị thẩm mỹ và công năng.60] Theo “Từ điển mỹ thuật phổ thông” thì tạo hình theo nghĩa rộng là sự sáng tạo mọi hình tượng nghệ thuật, theo nghĩa hẹp là sự sáng tác, sự khắc họa những đặc trưng về hình thể trong điêu khắc, kiến trúc, hội họa và các ngành mỹ thuật ứng dụng.128] Về cơ bản, các từ điển trên giải thích khái niệm tạo hình một cách đơn giản là nghệ thuật được biểu hiện bằng hình thể trong nghệ thuật tạo hình thông qua các yếu tố tạo hình cơ bản. Nghệ thuật tạo hình gồm có hội họa, đồ họa, điêu khắc và kiến trúc. Những yếu tố tạo hình nghệ thuật chung nhất ở các thể loại tạo hình nghệ thuật là đường nét, màu sắc, không gian, ánh sáng.
13 * Khái niệm nghệ thuật tạo hình Theo cuốn “Từ điển bách khoa Việt Nam tập 3” thì nghệ thuật tạo hình là nghệ thuật sử dụng một số phương tiện và chất liệu, tạo nên những hình thức trên mặt phẳng và trong không gian. Tác phẩm hội họa, điêu khắc, kiến trúc được coi là lĩnh vực của nghệ thuật tạo hình. Nghệ thuật tạo hình còn được gọi là nghệ thuật không gian, nghệ thuật thị giác, nghệ thuật tĩnh. Khác với các nghệ thuật khác như múa, điện ảnh, sân khấu mang tính tổng hợp của nhiều loại hình nghệ thuật.102] Cuốn “Từ điển tiếng Việt” –viện ngôn ngữ thì nghệ thuật tạo hình là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng tình cảm.691] Trong “Từ điển mỹ thuật Phổ thông” của Đặng Bích Ngân có trích dẫn theo từ điển từ vựng mỹ học của Souriau -1990 đã định nghĩa: Nghệ thuật tạo hình là nghệ thuật đưa tới thị giác những tác phẩm có không gian hai hoặc ba chiều.
Ví dụ như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, đồ họa, nghệ thuật mang tính ứng dụng.106] Từ các định nghĩa trong các từ điển trên, ta rút ra được nghệ thuật tạo hình là hình thức nghệ thuật thị giác được biểu diễn trên mặt phẳng 2 chiều hoặc 3 chiều nhằm truyền đạt tư tưởng thẩm mỹ của tác giả. Đề tài chiến tranh trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam Cuốn “Từ điển bách khoa Việt Nam quyển 1” giải thích đề tài là đối tượng miêu tả, biểu hiện, nghiên cứu, chuyện trò… Trong nghệ thuật, đề tài được người nghệ sĩ khai thác một cách nhất quán theo ý tưởng, tư tưởng, nghệ thuật của mình. Đề tài được nhận thức theo các quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào thế giới quan, lập trường tư tưởng của người nghệ sĩ. Thông qua đề tài, người nghệ sĩ bộc lộ quan điểm, tư tưởng của mình.809] 14 “Từ điển Mỹ thuật phổ thông” cho rằng: đề tài là những lý do, những vấn đề được gợi ý hoặc được nghĩ ra bởi một người hay một nhóm người để tập trung xoay quanh vào đó nghiên cứu, thể hiện, diễn đạt bằng một hình thức riêng với những hình tượng cô đọng điển hình.
Ví dụ: đề tài lực lượng vũ trang, đề tài chiến tranh, đề tài thiếu nhi, đề tài xây dựng v.v… Nghệ thuật tạo hình thế giới qua các thời kì đều thể hiện những đề tài nổi bật, phổ biến. Ví dụ: thời kì lãng mạn đề tài là thiên nhiên, con người và tình yêu; thời kì hiện thực, quê hương đất nước, con người trong lao động, trong chiến đấu, trong sinh hoạt bình thường với những tình cảm đa dạng phong phú v.v… Kể từ khi hình thành Chủ nghĩa Ấn tượng, với sự ra đời của những trường phái mang tính hình thức, trừu tượng thì đề tài không quan trọng và không có tính chất quyết định nữa mà tên tranh chỉ gợi nên một sự chú ý, liên tưởng xa xôi, thậm chí có khi tùy tiện. Có những bức tranh tùy hứng, vẽ theo sự thích thú ngẫu nhiên của tác giả, không định thể hiện một ý đồ, chủ đề nào cả, được đặt tên là “vô đề”, tức là tranh không có đề tài. Nói chung, đề tài dành cho nghệ sĩ rất rộng rãi, phong phú, những người đã nung nấu nhiều về một đề tài thường có nhiều cảm xúc, nhiều tư liệu nghiên cứu, tìm tòi, hư cấu sâu về nó.
Qua đó, họ sẽ tạo ra những tác phẩm có chất lượng. Đề tài rộng hơn chủ đề. Chủ đề được diễn đạt bằng hình tượng cụ thể hơn. Ví dụ: đề tài là phụ nữ, còn chủ đề có thể là phụ nữ đi cấy, phụ nữ làm văn nghệ, phụ nữ tập quân sự…”[17;tr.48] Qua các định nghĩa trên rút ra được đề tài là những vấn đề được người nghệ sĩ nghiên cứu, thể hiện, diễn đạt bằng nhiều hình thức nghệ thuật với những hình tượng cô đọng, điển hình.
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học thì chiến tranh là sự xung đột vũ trang giữa các giai cấp, các dân tộc hoặc các nước nhằm thực hiện mục đích chính trị, kinh tế nhất định.157] 15 Cuốn “Từ điển bách khoa Việt Nam tập 1”, chiến tranh là hiện tượng xã hội-chính trị được thể hiện bằng đấu tranh vũ trang giữa các nước hoặc liên minh các nước, giữa các giai cấp đối kháng trong một nước, giữa các sắc tộc, dân tộc, tôn giáo nhằm đạt đến mục đích chính trị, kinh tế nhất định. Chiến tranh chi phối mọi hoạt động của xã hội, nhà nước và nhân dân. [9] Vậy đề tài chiến tranh là những vấn đề về xã hội-chính trị bằng đấu tranh vũ trang nhằm đạt mục đích chính trị văn hóa được nghệ sĩ diễn đạt thông qua hình tượng nghệ thuật tiêu biểu. Trong thơ văn, các tác giả sử dụng ngòi bút, câu chữ để phản ánh những tội ác, sự mất mát về tranh.
Còn trong nghệ thuật tạo hình, các nghệ sĩ sử dụng ngôn ngữ tạo hình như đường nét, màu sắc, hình khối… để diễn tả chân thực quan điểm của mình về đề tài chiến tranh thông qua các tác phẩm. Đối với người Việt Nam, chiến tranh là cuộc đấu tranh chính nghĩa, dành lại độc lập dân tộc. Đó là sự nghiệp của cả dân tộc và toàn thể quần chúng nhân dân. Nghệ thuật là tấm gương phản chiếu lịch sử, trong đó, vai trò của người nghệ sĩ đóng một vị trí quan trọng trong việc truyền đạt tư tưởng văn hóa đúng đắn đến công chúng trước tình hình chính trị lịch sử đương đại.
Trong đó, mỹ thuật thuật tạo hình Việt Nam hiện đại đã đóng góp một phần lớn trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Trước tình hình cam go của hai cuộc chiến tranh Pháp-Mỹ, đề tài chiến tranh là một mảng chủ đề lớn mang tính hiện thực cách mạng. Đây cũng chính là nguồn cảm hứng sáng tác thể hiện tinh thần yêu nước, quyết tâm của người nghệ sĩ. Trong “Đề tài chiến tranh” các nghệ sĩ truyền tải được nội dung tư tưởng, quan điểm cá nhân bằng việc tìm hiểu xã hội đương đại thực tế tạo nên chiều sâu cho các tác phẩm.
Đề tài chiến tranh trong tranh ra đời từ năm 1945 khi đất nước đối mặt với cuộc chiến quân thực dân Pháp. Điều 16 này đã thay đổi các nhận thức nhân sinh nghệ thuật của các họa sĩ Đông Dương trước đó. Không còn những hình ảnh cô gái Hà Nội thanh tao, đằm thắm, hay những mái nhà, khu phố bình yên, thay vào đó là những anh bộ đội, những người phụ nữ nông thôn khỏe khoắn, những cảnh cận chiến cam go được hiện lên trong tranh như những nhân chứng sống của lịch sử hào hùng dân tộc. Hiện thực mới của các cuộc kháng chiến của dân tộc đã giúp người họa sĩ thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan.
Từ đó thay đổi cách nhìn, cách nghĩ về quan niệm nghệ thuật. Đó là quan niệm đem hội họa phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân. Đây chính là giá trị của nghệ thuật vị nhân sinh, mang nghĩa cử cao đẹp của nghệ sĩ đối với đất nước. Ngay sau khi bùng nổ chiến tranh, các họa sĩ Đông Dương đã cho thấy sức mạnh tiềm tàng trong công việc của mình.
Họ đã phản ánh hiện thực chiến tranh một cách sát xao. Với họ việc cầm bút vẽ cũng chính là cầm vũ khí chiến đấu của mình.