Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại xã phú sơn huyện ba vì thành phố hà nội

Chuyên khảo phân tích Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại xã phú, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Khoa học Môi trường

Tác giả

Nguyễn Mỹ Linh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2017

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về nước sinh hoạt

1.2. Một số khái niệm về nước sinh hoạt

1.3. Nguồn cấp nước sinh hoạt

1.4. Các hình thức sử dụng nước sinh hoạt phổ biến ở Việt Nam

1.5. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước sinh hoạt

1.6. Thực trạng nước sinh hoạt ở Việt Nam

1.7. Một số nghiên cứu về nước sinh hoạt ở Việt Nam

1.8. Một số mô hình xử lý nước sinh hoạt

2. CHƯƠNG II: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu

2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp

2.4.3. Phương pháp điều tra phỏng vấn

2.4.4. Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường

2.4.5. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu ngoại nghiệp

3. CHƯƠNG III: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1. Sản xuất nông nghiệp

3.2.2. Thương mại, dịch vụ

4. CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thực trạng sử dụng nước sinh hoạt tại Xã Phú Sơn, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

4.2. Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt tại xã Phú Sơn, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

4.3. Các phương pháp xử lý nước sinh hoạt tại xã Phú Sơn, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

4.4. Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã Phú Sơn, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

4.4.1. Kết quả phân tích các chỉ tiêu

4.5. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại xã Phú Sơn, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

4.5.1. Giải pháp quản lý

4.5.2. Giải pháp truyền thông – giáo dục

4.5.3. Giải pháp kĩ thuật

5. CHƯƠNG V: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chất lượng nước sinh hoạt tại xã Phú Sơn Ba Vì

Nước sinh hoạt là yếu tố nền tảng cho sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững. Tại xã Phú Sơn, một xã thuần nông của huyện Ba Vì, Hà Nội, vấn đề đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt đang đối mặt với nhiều thách thức. Nghiên cứu khoa học gần đây đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về thực trạng này, từ nguồn cung, hình thức sử dụng đến các chỉ số ô nhiễm đáng quan ngại. Việc hiểu rõ hiện trạng là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất trong hành trình tìm kiếm các giải pháp bền vững, nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cho người dân. Bài viết này sẽ phân tích sâu các kết quả từ khảo sát thực địaphân tích mẫu nước, từ đó đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn cao, góp phần cải thiện đời sống và bảo vệ môi trường tại địa phương. Các số liệu được trình bày dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Linh (2017), cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho các nhận định và giải pháp.

1.1. Thực trạng nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính tại Phú Sơn

Theo kết quả khảo sát, nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho người dân xã Phú Sơn chủ yếu đến từ hai nguồn: nước dưới đất và nước mưa. Trong đó, nước giếng khoan và giếng đào chiếm tỷ lệ áp đảo với 84% số hộ sử dụng. Đây là hình thức khai thác truyền thống, chi phí thấp nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng do dễ bị ảnh hưởng bởi các hoạt động bề mặt. 16% số hộ còn lại sử dụng nước mưa, được trữ trong các bể chứa tự xây, chủ yếu dùng cho mục đích ăn uống. Một thực tế đáng lo ngại là nguồn nước dưới đất tại đây khá khan hiếm, thường xuyên thiếu hụt vào mùa khô, cho thấy sự phụ thuộc lớn vào một nguồn cung không ổn định. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đa dạng hóa và bảo vệ các nguồn nước hiện có.

1.2. Các phương pháp xử lý nước sinh hoạt phổ biến của người dân

Để đảm bảo an toàn, nhiều hộ gia đình đã áp dụng các biện pháp xử lý nước sinh hoạt trước khi sử dụng. Thống kê cho thấy, có đến 64% hộ dân được phỏng vấn sử dụng các loại máy lọc nước hiện đại (RO, Nano), cho thấy nhận thức về tầm quan trọng của nước sạch đã được nâng cao. Tuy nhiên, vẫn còn 15% hộ dân sử dụng bể lọc cát sỏi tự tạo, một phương pháp có hiệu quả hạn chế và đòi hỏi bảo trì thường xuyên nhưng không phải lúc nào cũng được thực hiện đúng cách. Đáng chú ý, 21% số hộ dân không sử dụng bất kỳ biện pháp xử lý nào, sử dụng trực tiếp nguồn nước từ giếng. Con số này cho thấy một bộ phận người dân vẫn còn chủ quan hoặc chưa đủ điều kiện kinh tế để tiếp cận các giải pháp lọc nước hiệu quả, tạo ra nguy cơ tiềm tàng về bệnh tật do nguồn nước.

II. Phân tích hiện trạng ô nhiễm nước sinh hoạt tại Phú Sơn

Hiện trạng ô nhiễm nguồn nước tại xã Phú Sơn là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự phân tích chi tiết dựa trên các bằng chứng khoa học. Kết quả từ việc phân tích mẫu nước đã chỉ ra những thông số vượt ngưỡng đáng báo động, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Mặc dù một số chỉ tiêu cơ bản như pH, độ cứng hay sắt tổng vẫn nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn nước sạch Bộ Y tế, sự hiện diện của các chất ô nhiễm hữu cơ và một số hợp chất nitơ cho thấy nguồn nước ngầm đang bị tác động tiêu cực từ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất tại địa phương. Việc xác định chính xác nguyên nhân và mức độ ô nhiễm là cơ sở để xây dựng các giải pháp can thiệp hiệu quả, từ kỹ thuật đến quản lý, nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên nước quý giá và sức khỏe của cả cộng đồng.

2.1. Nguồn gây ô nhiễm nước ngầm và các chỉ số đáng báo động

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm được xác định là do chất thải sinh hoạt và chăn nuôi không được xử lý triệt để. Với đặc thù là một xã nông nghiệp, phần lớn chất thải chăn nuôi được thải trực tiếp ra môi trường, ngấm xuống đất và đi vào các tầng nước ngầm. Kết quả phân tích đã phản ánh rõ thực trạng này: chỉ số COD (Nhu cầu Oxy hóa học) trong tất cả các mẫu đều vượt xa QCVN 09:2008/BTNMT, trung bình cao hơn 55 lần. Đây là một dấu hiệu của tình trạng ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng. Bên cạnh đó, 6/24 mẫu nước có hàm lượng Nitrit (NO2-) vượt quá QCVN 09:2015/BTNMT, một chất có nguy cơ gây hại cho sức khỏe khi kết hợp với asen và amoni, đặc biệt là ung thư.

2.2. Đánh giá rủi ro sức khỏe cộng đồng từ nguồn nước ô nhiễm

Việc sử dụng nguồn nước có chỉ số COD và Nitrit cao tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sức khỏe cộng đồng. Các chất hữu cơ không chỉ gây mùi khó chịu mà còn là môi trường lý tưởng cho vi sinh vật E. colicoliform trong nước phát triển, gây ra các bệnh về đường tiêu hóa. Nitrit, khi vào cơ thể, có thể chuyển hóa thành Nitrosamine, một chất gây ung thư nguy hiểm. Theo đánh giá của người dân, có tới 74% hộ cho rằng nguồn nước đang sử dụng bị ô nhiễm, trong đó 46% đánh giá là ô nhiễm nặng. Sự bất an này phản ánh đúng nguy cơ mà họ đang phải đối mặt hàng ngày, nhấn mạnh sự cấp bách của việc triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt.

III. Phương pháp nghiên cứu chất lượng nước tại xã Phú Sơn

Để có được những đánh giá khách quan và chính xác về chất lượng nước sinh hoạt tại xã Phú Sơn, một phương pháp nghiên cứu khoa học bài bản đã được áp dụng. Nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp kế thừa số liệu, khảo sát thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm. Cách tiếp cận đa chiều này không chỉ giúp xác định các thông số hóa lý của nước mà còn hiểu được thực trạng sử dụng và nhận thức của người dân. Quy trình lấy mẫu được thực hiện nghiêm ngặt tại 24 điểm phân bố rải rác trên toàn xã, đại diện cho các khu vực dân cư khác nhau. Kết quả phân tích được đối chiếu với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia như QCVN 01:2009/BYT (nước ăn uống) và QCVN 02:2009/BYT (nước sinh hoạt), tạo ra một bộ dữ liệu đáng tin cậy để làm cơ sở cho các đề xuất và kiến nghị.

3.1. Quy trình khảo sát thực địa và phỏng vấn người dân

Quá trình khảo sát thực địa được tiến hành thông qua phỏng vấn trực tiếp 50 hộ gia đình bằng phiếu điều tra. Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề chính: nguồn nước đang sử dụng (giếng đào, nước mưa), các hình thức xử lý nước, cảm nhận của người dân về chất lượng nước và mong muốn được sử dụng nước máy nông thôn. Đồng thời, các vị trí lấy mẫu được đánh dấu và đo tọa độ bằng GPS, đảm bảo tính chính xác và khả năng tái lập. Phương pháp này giúp thu thập thông tin định tính quý giá, phản ánh góc nhìn và trải nghiệm thực tế của người sử dụng, bổ sung cho các dữ liệu định lượng từ phòng thí nghiệm.

3.2. Kỹ thuật phân tích mẫu nước và các chỉ tiêu quan trọng

Tổng cộng 24 mẫu nước giếng khoan (giếng đào) đã được thu thập và bảo quản theo đúng tiêu chuẩn trước khi đưa về phòng thí nghiệm. Các chỉ tiêu quan trọng được lựa chọn để phân tích bao gồm: pH, TDS (Tổng chất rắn hòa tan), độ cứng, COD, Sắt tổng, Amoni (NH4+) và Nitrit (NO2-). Việc phân tích các chỉ tiêu này giúp đánh giá toàn diện chỉ số chất lượng nước (WQI). Ví dụ, chỉ tiêu COD được dùng để xác định mức độ ô nhiễm hữu cơ, trong khi Amoni và Nitrit phản ánh mức độ ảnh hưởng từ chất thải sinh hoạt và nông nghiệp. Các phương pháp phân tích hiện đại đã được sử dụng để đảm bảo độ chính xác của kết quả, làm nền tảng vững chắc cho việc đề xuất giải pháp.

IV. Top 3 giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt hiệu quả

Từ kết quả phân tích hiện trạng, việc đề xuất các giải pháp đồng bộ và khả thi là nhiệm vụ trọng tâm. Các giải pháp này cần được xây dựng trên ba trụ cột chính: quản lý, truyền thông - giáo dục và kỹ thuật. Sự kết hợp hài hòa giữa ba nhóm giải pháp sẽ tạo ra tác động bền vững, không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt mà còn hướng tới việc bảo vệ môi trường nước và nâng cao chất lượng sống lâu dài cho người dân xã Phú Sơn. Mục tiêu cuối cùng là cung cấp nguồn nước an toàn, đáp ứng tiêu chuẩn nước sạch Bộ Y tế, đồng thời trao quyền và kiến thức cho cộng đồng để họ có thể chủ động bảo vệ nguồn nước của chính mình. Những đề xuất này mang tính thực tiễn cao, có thể áp dụng ngay tại địa phương với chi phí hợp lý và sự tham gia của người dân.

4.1. Giải pháp quản lý và nâng cao nhận thức người dân

Về mặt quản lý, cần có sự vào cuộc của chính quyền địa phương trong việc quy hoạch các khu chăn nuôi tập trung, xa nguồn nước sinh hoạt và áp dụng các biện pháp xử lý chất thải bắt buộc. Đồng thời, các chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức người dân về tác hại của ô nhiễm nước và cách bảo vệ nguồn nước cần được triển khai rộng rãi. Nội dung tuyên truyền nên đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào các hành động cụ thể như: không xả rác và nước thải chăn nuôi bừa bãi, xây dựng nhà vệ sinh hợp quy cách, và tầm quan trọng của việc bảo trì các công trình khai thác nước. Việc thành lập các tổ, đội tự quản về môi trường tại các thôn cũng là một sáng kiến hay để tăng cường giám sát và nhắc nhở lẫn nhau.

4.2. Giải pháp kỹ thuật Xây dựng hệ thống cấp nước tập trung

Về lâu dài, giải pháp tối ưu nhất là xây dựng một hệ thống cấp nước tập trung cho toàn xã. Việc xây dựng một trạm cấp nước sạch hiện đại sẽ giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm tại nguồn và đảm bảo chất lượng nước đồng đều cho tất cả các hộ dân. Nguồn nước đầu vào có thể được lấy từ các tầng chứa nước sâu hơn, ít bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm bề mặt, hoặc từ các nguồn nước mặt được xử lý qua công nghệ tiên tiến. Mặc dù đòi hỏi vốn đầu tư lớn, đây là giải pháp bền vững, góp phần hiện đại hóa nông thôn và đảm bảo an ninh nguồn nước cho các thế hệ tương lai. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ đầu tư cho các khu vực khó khăn như Phú Sơn.

4.3. Ứng dụng mô hình bể lọc nước quy mô hộ gia đình chi phí thấp

Trong khi chờ đợi các giải pháp vĩ mô, một mô hình bể lọc nước đơn giản quy mô hộ gia đình đã được nghiên cứu và đề xuất. Mô hình này sử dụng các vật liệu lọc dễ tìm như cát, sỏi, than hoạt tính, có khả năng loại bỏ cặn bẩn, khử phèn và một phần chất hữu cơ. Theo tính toán trong nghiên cứu, chi phí để xây dựng mô hình này chỉ khoảng 1.520.000 VNĐ, hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế của đa số các hộ dân tại Phú Sơn. Đây là một giải pháp kỹ thuật tạm thời nhưng rất hiệu quả, giúp người dân ngay lập tức cải thiện chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt, giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh tật do nguồn nước gây ra.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại xã phú sơn huyện ba vì thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc là nguồn tài nguyên quý giá mà tạo hóa ban tặng cho hành tinh chúng ta. Nƣớc chiếm 97% bề mặt Trái đất nhƣng chỉ có 3% dùng đƣợc cho các hoạt động sinh hoạt, đời sống và sản xuất. Trong 3% lƣợng nƣớc dùng đƣợc có 2,15% ở dạng bằng nƣớc, 0,62% nƣớc dƣới đất chiếm còn lại là nƣớc ao hồ, sông, suối. Hàng ngày, mỗi ngƣời cần tối thiểu 60 – 80 lít nƣớc và tối đa khoảng 150 – 200 lít nƣớc dùng cho sinh hoạt [1].

Vì vậy, nguồn nƣớc dƣới đất là nguồn cung cấp nƣớc chủ yếu cho các hoạt động sinh hoạt, đời sống và sản xuất của con ngƣời. Việt Nam là một nƣớc đang trên đà phát triển, tốc độ phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng nhanh, cùng với sự bùng nổ dân số, nhu cầu sử dụng nƣớc ngày càng tăng trong khi nguồn tài nguyên không đổi, dẫn đến môi trƣờng nƣớc ô nhiễm nặng. Hiện nay, vấn đề về nƣớc sạch và môi trƣờng đang đƣợc nhà nƣớc quan tâm, dành vốn đầu tƣ, nâng cấp hệ thống cung cấp nƣớc sạch đặc biệt là ở vùng nông thôn. Xã Phú Sơn là một trong những xã nghèo của huyện Ba Vì, Hà Nội, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.

Nƣớc dùng trong sinh hoạt chủ yếu lấy từ giếng đào, thiếu nƣớc vào mùa khô mà dân số ngày càng tăng, nhu cầu sử dụng nƣớc cũng tăng. Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại xã Phú Sơn, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” đã đƣợc thực hiện nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng nƣớc sinh hoạt cho ngƣời dân tại khu vực nghiên cứu. 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nƣớc sinh hoạt 1.

Một số khái niệm về nƣớc sinh hoạt Nƣớc sinh hoạt là nƣớc sạch hoặc nƣớc có thể dùng để ăn, uống, vệ sinh của con ngƣời [14]. Nguồn nƣớc sinh hoạt là nguồn nƣớc có thể cung cấp nƣớc sinh hoạt hoặc có thể xử lý thành nƣớc sinh hoạt [14]. Hiện nay, nguồn cung cấp nƣớc cho sinh hoạt bao gồm nƣớc dƣới đất, nƣớc mặt và nƣớc mƣa. Nguồn cấp nƣớc sinh hoạt a.

Nước mặt Nƣớc mặt là nƣớc tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo [14]. Sự bốc hơi nƣớc trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nƣớc ở động vật và thực vật., hơi nƣớc vào trong không khí và ngƣng tụ lại trở về thể lỏng và rơi xuống mặt đất thành mƣa, nƣớc mƣa chảy tràn trên mặt đất từ cao xuống thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và đƣợc tích tụ ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc đƣợc đƣa thẳng ra biển hình thành nên lớp nƣớc trên bề mặt của vỏ trái đất. Thành phần hóa học của nƣớc bề mặt phụ thuộc vào tính chất đất đai mà dòng nƣớc chảy qua đến các thủy vực, chất lƣợng nƣớc mặt còn chịu ảnh hƣởng bởi các quá trình tự nhiên cũng nhƣ các hoạt động của con ngƣời. Trong nƣớc mặt thƣờng xuyên có các chất khí hòa tan chủ yếu là oxy.

Nƣớc mặt thƣờng có hàm lƣợng chất rắn lơ lửng đáng kể với kích thƣớc khác nhau, các hạt có kích thƣớc lớn có khả năng lắng tự nhiên, các chất lơ lửng có kích thƣớc hạt keo thƣờng gây ra độ đục của nƣớc. Ngoài ra, trong nƣớc có nhiều rong rêu, xác động vật nổi và chất hữu cơ do sinh vật phân hủy. Chất lƣợng nƣớc mặt thay đổi theo không gian và thời gian. Ngày nay, dƣới tác động của các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con ngƣời môi trƣờng nƣớc mặt đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Nước dưới đất Nƣớc dƣới đất là nƣớc tồn tại trong các tầng chứa nƣớc dƣới đất [14]. Nƣớc dƣới đất có diện tích phân bố rộng rãi từ vùng ẩm ƣớt cho tới sa mạc, ở núi cao, vùng cực của Trái Đất. Có 4 con đƣờng hình thành nƣớc dƣới đất [15]:  Do nƣớc mƣa, nƣớc mặt trong sông hồ, đầm lầy,. ngấm xuống các tầng đất đá bên dƣới khi những tầng này có đới độ rỗng cao.

Phần lớn nƣớc dƣới đất phụ thuộc dạng này.  Trong trầm tích, khi lắng đọng thì ở dạng bùn ƣớt. Quá trình trầm tích tiếp theo tạo ra lớp đè lên trên, gây nén kết đá và nƣớc bị tách ra thành vỉa. Các vỉa nƣớc dƣới đáy mỏ dầu khí thuộc dạng này.

 Nguyên sinh: Do magma nguội đi thì quá trình kết tinh xảy ra, lƣợng dƣ hydro và oxy nếu có sẽ tách ra, rồi kết hợp thành nƣớc. Nƣớc tách ra từ magma tạo ra khí hơi nƣớc, mây rồi tích tụ tạo ra các đại dƣơng cổ. Nguồn nƣớc từ magma đã giảm nhiều, do vỏ Trái Đất hiện nay dày hơn, và hydro là nguyên tố nhẹ nên ít nằm lại trong lòng Trái Đất.  Thứ sinh: Các hoạt động thâm nhập làm nóng đất đá, gây biến chất các lớp trầm tích bên trên, dẫn đến giải phóng nƣớc từ trầm tích.

Nƣớc dƣới đất đƣợc phân chia thành nhiều loại trong đó nƣớc ngầm là một dạng của nƣớc dƣới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời nhƣ cát, sạn, cát bồ kết, trong các khe nứt, hang karxto dƣới bề mặt Trái Đất. Nguồn nƣớc ngầm cũng chính là nguồn cung cấp chính cho các hoạt động sinh hoạt. So với nƣớc mặt, chất lƣợng nƣớc dƣới đất thƣờng tốt hơn và ít chịu ảnh hƣởng bởi các hoạt động của con ngƣời. Vì vậy, thành phần và tính chất của nƣớc dƣới đất cũng khác so với nƣớc mặt.

Trong nƣớc dƣới đất hầu nhƣ không chứa rong rêu, các chất rắn lơ lửng một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nƣớc. Thành phần đáng quan tâm trong nƣớc dƣới đất là các tạp chất hòa tan do ảnh hƣởng của điều kiện địa tầng, sinh hóa thời tiết, các quá trình phong hóa và ở khu vực. Nƣớc dƣới đất thƣờng có độ pH thấp hơn so với 3 nƣớc mặt, trọng lƣợng nƣớc thƣờng xuyên có mặt các ion Mn2+, Fe2+, Ca2+, Mg2+,. Tuy nhiên, nƣớc dƣới đất cũng có thể bị nhiễm bẩn do các tác động của con ngƣời.

Các chất thải của con ngƣời và động vật, các chất thải sinh hoạt, chất thải hóa học, việc sử dụng phân bón hóa học. tất cả những chất thải đó theo thời gian nó sẽ ngấm xuống đất vào nguồn nƣớc, tích tụ và làm ô nhiễm nguồn nƣớc dƣới đất. Nước mưa Nƣớc mƣa là một dạng ngƣng tụ của hơi nƣớc khi gặp điều kiện lạnh, mƣa có các dạng nhƣ mƣa phùn, mƣa rào, mƣa đá, các dạng khác nhƣ tuyết, mƣa tuyết, sƣơng. Mƣa đƣợc tạo ra khi các giọt nƣớc khác nhau rơi xuống bề mặt Trái Đất từ các đám mây.

Không phải toàn bộ các cơn mƣa đều có thể rơi xuống đến bề mặt, một số bị bốc hơi trên đƣờng rơi xuống do đi qua không khí khô, tạo ra một dạng khác của sự ngƣng đọng. Nƣớc mƣa có phần giống nhƣ nƣớc cất vì cũng là hơi nƣớc ngƣng tụ. Hơi nƣớc từ mặt biển, sông, hồ,. bốc lên nhập vào các tầng khí quyển, gặp lạnh ngƣng tụ lại và rơi thành mƣa.

Nƣớc mƣa rơi từ độ cao xuống sẽ hòa tan và tiếp xúc với các tạp chất trong không khí, vì vậy trong nƣớc mƣa có chứa nhiều bụi, vi khuẩn, các tạp chất hóa học vô cơ và hữu cơ. Lƣợng vi khuẩn và các tạp chất hóa học nhiều hay ít tùy thuộc vào mùa và vùng, khu vực,. Nƣớc mƣa là loại nƣớc mềm vì không có các muối khoáng Ca, Mg; có tính axit nhẹ (độ pH khoảng từ 6,2 – 6,4) do khí Nitơ kết hợp với oxy (nhờ các tia lửa điện của sấm sét) rồi kết hợp với nƣớc thành axit nitric. Các hình thức sử dụng nƣớc sinh hoạt phổ biến ở Việt Nam a.

Giếng khoan Giếng khoan đƣợc sử dụng ở các vùng thiếu nƣớc ngầm tầng nông thôn hoặc không đủ diện tích mặt bằng để đào giếng. Đặc điểm chung của giếng khoan là sâu và có chất lƣợng đảm bảo hơn nƣớc giếng đào. Hiện nay, các giếng khoan thƣờng đi kèm theo hệ thống bể lọc đơn giản 4 sử dụng các vật liệu lọc nhƣ cát, sỏi, than hoạt tính,. nhằm nâng cao chất lƣợng nƣớc ngầm.

Giếng khơi Giếng khơi hay giếng đào đây là hình thức đƣợc áp dụng phổ biến ở các vùng nông thôn Việt Nam. Giếng khơi thƣờng có độ sâu không lớn do đó nguồn nƣớc vẫn bị ảnh hƣởng của nguồn nƣớc mặt và nguồn nƣớc thải. Đặc biệt khi xảy ra lũ nguồn nƣớc giếng khơi sẽ bị ô nhiễm nếu không có biện pháp xử lý thích hợp. Đặc điểm của nguồn nƣớc giếng khơi là có chứa hàm lƣợng lớn các chỉ tiêu nhƣ: nitrat, chất hữu cơ, sắt, độ đục,.

có thể chứa các sinh vật lạ. Bể chứa nước mưa Bể chứa nƣớc mƣa cũng là một hình thức sử dụng rộng rãi ở các vùng nông thôn, đặc biệt là ở các vùng nông thôn miền núi. Tuy nhiên hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trƣờng không khí đang ngày càng gia tăng đã làm giảm chất lƣợng nƣớc mƣa, mặt khác do biến đổi khí hậu lƣợng nƣớc mƣa càng thay đổi bất thƣờng không đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng. Hệ thống cấp nước Hệ thống cấp nƣớc là tổ hợp những công trình có chức năng thu nƣớc, xử lý nƣớc, vận chuyển, điều hòa và phân phối nƣớc.

Hệ thống này đƣợc áp dụng cho các thành phố, đô thị, cộng đồng nông thôn, khu công nghiệp,. nhằm mục đích phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, chữa cháy. Nƣớc đƣợc lấy từ các nguồn nƣớc mặt, nƣớc ngầm qua các khâu xử lý và đƣợc chứa trong các bể chứa nƣớc sạch có dung tích lớn. Sau đó, nƣớc đƣợc bơm lên các đài nƣớc hoặc trực tiếp đi đến từng hộ sử dụng.

Một số chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt a. Màu sắc Nƣớc tự nhiên thƣờng trong suốt và không màu, cho phép ánh mặt trời có thể chiếu tới các tầng nƣớc sâu. Nƣớc sinh hoạt chủ yếu lấy từ nguồn nƣớc ngầm thông thƣờng khi vừa bơm lên nƣớc trong, không màu tuy nhiên khi để tiếp xúc với không khí một thời gian sẽ xuất hiện các phản ứng oxy hóa các ion 5 kim loại có trong nƣớc làm cho nƣớc có màu. Tùy theo màu sắc của nƣớc có thể đánh giá mức độ và nguyên nhân ô nhiễm từ đó lựa chọn phƣơng pháp xử lý hiệu quả.

Mùi vị Nƣớc tự nhiên không mùi, không vị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ