Đặt vấn đề Cây đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa L. là một loài cây thuộc chi đinh lăng (Polyscias) trong họ nhân sâm (Araliaceae). Theo y học dân gian, cây đinh lăng còn có thể gọi với cái tên khác là cây gỏi cá, nam dƣơng sâm,. Cây có nguồn gốc ở vùng đảo Polynesia ở Thái Bình Dƣơng và cây đƣợc trồng nhiều ở Indonesia, Malaysia, Campuchia, Lào… Ở Việt Nam, loại cây này từ lâu đã đƣợc trồng khá phổ biến trong nhân dân và đƣợc trồng ở vƣờn gia đình, trong đình chùa, trạm xá, bệnh viện.
để làm cảnh, làm thuốc và rau gia vị. Nhƣng phân bố chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Bắc nhƣ Nam Định, Thái Bình, Cao Bằng, Yên Bái. Theo Y học cổ truyền, rễ cây có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá đinh lăng có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy khả năng của cây có tác dụng tăng thể lực, chống stress, kích thích các hoạt động của não bộ, giải tỏa lo âu, mệt mỏi, chống oxy hóa, bảo vệ gan, kích thích miễn dịch.
Với giá trị to lớn về mặt y học cùng với đặc tính dễ trồng, dễ sống, ít bị sâu bệnh hại, dễ sử dụng mà ngày nay cây đinh lăng ngày đƣợc trồng phổ biến và rộng rãi trên cả nƣớc. Tuy nhiên điều kiện dinh dƣỡng, địa lý, trồng trọt khác nhau có thể làm thay đổi hình thái và chất lƣợng của đinh lăng dẫn đến tình trạng trồng và khai thác đinh lăng ở nƣớc ta hiện nay còn tự phát, quy mô chƣa lớn, hiện đã đƣợc trồng nhiều với quy mô lớn. Cùng với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, chúng ta cần phải chú trọng đến khâu chọn giống để đƣa ra các giống có năng suất cao, chất lƣợng tốt, có khả năng sinh trƣởng phát triển tốt, từ đó góp phần giúp cho việc nghiên cứu, nhân giống, phát triển một số mẫu giống Đinh lăng khác để cung cấp thêm cây dƣợc liệu cho thị trƣờng dƣợc liệu là cần thiết. Vì những công dụng trên nên việc đẩy mạnh trồng đinh lăng tại nhiều địa hình khác nhau 1 là cần thiết.
Xuất phát từ thực tế, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và khả năng nhân giống của một số mẫu giống đinh lăng tại Gia Lâm – Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Đánh giá đặc điểm hình thái, khả năng nhân giống bằng giâm cành của một số mẫu giống đinh lăng làm cơ sở để tuyển chọn giống đinh lăng phù hợp phát triển trong sản xuất 1. Yêu cầu - Đánh giá đặc điểm hình thái của 3 mẫu giống - Đánh giá ảnh hƣởng của vị trí cành giâm đến khả năng nhân giống 3 mẫu giống - Đánh giá ảnh hƣởng của chiều dài cành giâm đến khả năng nhân giống của 3 mẫu giống 2 PHẦN II.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây đinh lăng 2. Nguồn gốc và phân loại 2.1 Nguồn gốc của cây đinh lăng Cây Đinh lăng ( Polyscias spp.) hay còn đƣợc gọi là cây gỏi cá, nam dƣơng lâm, thuộc họ Hoa tán Apiales, họ: Ngũ gia bì hay họ nhân sâm Araliaceae, chi Đinh lăng Polyscias chi này chứa khoảng 114-150 loài. Trong các loài thuộc chi Polyscias, đinh lăng lá nhỏ Polyscias fruticosa đƣợc trồng và sử dụng phổ biến nhất.
Đinh lăng có nguồn gốc ở vùng đảo Polynésie ở Thái Bình Dƣơng. Đƣợc trồng khắp nơi từ đồng bằng đến miền núi (Đỗ Tất Lợi,2006; Đỗ Bích Huy và cs.2 Phân bố Đinh lăng có nguồn gốc ở vùng đảo Polynésie ở Thái Bình Dƣơng. Cây phân bố ở Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia, miền nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, đinh lăng cũng có từ lâu trong nhân dân và đƣợc trồng khá phổ biến ở vƣờn gia đình, đình chùa, trạm xá, bệnh viện, vƣờn thuốc để làm cảnh, làm thuốc và rau gia vị (Đỗ Huy Bích & cs.
Cây phân bố đồng đều các vùng trên cả nƣớc: Đồng bằng, trung du Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Ở miền Bắc, trồng nhiều nhất ở Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Giang. Ngoài ra, đinh lăng còn đƣợc trồng ở Tây Nguyên và miền Nam 2.3 Phân loại Đinh lăng chia thành nhiều loài khác nhau và một số loài đƣợc trồng nhiều là đinh lăng lá nhỏ ( Polyscias fruticosa); đinh lăng lá tròn ( Polyscias balfouriana Baill); đinh lăng lá trổ ( đinh lăng viền bạc) ( Polyscias guilfoylei ( Cogn Marche) Baill); Đinh lăng lá to ( đinh lăng răng) ( Polyscias filicifolia ( Merr) Baill); đinh lăng đĩa (Polyscias scutillarius ( Burm f) Merr); đinh lăng răng ( lá 2 lần kép, thân màu trắng) (Polyscias serrata Ballf) ( Phạm Hoàng Hộ,2000). Theo dân gian, đinh lăng đƣợc chia làm 2 loại chính là: Đinh lăng nếp 3 và đinh lăng tẻ.
Đinh lăng nếp là loại lá nhỏ, thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ bì dày cho năng xuất cao chất lƣợng tốt. Khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận tốt. Vì vậy khi sản xuất nên chọn loại này để trồng và hiện nay đinh lăng nếp đang trồng phổ biến, chiếm đa số diện tích trồng của ngƣời dân, Còn loại đinh lăng tẻ là loại lá to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ra ít và cứng, vỏ bì mỏng cho năng suất thấp, ít đƣợc trồng. Đặc điểm thực vật học.
Đinh lăng còn đƣợc gọi là cây gỏi cá ( vì nhân dân thƣờng lấy lá để ăn gỏi cá, những têm đinh lăng đƣợc sử dụng phổ biến hơn ) có nhiều loại nhƣng dùng để làm thuốc thì thƣờng là Đinh lăng lá nhỏ. Là một loại cây nhỏ, thân nhẵn, không có gai, thƣờng cao 0.5m có những nơi đất tốt cây cao 1,8-2m. Lá kép 3 lần xẻ lông chim, dài 20 – 40 cm, không có lá kèm rõ. Lá chét có cuống gầy dài 3-10mm, phiến lá chét có răng cƣa không đều, lá có mùi thơm đặc trƣng.
Cụm hoa hình chùy ngắn 7-18mm gồm nhiều tán, mang nhiều hoa nhỏ. Tràng 5, nhị 5 với chỉ nhị gầy, bầu hạ 2 ngăn có dìa trắng nhạt. Quả dẹt dài 3- 4mm, dày 1mm có vòi tồn tại (Đỗ Tất Lợi, 2006; Nguyễn Bá, 2010). Yêu cầu sinh thái Đinh lăng là cây sống lâu năm, có thể sống đến vài chục năm, chịu hạn khá tốt, ƣa sáng, ƣa ẩm nhƣng sẽ phát triển kém hoặc chết khi gặp úng.
Phân bố rộng khá trên cả nƣớc, ở các vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất. Cây phát triển mạnh nhất khi nhiệt độ dƣới 28oC. Cây tồn tại và phát triển tốt ở những vùng có đặc trƣng khí hậu nhiệt đới mƣa mùa. Một năm có 2 mùa rõ rệt mùa khô và mùa mƣa, thƣờng đƣợc trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Yêu cầu nhiệt độ của cây đinh lăng từ 22,2 – 23,1oC, cây đinh lăng chịu đƣợc nhiệt độ tối thấp -2,8oC và tối cao 41,4oC. Độ ẩm không khí trung bình từ 82 – 89%. Lƣợng mƣa bình quân năm từ 1420,7 – 2574,2 mm (Ngô Ứng Long, 1986). 4 Đinh lăng ƣa ẩm, có thể chịu hơi bóng, trồng đƣợc trên nhiều loại đất, có thể trồng trong chậu làm bonsai.
Cây có khả năng tái sinh vô cùng khỏe từ đoạn thân hoặc cành (Đỗ Huy Bích & cs. Tuyệt đối không trồng ở những nơi đất úng, bí chặt và không thoát đƣợc nƣớc, trƣờng hợp trồng trong vƣờn và ruộng nơi đất thấp cần lên luống cao trƣớc khi trồng. Đinh lăng phát triển tốt trên các loại đất ẩm mát và thoát nƣớc tốt, thành phần cơ giới trung bình (cát pha đến thịt), tầng đất dày trên 1 m, nhiều mùn, tơi xốp, cây thích hợp với đất feralit đỏ vàng và đất feralit giàu mùn trên núi. Cây có khả năng tái sinh dinh dƣỡng cao nên ngƣời dân trồng chủ yếu bằng cách giâm cành bánh tẻ hoặc cành già vào tháng 2 – 4 hoặc tháng 8 – 10.
Trong năm, mùa thu và mùa xuân thuận lợi cho cây sinh trƣởng phát triển nhanh nhất (Nguyễn Hữu Tiền, 2015). Thành phần hóa học Rễ và lá đinh lăng chứa saponin, alkaloid, 20 acid amin, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lƣợng, các vitamin B1, B2, C và 21,1% đƣờng (Ngô Ứng Long, 1986). Trong thành phần rễ, thân và lá có các glycosis, alkaloid, tanin, vitamin B1 và khoảng 20 loại acid amin nhƣ arginin, alanin, asparagine, acid glutamic, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, tryptophan, metionin. (Nguyễn Thới Nhâm & cs.
Năm 1991, Võ Xuân Minh cùng cộng sự đã khảo sát hàm lƣợng saponin toàn phần trong các bộ phận của cây đinh lăng với kết quả: Rễ (0,49%), vỏ rễ (1,00%), lõi rễ (0,11%) và lá (0,38%). Năm 1992, trong nghiên cứu tiếp theo, Võ Xuân Minh cho biết trong cây đinh lăng có các alcaloid, glucoside, saponin, các vitamin tan trong nƣớc nhƣ B1, B2, B6, C. Nghiên cứu cũng cho thấy rễ cây đinh lăng có chứa tới 20 acid amin (Võ Xuân Minh, 1992). 5 Năm 1992, Lutomski và cộng sự đã cô lập từ rễ 5 hợp chất thuộc loại hợp chất polyacetylen: (8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3,10-diol; (8E)-heptadeca- 1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on;(8Z)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on; falcarinol và panaxydol (Lutomski & cs.
Bên cạnh đó, năm 2007, tác giả Nguyễn Trần Châu và cộng sự đã xác định đƣợc hàm lƣợng acid oleanolic saponin triterpene (1,65%) có trong lá của đinh lăng. Năm 2012, Viện hóa sinh biển - Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam đã phân lập đƣợc 3 hợp chất flavonoid từ lá đinh lăng là quercitrin, afzelin và kaempferol-3-Orutinosid (Nguyễn Thị Luyến & cs, 2012). Trần Thị Hồng Hạnh cùng cộng sự đã phân lập đƣợc 3 saponin triterpen từ lá đinh lăng. Trong đó 3-O-{𝛽-D-glucopyranosyl-(1→2)-[𝛽-D- glucopyranosyl-(1→4)]-𝛽-D-glucuronopyranosyl} oleanolic acid 28-O-𝛽-D- glucopyranosyl-(1→2)-𝛽-D-galactopyranosyl ester là saponin đƣợc phân lập lần đầu tiên, và đƣợc đặt tên là polyscioside I (Tran Thi Hong Hanh & cs.
(2019) phân lập từ lá cây đinh lăng đƣợc 3 năm tuổi trồng tại An Giang và nhận danh cấu trúc 3 hợp chất là: 3-o-β-D- glucuronopyranosyloleanolic 28-o-β-D-glu-copyranosyl ester; ladyginosid A và đặc biệt là acid 3-o-[β-D-glucopyranosyl-(14)]-β-D-(6-o- methyl)glucuronopyranosyl oleanolic lần đầu tiên đƣợc tìm thấy. Caroten trong lá đinh lăng gồm có 18,376% β-carotene và 50,762% lutein, tỷ lệ lutein này cao hơn so với nhiều loại rau củ khác nhƣ lá hành (33,326%), rau đay (28,988%), lá diếp cá (25,943%). Lutein chủ yếu có màu da cam, thƣờng gặp trong rau quả. Lutein có khả năng phản ứng với các gốc tự do, bảo vệ tế bào khỏi bị oxi hóa, chống ung thƣ da, lão hóa da, lão hóa thủy tinh thể, làm giảm hiện tƣợng xơ vữa động mạch (Hà Thị Bích Ngọc, 2007).
Tác dụng của cây Đinh lăng Đinh lăng có tác dụng tăng lực.