CHƯƠNG 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CỨU Tái sinh rừng là một trong những vấn đẻ quan trọng và cấp thiết trong quá trình tạo rừng và phục hồi lại rừng, vì thế mà đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị của nhiều tác giả trong nước cũng như ở nước ngoài. Trên thế giới k Vấn đề tái sinh rừng đã được nhiều nhà khóa. foc trên thế giới quan tâm, đã có nhiều công trình nghiên cứu tái sinh.tự nhiên, tái sinh nhân tạo, tái sinh ôn đới, tái sinh tại các khu rừng nhiệt đới. do giới hạn đề tài nên tôi chỉ đề cập đến các công trình nghiên cứu tại các khu rừng Nhiệt đới, trên thế giới việc nghiên cứu tái sinh rừng đã trải qua hàng trăm năm, nhưng đối với rừng nhiệt đới vấn đền này chỉ mới dễ cập từ những năm'1930 trở lại đây.
Về phương pháp điều tra cây ti HH nhềt Tắc giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống do Lơdermilk (1927) đề nghị, với diện tích ô đo đếm thường là 1m” ~ 4m. Diện tíchô đo đếm như vậy thuận lợi trong điều tra đo đếm nhưng dung lượng phâi đủ lớn thì mới thể hiện được hiện tượng tái sinh. Phương pháp điều tratheo giải mới phản ánh được hiện tượng tái sinh, phương pháp điều tra theo giải, hẹp cũng được sử dụng với ô đo đếm có diện tích 10m?-100m”, phương pháp này trong điều tra tái sinh khó xác định quy luật phân bồ lớp cây tái sinh trên 'mặt đất [1]. 6 chau Phi theo-Taylon (1954), Bemard (1955), cho rằng: tái sinh trong rù ot thiếu hụt có thể bổ sung bằng trồng với phương thức chặt dần tái ee ái sinh ở Nigieria và Gana.
Ngược lại một số tác gia châu Á như: vất 95 Budowski (1956), Catinot (1965), cho rừng dưới tán rừng nhiệt đón ¡chung có đủ lượng cây tái sinh có gía trị kinh tế thì biện pháp chủ yếu là bảo vệ. Đối với rừng mưa nhiệt đới có nhiều công trình nghiên cứu cách thức xử lý lâm sinh tại châu Phi, châu Mĩ, châu Úc. riêng khu vực Đông Nam Á chưa được nghiên cứu nhiều. Kết quả nghiên cứu của G.Baur đã chỉ ra rằng sự thiếu hụt ánh sáng đã ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây con (2].
Năm 1938 khi nghiên cứu ở châu Phi A.obrenvin nhan thấy cây con của những loài cây ưu thế trong rừng có thể cực hiếể hoặc vắng hẳn. Đây là hiện tượng không sinh con đẻ cái của cây mẹ trong rừng mua, mat khác trong rừng mưa thì tổ thành loài cây thay đổi theo không gian Và thời gian, tổ hợp các loài sẽ được thay thế bằng loài cây khác hẳn. Nếu xết trên một diện tích nhỏ thì tổ hợp cây tái sinh không mang tính chấtkế thừa, nhưng nếu xét trên một phạm vi rộng lớn thì tổ hợp các loài. cây sẽ kế thừa nhau theo phương thức tuần hoàn.
Thành công của A. obrevin đã khái quát được hiện tượng bức kham tái sinh nhưng phần lí giải của ông còn hạn chế, ông coi đói là “Hiện tượng thuần túy ngẫu nhiên” và không lý giải nguyên nhân nào dẫn đến việc hình thành các tổ hợp loàitái sinh khác. Vì vậy mà kết qủa nghiên cứu của ông còn thiếu tính thuyết phuc [3].Richrd (1952), đã tiến hành nghiên cứu rừng mưa nhiệt đới và cho xuất bản cuốn “Rừng rau nhiệt đới”, qua quá trình nghiền cứu cho thấy, tái sinh rừng mưa nhỉgtd vô cùng:"phức tạp, ông nghiên cứu cho thấy trong các ô dạng bản, cây tấi sinh tự.nhiên phân bố theo cụm một số khác phân bố Eoisson [4]. Ở Việt Nam Rừng nhiệt đới ở Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động bởi con người nên những quy luật tái sinh bị xáo trộn nhiều.
Đã có nhiều công trình 3 nghiên cứu về tái sinh rừng nhưng tổng kết thành quy luật cho từng loại rừng thì còn ít. Việt Nam được xếp vào một trong những nước có nền lâm nghiệp còn non trẻ, nghiên cứu tái sinh rừng chỉ mới bắt đầu từ những năm 1960. Trong thời gian từ năm 1962 -1969, viện điều tra quy hoạch rừng đã điều tra tái sinh rừng tự nhiên theo các loại hình thực vật.ưu thế, rừng thứ sinh ở Yên Bái năm (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng “Bình (1969), Lạng Sơn (1969). Đáng chú ý là kết quả điều tra ở vùng sông Hiếu Nghệ An (1962- 1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình.Từ kết quả điều tra tái sinh dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1975) đã tong kat va rut ra nhan xét: Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mãng ñhững điểm tai sinh của rừng nhiệt đới dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét, tạo nên số cây phân bố không đồng đều trên mi đất rừng; 'Với những kết quả đó, tác giả đã xây dượng biểu đánh giá tái sinh, áp dụng cho những đối tượng rừng lá rộng, miền Bắc nước ta [6].
Á ` Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978), khi nghiên cứu về thảm thực vật rưng Việt Nam đã kết luận, ánh sing là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sính tự nhiên trong thảm thực vật rừng. Nếu các điều kiện khác như: đấtrăng, nhiề độ, độ ẩm, a chưa thay đồi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có ổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong jan mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nh: lv sinh và môi trường [7]. Năm 1990 Mi 10a hoc Lam Nghiép Viét Nam da thuc hién đề tài cấp nhà nước về “ Khôi phục rừng và phát triển Lâm Nghiệp” công trình nghiên cứu này được kết hợp với các cơ sở sản xuất trong nghành: Cầu Hai- Phú Thọ, Qùy Châu- Nghệ An, Con Hà Nừng - Kon Tum. Các kết quả thực tiễn từ thực hiện chương trình 327 trước đây đã khẳng định những biện pháp lâm sinh này có hiệu quả và dễ áp dụng [8].
4 Vũ Tiến Hinh (1991), nghiên cứu đặc điểm qúa trình tái sinh của rừng tự nhiên ở Hữu Lũng — Lạng Sơn và vùng Ba Chẽ- Quảng Ninh nhận xét: hệ số tổ thành theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ chặt chẽ. Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng cao thì hệ số tổ thành tầng tái sinh của những loài đó cũng tăng theo [9]. Theo Phùng Ngọc Lan (1986), do cây mạ có tính chịu bóng nên một số lượng lớn cây tái sinh phân bố chủ yếu ở cấp chiều €ao thấp Œừ một số loài cây chịu bóng cực đoan, tổ thành loài cây tái sinh dưới tán rừng ít nhiều đều lặp lại gần giống tổ thành tầng cây cao của quần thể [I0]. ` Nguyễn Văn Thường (1991), đã tổng kết và đưa ra Yết luận về tình hình tái sinh tự nhiênở một số khu rừng ở miền Bắc: Viet Nam như sau: hiện tượng, tái sinh dưới tán rừng của những loài cây ¿ õ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ.
Sự phân bố cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ chiếm ưu thế rõ rệt so với số cây ở các cấp tuổi khác [11]. Phạm Xuân Hoàn, Ngô Quang Đê (1995), quy phạm: “ Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh két hop véi tring bd sung” (QPN 21-98). Day là quy phạm có tính đột phá, giúp cho việc thực hiện hóa khái niệm “Khoanh nuôi rừng” và đề cập đến ¿ một số quy luật rõ nét hơn về đối tượng, giới hạn khoanh nuôi phục:hồi rừng [12]. Qua đây ta thấy nghiên cứu về tái sinh trên Thế Giới và Việt Nam đã có rất nhiều le = đem lại nhiều kết quả và cung cấp những kiến thức nhất định trong v ak các:biện pháp khoanh nuôi phục hồi rừng, nhưng ta thấy chưa có se dds cứu nào về tái sinh rừng tự nhiên tại khu vực rừng phòng hộ uyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, vậy đề tài được tiến hành để cung ape i cụ thể về thực tế từ đó đưa ra được các biện pháp lâm sinh tác động Vào rừng hợp lý và đem lại kết quả cao.
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TE XA HOI 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý, địa hình - Khu vực rừng phòng hộ huyện Anh Sơn nằm ở phía tây tỉnh Nghệ An cách thành phố Vinh 120 Km, thuộc vùng đệm Khu bag thiên nhiên Pù Mát, nằm trên 2 huyện Anh Sơn và Thanh Chương. Có toạ độ địa lý: Vĩ độ từ 18925' đến 19010'4ï độ Bắc.
Kinh độ từ 104” 55” đến 105905' kinh độĐồng, i Phia Bac giáp huyện Tân Kỳ, huyện Quỳ Hợp; =” Phía Đông giáp huyện Đô Lương; Phía nam giáp huyện Thanh Chươn 3 và nước bạn Lào; Phía Tây giáp huyện Con Cuông. \ - Về địa hình, địa thế: Đ Khu vực rừng phòng hộ bao gồm cáê xã trung du và miền núi nên phần lớn đất đai có độ đốc không, lớn. Chi có một phan diện tích giáp nước bạn Lào là độ dốc lớn còi lại phần lớn là các hệ thống đổi bát úp rất thuận tiện cho sản xuất lâm nghiệp. Hệ thống sông suối phân bố đều trên toàn bộ huyện (các sông lớn'có sông, Lam và các sông nhỏ như sông Con, sông Giăng) đã tạo sự tướng đồng về khí hậu.
Khí hậu, thuỷ văn c” - Huyệ ằm trong khu vực Nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm chịu ảnh hưởng, 'gió Đông Bắc và có những đặc điểm sau: - Về độ: ệt Dong rất lạnh, nhiệt độ có thể xuống tới 4,8°C và thường kèm theo sương muối. Mùa Hè thường xuyên xuất hiện gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng, nhiệt độ có ngày lên tới 42,5°C, nhiệt độ trung bình 225°C. - Độ ẩm không khí tương đối, bình quân 87,7% - Lượng mưa bình quân năm 1.820 mm, cao nhất 1.900 mm, tập trung tháng 8 và tháng 9 thấp nhất 400 mm vào tháng 4 và tháng 6. Hệ thống sông suối, hồ đập phân bé tương đối đồng đều ở các xã trong huyện, sông lớn có sông Lam chảy qua địa phận huyện Anh Sơn dài 35 km, phía Nam có sông Giăng, phía Tây Bắc có sông Con và hệ thống hồ nhân tạo tạo nên hệ thuỷ, thuận lợi cho việc giao thông đường.
huỷ, sung cấp nước sinh hoạt và sản xuất trong khu vực. Với những đặc điểm về khí hậu và thuỷ văn trên đây, cần phải xây dựng phương án ph chống. cháy rừng, phòng chống lũ lụt, xác định mùa vụ, chọn giống cây.trồng, a nuôi cho phù hợp.