Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài Chè là cây trồng có giá trị kinh tế, chính vì vậy trong những năm gần đây cây chè luôn được quan tâm và đầu tư phát triển trên mọi phương diện nhằm khuyến khích người trồng chè, tăng thu nhập cho người sản xuất. Cây chè là một loại cây trồng mà đối tượng thu hoạch là búp (cơ quan sinh dưỡng) do vậy để có năng suất và chất lượng tốt cần lựa chọn các giống phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu của vùng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật, kích thích quá trình sinh trưởng tạo búp mới. Trong nghiên cứu giống phù hợp với điều kiện sinh trưởng phát triển của vùng cần phải theo dõi một số chỉ tiêu của giống cho năng suất chất lượng nhất. Lựa chọn các giống chè phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng tác động đến sinh trưởng phát triển, đến năng suất, chất lượng chè.
Tuy nhiên tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, thời gian gần đây mới bắt đầu mở rộng diện tích trồng chè. Nhất là mới đưa vào trồng thử nghiệm một số giống chè chất lượng cao. Tuy nhiên, việc lựa chọn giống phù hợp còn nhiều hạn chế. Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống phù hợp với điều kiện của vùng.2 Nguồn gốc, phân loại của cây chè 1.1 Nguồn gốc của cây chè Nguồn gốc của chè là một vấn đề phức tạp, cho đến nay còn có nhiều ý kiến khác nhau, dựa trên cơ sở lịch sử, khảo cổ học, thực vật học.
Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhât là: - Cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc: n 7 Theo Lê Thất Khương và cộng sự (1999)[12]: Daraselia (Gruzia) các nhà khảo cổ học như Trung Quốc như: Succheeupen, Jaoding,… đã giải thích sự phân bố của cây chè như sau: Tinh Vân Nam – Trung Quốc là nơi bắt đầu hàng loại các con sông lớn đổ về những con song của Lào và Việt Nam, Lào, Campuchia, Minanma. Đầu tiên cây chè được mọc ở Vân Nam, sau đó hạt chè di chuyển theo dòng nước đến các nước trên và lan truyền sang nhiều nước khác. Cũng theo Daresila thì 1 luận điểm nữa có cơ sở khoa học là dựa theo học thuyết “Trung tâm khởi nguyên của cây trồng” của Vaviop thì cây chè còn có nguồn gốc ở Trung Quốc. Đào Thừa Chân ( Trung Quốc) (1951) cho rằng: Nơi nguyên sản của cây chè là ở Vân Nam – Trung Quốc, chúng đã di chuyển về phía Đông qua tỉnh Tứ Xuyên, bị ảnh hưởng của khí hậu nên biến thành giống chè lá nhỏ, di thực về phía Nam và Tây Nam - Ấn Độ, Mianma, Việt Nam biến thành giống chè lá to.
- Cây chè có nguồn gốc ở vùng Atxam (Ấn Độ): Theo Nguyên Ngọc Kính (1979) [9] : Robest Buruce (Anh) (1823) đã phát hiện ra một số cây chè hoang dã ở Atxam (Ấn Độ) thuộc loại thân gỗ lớn, khác với cây chè thân bụi Linne thu thập ở Trung Quốc. Sau đó qua nghiên cứu các học giả người Anh cũng cho rằng: Ấn Độ là nguyên sản của cây chè vì trong kho tang cổ thụ của Trung Quốc không có ghi nhận gì về cây chè cổ thụ trong đất nước Trung Quốc và giống chè ở Trung Quốc cũng như Nhật bản hiện nay là thu thập từ Ấn Độ. - Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam: Những công trình nghiên cứu của Djemukhade (1982) [5] về sự tiến hóa của cây chè bằng cách phân tích chất Catechin trong chè mộc hoang dã, chè do con người trồng ở các vùng khác nhau trên thế giới (từ Tứ Xuyên, Vân Nam – Trung Quốc), các vùng chè cổ ở Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, n 8 Lạng Sơn,…) tác giả kết luận: cây chè cổ ở Việt Nam tổng hợp các chất Catechin đơn giản hơn nhiều cây chè có nguồn gốc Trung Quốc (1961), các chất Catechin phức tạp ở cây chè Vân Nam nhiều hơn cây chè cổ Việt Nam. Từ những biến đổi sinh hóa này ở cả lá chè dại và lá chè được trồng trọt chăm sóc cho phép đi đến một kết luận mới là “nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam”.
Các quan điểm trên tuy có sự khác nhau về địa điểm nhưng đều có sự thống nhất: Nguyên sản của cây chè có nguồn gốc từ châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm.2 Phân loại của cây chè Tên khoa học của cây chè được thống nhất là Camellia sinensis (L) O.Kuntze và có tên đồng nghĩa là Thea sinensis L.[27] Việc phân loại chè dựa vào các cơ sở sau : - Cơ quan sinh dưỡng: Loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán, hình dạng và kích thước của lá, số đôi gân lá. - Cơ quan sinh thực: Độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của đầu nhụy cái. - Đặc tính sinh hóa: Chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin, mỗi giống chè có hàm lượng tanin biến đổi nhất định (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [8]. Chè Camellia sinensis được chia làm 4 thứ: * Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var.bohea) Đặc điểm: Cây bụi, thân thấp, phân cành nhiều, lá nhỏ dày, nhiều gợn sóng màu xanh đậm.
Lá dài 3,5-6,5 cm có 6-7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều, búp nhỏ hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường, khả năng chịu rét ở nhiệt độ (120C-150C) phân bố chủ yếu ở miền Đông Nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng chè khác. * Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var.marcophyla) n 9 Đặc điểm: Thân gỗ nhỏ, cao 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, lá to trung bình chiều dài 12-15cm, rộng 5-7 cm, màu xanh nhạt, bóng. Răng cưa sâu không đều,đầu lá nhọn, trung bình có 8-9 đôi gân lá rõ. Năng suất cao, phẩm chất tốt, nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc).
* Chè Shan (Camellia sinensis var.Shan) Đặc điểm: Thân gỗ cao 6-10m, lá to và dài 15-18cm, có màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày. Tôm chè nhiều lông tơ trắng mịn trông như tuyết nên thích ứng ở điều kiện ấm, ẩm, địa hình cao. Năng suất cao, phẩm chất tốt. Nguyên sản ở Vân Nam (Trung Quốc) miền Bắc Mianma và Việt Nam.
* Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica) Đặc điểm: Thân gỗ cao tới 17m, phân cành thưa, lá dài 20-30cm mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng lá hình bầu dục có trung bình 12-15 đôi gân lá. Rất ít hoa quả, không chịu được rét hạn. Năng suất phẩm chất tốt. Trồng nhiều ở Ấn Độ, Mianma, Vân Nam (Trung Quốc) và một số vùng khác (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [6].3 Phân bố của cây chè Sự phân bố của cây chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu.
Các kết quả nghiên cứu đều đì tới một kết luận chung: vùng khí hậu nhiệt đới là thích hợp cho cây chè. Tuy nhiên do KH-KT ngày càng phát triển, đã lai tạo,chọn lọc nhiều giống chè khác nhau, và được trồng rộng rãi trên thế giới. Theo Đỗ Ngọc Quý (1980) [11], hiện nay chè được phân bố khá rộng từ 42độ vĩ Bắc Pochi (Liên Xô cũ) đến 27độ Nam Coriente (Achentina). Sự phân bố của cây chè tùy theo điều kiện đất đai và địa hình cũng có sự khác nhau.
Đất trồng chè tốt phải có phản ứng chua, nhiều mùn, thoát nước tốt và có độ dốc thoải. Ảnh hưởng của độ cao đã hình thành nên các vùng chè với những giống chè khác nhau và chất lượng khác nhau. Các nhà khoa học đều cho rằng: chè trồng ở những vùng có độ cao lớn hơn so với mặt nước n 10 biển thường có chất lượng tốt hơn chè trồng ở vùng thấp. Chè trồng ở Hoàng Sơn (An Huy – Trung Quốc), vùng Dajilling (Ấn Độ) có độ cao lớn so với mặt nước biển, có chất lượng nổi tiếng thế giới.
Ở Việt Nam chè có chất lượng cao được trồng ở Hà Giang, Mộc Châu, Nghĩa Lộ - Yên Bái. Về điều kiện khí hậu, chè sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 15 – 20 độ C, tổng nhiệt độ hàng năm vào khoảng 8.000 0C, lượng mưa trung bình hang năm 1.000 mm, độ ẩm đất 70 – 80%. Sự phân bố chè theo những điều kiện tự nhiên khác nhau đã tạo nên những vùng chè có chất lượng khác nhau, tạo nên hương vị riêng của mỗi vùng.[7] Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [9], các vùng sản xuất chè chủ yếu ở Việt Nam: - Vùng chè Tây Bắc - Vùng chè Việt bắc – Hoàng Liên Sơn - Vùng chè Trung Du – Bắc Bộ - Vùng chè bắc Trung Bộ - Vùng chè Tây Nguyên 1. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước 1.
Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 1. Những kết quả nghiên cứu về giống chè Công tác chọn tạo giống trong chè có vai trò rất quan trọng. Việc chọn lọc, lai tạo giống mới không chỉ quyết định tới khả năng cho năng suất, chất lượng mà còn ảnh hưởng tới khả năng mở rộng địa bàn, chính vì vậy công tác nghiên cứu chè được quan tâm từ rất sớm. Năm 1905, trạm nghiên cứu chè đầu tiên được thành lập trên đảo Java (Indonexia).
Đến năm 1913, Cohen Suart đã phân biệt các giống chè dựa trên hình thái, nghiên cứu sinh lý của sự ra hoa, kết quả, xác định được những dấu n 11 hiệu đầu tiên của xự lựa chọn với những tương quan cơ bản của các yếu tố cấu thành năng suất.[9] Các nước có thành tựu nổi bật trong việc lựa chọn giống mới là: Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1994) [24]: In donexia bắt đầu trồng chè vào năm 1684 nhưng không thành công, đến năm 1872 mới thành công trên giống Asam nhập từ Srilanka. Đến nay Indonexia là một trong năm nước có diện tích trồng chè lớn trên thế giới, 20 năm trở lại đây họ đã tích cực chọn tạo giống mới cao sản và năm 1988 đã có các dòng chè vô tính GMB-1, GMB-2, GMB-3, GMB-4, GMB-5 có sản lượng cao. Ấn Độ là nước đứng thứ hai trên thế giới về diện tích chè nhưng lại là nước đứng đầu thế giới về sản lượng chè. Có được thành tích trên do Ấn Độ luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới vào sản xuất.
Theo PGS Đỗ Ngọc Quý và cs (2000) [19] thì từ những năm 50 của thế kỷ 20 Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt trong đó có 102 giống chè được nhân giống bằng phương pháp vô tính. Đến năm 2009, Ấn Độ đã có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt. Trong đó có trên 20% giống trồng bằng phương pháp giâm cành. Trung Quốc có lịch sử trồng chè từ rất sớm.